Trôi miên man về đâu một nhành hoa mới nở…

Tiêu đề chỉ mang tính minh họa, không liên quan đến bài viết.

Độ này trời hay mưa. Trong lúc lăn tăn giữa mấy đôi giày để đi những ngày mưa, tôi nhận ra là tôi có ký ức rất mơ hồ về mùa mưa năm ngoái. Hè năm ngoái mưa thế nào nhỉ? Năm ngoái tôi đâu có mất thời gian tần ngần trước mấy đôi giày đâu nhỉ? Năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ? Những ngày mưa năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ?

Cảm giác rất lâu rồi cuộc sống của tôi mới được ổn định đến độ tôi có thể so sánh năm hiện tại với năm trước. Dạo này gặp bạn bè tôi rất hay khoe là tôi đã thoát khỏi cái cảnh lúc nào cũng muốn bỏ việc. Thực tế là từ ngày ra trường tới giờ, hơn một chục năm, năm nào cuộc sống của tôi cũng có thay đổi về công việc.

Tôi biết nhiều người cũng luôn muốn nhảy việc, nhưng họ không nhảy. Đôi khi họ cũng muốn nhảy việc nhiều như tôi, hoặc không nhiều thì cũng một đôi lần. Nhưng nhảy việc nhiều cũng ngán như làm mãi một nơi vậy. Năm 30 tuổi, tôi bỏ việc và chán ngán tới mức chả buồn đi tìm việc, ai gọi gì thì làm, sống chết đói hơn một năm trời, cho tới khi một công việc từ trên trời rơi tòm xuống đầu trong lúc tôi cũng bắt đầu ớn cái cảnh phải vay mượn gia đình để sống. Tôi nhận công việc ấy đơn giản là vì tiền, thay vì cứ kén cá chọn canh như trước đây.

Cuộc đời thật khó lường. Cái công việc trên trời rơi xuống mà tôi cũng chẳng trông đợi gì ở nó ngẫu nhiên lại trở thành một công việc phù hợp với tôi, với lối sống hiện tại của tôi, và tới nay gần một năm rưỡi tôi vẫn muốn tiếp tục. Hồi mới nhận việc, tôi có nói với sếp, tui chưa làm ở đâu được tới hai năm cả, giờ nếu tui làm cho ông được tới hai năm là coi như lập được kỷ lục mới đó. Ông sếp gật gù, được để coi sao. Biết ổng hiền, tôi làm tới: ông ráng làm sếp cho tốt nha. Ổng cười ha hả. (Thật ra tôi chỉ tỏ vẻ nguy hiểm, còn sếp tôi mới “nguy hiểm” thật. Ổng chả chấp cái loại như tôi.)

Hiểu được mình thích gì với tôi rất chi là khó. Tôi biết nhiều người chỉ khịt mũi một cái là biết họ có thích hay là không. (Con mèo nhà tôi cũng vậy.) Tôi thì thích khám phá cái mới, nên khịt mũi một cái thì cái gì mới lạ tôi cũng thấy thích hết. Cơ chế của tôi không phải là khịt mũi, cơ chế của tôi là phải trải nghiệm rồi mới biết được.

Thật ra trước đây tôi không nghĩ được như vậy, tôi học được điều này là nhờ đọc các trang phân tích tính cách, ví dụ như thế này:

Like other NP types, ENFPs place high value on their personal experiences when it comes to discerning truth. Though not to the same extent as ESFPs, for ENFPs, “experiencing is believing.” Because of the high value they place on their personal experiences, ENFPs may feel they cannot fully know themselves until they have tried just about everything (contrast this with INJs, who feel they know whether they will like something without needing to experience it).

Nguồn: http://personalityjunkie.com/enfp/

Còn trẻ thì trải nghiệm nhiều thứ thì vui, nhưng cái rủi là nhiều khi trải nghiệm chỉ mang lại một kết luận là mình không thích một thứ gì đó, chứ cũng không nói được cho mình biết là mình thích gì. Không phải A có thể là B, có thể là C, mà cũng có thể là D. Nhưng B hay C hay D thì tôi không biết. Vậy nên ngoài việc ngẫm lại thật kỹ những trải nghiệm trước đây, tôi đành phải cậy nhờ vào dòng đời xô đẩy, kiên nhẫn với những trải nghiệm mới.

Công việc hiện tại của tôi, mà tôi nghĩ là có thể gắn bó, ít nhất là vài năm nếu có cơ hội, chẳng giống như những gì tôi đã từng thử hình dung về một công việc yêu thích. Hồi đầu tôi vẫn có cảm giác mình đang làm gì sai sai, rằng đây không phải lĩnh vực mình muốn cống hiến, không phải nhóm mình muốn target, và một ngày nào đó những cái thôi thúc thuở ban đầu kia cũng sẽ trỗi dậy và lôi tuột tôi sang một công việc khác.

Nhưng công việc này mang tới cho tôi một ích lợi mà tôi không có nhiều từ các công việc trước đây, đó là sự trưởng thành. Hồi mới ra trường đi làm tôi cảm thấy không làm chủ được công việc và nghĩ là do mình không được học hành bài bản tử tế. Rồi tôi đi học. Học rồi lại về đi làm thì tôi lại thấy mình loay hoay trong những mớ bòng bong của thế giới bên ngoài sách vở. Chỉ đến khi làm công việc này tôi mới dần dần học được một số kỹ năng cần thiết để làm việc, mà người ta vẫn gọi là kỹ năng mềm đó. Điều đó giúp tôi chủ động hơn trong công việc và không cảm thấy rối ren nữa. Tôi cũng học cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanh thay vì thảy lên bàn sếp một cái đơn xin nghỉ việc khi thấy quá tải và stress.

Thôi thì cũng tạm biết thế. Mai này không phải tự xin nghỉ mà bị sếp tống cổ đi thì lại từ từ tính tiếp. Ít ra từ giờ cũng bắt đầu hiểu rõ hơn một công việc như thế nào thì phù hợp với mình, hy vọng không còn trở lại những ngày tháng cứ lồng lộn lao vào những công việc đầy mệt mỏi và nhiều áp lực.

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…

Tôi cuộn cuộc sống lại

Tôi cuộn cuộc sống lại
Bỏ vào những câu thơ
Rồi cuộn những câu thơ
Bỏ vào trong hộc tủ

Tôi cuộn lại ao tù
Cuộn trời cao bể rộng
Cuộn luôn cả cầu vồng
Cuộn hết cả đá núi

Tôi lại cuộn bóng tối
Cùng với những ban mai
Tôi cuộn cả ngày mai
Khi cuộn lại quá khứ

Tôi cuộn mọi nỗi nhớ
Chẳng biết bỏ vào đâu
Cuộn thêm cả buồn đau
Lại càng không chỗ chứa

Chắc tôi cuộn hơi thừa
Hộc tủ thì bé tẹo

Để gió mang mùa thu đi

Nhắm mắt lại đi em
Để lắng nghe tiếng gió
Nhắm mắt lại đi em
Mùa thu đã hết giờ

Nhắm mắt lại mà mơ
Về lá vàng lá đỏ
Nhắm mắt lại mà chờ
Gió không xào xạc nữa

Thu đi
em đừng giữ
Lá bay
em đừng buồn
Nắng tắt
em đừng khóc

Để gió mang mùa thu đi

Hà Nội, cuối thu 2016

Nếu không đọc sách

Nếu không đọc sách, có lẽ tôi sẽ cảm thấy rất cô đơn.

Đó là điều tôi nghĩ khi đọc một cuốn sách lúc chiều nay.

Đó là một cuốn sách kỹ thuật để phục vụ cho công việc, nhưng nó giúp tôi mở mắt ra rất nhiều. Nó giải thích được nhiều điều về những kinh nghiệm trước đây của tôi. Nó cũng nói cho tôi biết những gì trực giác tôi đã từng mách bảo, những bước tôi đã từng mày mò dò dẫm là đúng hay là sai. Nó cũng nói với tôi về những sai lầm thường gặp, về một vài kinh nghiệm để tránh những sai lầm đó. Giá như khi đi làm có một senior giảng giải và chỉ bảo cho tôi những điều này thì có lẽ tôi đã không nhảy việc nhiều đến vậy :D. Cách đây hơn tháng chuyện phiếm với mấy bạn đồng nghiệp tôi có nói một lý do tôi nhảy việc nhiều là bởi tôi thường cảm thấy cô đơn trong công việc.

Nhìn rộng ra, chẳng phải mỗi trong công việc mà trong cuộc sống nói chung sách vở với tôi không phải chỉ là một thú giải trí giết thời gian mà nó đã chia sẻ và nâng đỡ tinh thần cho tôi rất nhiều . Khi vui, tôi đọc sách. Khi buồn, tôi cũng đọc sách. Khi hoang mang, tôi lại càng tìm đến với sách. Ruột gan tác giả dốc ra thành con chữ thì tôi cũng mang tim phổi mình ra mà đọc chứ không phải đọc bằng não bộ với các chiến thuật đọc nhanh hiểu nhiều. Sách chia sẻ với tôi những điều tôi đã rõ mười mươi nhưng cũng chia sẻ được cả với tôi những điều tôi còn thấy mơ hồ hư ảo.

Nếu không đọc sách, biết đâu tôi cũng đã gia nhập một giáo phái cực đoan nào rồi cũng nên.

Ý nghĩa của giải Nobel Văn học

Sự so sánh sau đây là rất khập khiễng, nhưng về một khía cạnh nhỏ nào đó, tôi thấy giải Nobel Văn học cũng không khác gì một giải thưởng Hoa hậu. Tuy những người được đề cử cho this noble Nobel không tự ghi tên mình vào “cuộc thi” tưởng tượng này như các chị em (hay như các nhà văn Việt Nam phải tự nộp đơn xin xét giải thưởng tôn vinh gì gì đó), thì rốt cục người được trao giải đều là lựa chọn của một nhóm nhỏ những người được gọi là chuyên gia. Vậy nhưng công chúng lúc nào cũng hồi hộp theo dõi kết quả của sự lựa chọn ấy và luôn luôn chia thành hai “phe” lớn mỗi khi quyết định cuối cùng được đưa ra: ủng hộ hoặc phản đối. Giữa hai phe lớn này là hai nhóm nhỏ hơn: hoang mang chả biết đằng nào mà lần hoặc thấy chả ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới cả.

Cách đây năm năm (2011), nhà văn, dịch giả, và cũng là nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn học và dịch thuật Tim Parks có viết một bài mà tôi tin là tựa ban đầu của nó là “Why the Nobel Prize in Literature is silly” (Vì sao giải Nobel Văn học là ngớ ngẩn), sau đã được sửa thành “What’s wrong with the Nobel Prize in Literature” (Vấn đề của giải Nobel Văn học) cho dễ nghe hơn. Tôi không hẳn đồng ý với ông Parks về các lý lẽ mà ông đưa ra trong bài viết này, nhưng tôi lại hết sức đồng tình với quan điểm cơ bản của ông, đó là không nên quá coi trọng giải Nobel Văn học (“our foolishness at taking it seriously”).

Xét cho cùng, một cái mác của giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn từ không thích chuyển sang thích một tác giả nào đó không? KHÔNG! Và thiếu đi một cái mác giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn bớt yêu quý một tác giả ưa thích của mình không? KHÔNG nốt! Nếu bạn trả lời có cho một trong hai câu hỏi trên thì xin hỏi bạn đọc sách vì điều gì vậy?

Nếu bạn cảm thấy tiếc nuối vì nhà văn bạn yêu thích không được giải Nobel Văn học? Tốt nhất bạn hãy viết thư cho nhà văn ấy để hỏi ông ấy hay bà ấy có mong muốn được giải Nobel Văn học như bạn mong muốn ông ấy hay bà ấy được giải hay không. Và rất có thể trước khi viết thư, bạn hãy dành chút thời gian tìm hiểu xem vì sao Jean-Paul Sartre đã từng viết một bức tâm thư rất dài gửi tới Hội đồng chấm giải để giải thích tại sao ông từ chối nhận giải thưởng này.

Vậy ý nghĩa của giải Nobel Văn học là gì?

Trước hết, như mọi giải thưởng khác, giải Nobel Văn học tôn vinh một tập hợp giá trị nào đó, mà ở đây nôm na là giá trị của văn học. Nghĩa là những tác giả nào theo Hội đồng chấm giải được xem là tạo ra những giá trị đáng quý cho văn học. (Dù những tiêu chí lựa chọn cụ thể chưa bao giờ được công bố mà chỉ thỉnh thoảng lại thấy một thành viên hội đồng lên tiếng giải thích rằng tiêu chí này hay tiêu chí nọ mà công chúng đồn đoán (ví dụ, ảnh hưởng chính trị) không phải là tiêu chí mà họ xem xét để trao giải.)

Tuy tiêu chí không được công bố với công chúng, phải thừa nhận rằng xưa giờ giải Nobel Văn học toàn được trao cho những người viết có chất lượng. Bởi vậy mà người ta tin vào kết quả lựa chọn của Hội đồng chấm giải. Kết quả là, giải Nobel Văn học đã và đang mang tính định hướng công chúng rất lớn. Các con số thống kê chỉ ra rằng cứ mỗi khi kết quả của giải Nobel Văn học được công bố thì ngành xuất bản bắt đầu đổ xô đi xuất bản, tái bản, và dịch sách của những nhà văn được giải còn công chúng thì đổ xô đi mua và tìm đọc, kể cả với những người đã nổi tiếng ngất trời và giàu sụ như Bob Dylan! Giữa một biển tác giả tác phẩm, vàng thau lẫn lộn, biết chọn ai bây giờ? Thôi thì đọc thử một ông/bà được giải Nobel xem thế nào.

Nhưng dù có bao nhiêu người hết sức tin tưởng vào Hội đồng chấm giải Nobel, đây vẫn là câu chuyện về giá trị nên hiển nhiên là mọi lựa chọn của Hội đồng đều làm hài lòng một phần công chúng và không làm hài lòng một phần khác. (Chỉ là nhóm công chúng không hài lòng có làm ầm ĩ lên không mà thôi.)

Vậy khía cạnh tích cực của việc tôn vinh này là gì?

Tôi nghĩ là ít nhất họ tăng sự chú ý của công chúng tới một tác giả có chất lượng. Dĩ nhiên vì luật chơi là mỗi năm một người nên mỗi năm họ chỉ giới thiệu được có một mà thôi. Nếu bạn thật lòng quan tâm tới việc tìm kiếm những tác giả, tác phẩm có chất lượng, việc bạn cần làm không phải là hàng năm chỉ hồi hộp chờ đợi kết quả của giải Nobel Văn học hay bất cứ giải thưởng văn học nào khác mà hãy hàng ngày (hay hàng tuần) theo dõi các mục điểm sách, giới thiệu sách, giới thiệu tác giả từ vô vàn những tờ báo, chuyên mục, website, hay tài khoản twitter mà bạn thích.

Năm 2016 này, với việc trao giải Nobel Văn học cho một người được biết đến với tư cách một nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn hay nhà thơ, giải Nobel Văn học đã (một lần nữa) đẩy một giá trị khác của nó từ cánh gà lên sân khấu chính: tái định nghĩa văn học. Nobel năm nay không chỉ đưa ra định nghĩa về giá trị của văn học mà nó đã định nghĩa lại về chính khái niệm này.

Dù bạn muốn hay không, mọi khái niệm trên đời này vẫn luôn được định nghĩa và tái định nghĩa liên tục trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Khái niệm “văn học” cũng vậy. Người ta đang phản ứng ồn ào với việc trao giải Nobel Văn học cho Bob Dylan vì hành động này đang thách thức cách hiểu của tất cả mọi người về khái niệm “văn học”. Nếu chiểu theo cách hiểu truyền thống thông thường về văn học, thì có lẽ chỉ có một tập thơ và một cuốn hồi ký của Dylan được xếp vào địa hạt này – mà đó thì hiển nhiên không phải là di sản có giá trị nhất của ông và cũng không thể sánh được với các di sản văn học ở dạng truyền thống hơn của rất nhiều nhà văn khác. Phải chăng những ca từ trong các bài hát của Dylan cũng được xếp vào phạm trù “văn học”?

Có vẻ như Hội đồng giải Nobel Văn học đã xếp như thế!

Thật ra thì các lời bài hát của Dylan đã được giới học giả văn chương nghiên cứu lâu rồi, nhưng công chúng bên ngoài chẳng mấy ai quan tâm làm gì. Vả lại, ngay trong giới học giả cũng không thống nhất xem các lời ca ấy khi đứng độc lập, không đi với âm nhạc, mang tính văn chương tới đâu.

Dĩ nhiên Dylan cũng không phải là ngoại lệ.

Xin hỏi có bao nhiêu người nghe nhạc trên Trái đất này đã dành thời gian chỉ đọc lời bài hát mà không cần nghe phần nhạc? Bao nhiêu người đã từng chép lời bài hát vào sổ tay (khi đang không nghe nhạc)? Bao nhiêu người đã ngồi dịch lời một bài hát nào đó sang một ngôn ngữ khác? Bao nhiêu người đã từng trích dẫn một câu trong lời bài hát lên facebook hay twitter hay một chốn nào khác tương tự? Nếu nghĩ về những điều ấy, có thể bạn sẽ thấy rằng ranh giới giữa lời bài hát và phạm trù văn học cũng không thật quá rõ ràng.

Nếu nhìn về giải Nobel Văn học vượt ra ngoài ý nghĩa rất dễ thấy và phổ biến của nó là tôn vinh một cá nhân xuất sắc, hay là tôn vinh những giá trị nào đó của văn học, thì giải Nobel năm 2016 này đã làm được một điều mà rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển đã làm được (và chính nhờ thế mà đã được tôn vinh): thách thức tư duy của cả nhân loại.

Đọc bình luận của Tim Parks về giải Nobel Văn học năm nay:

Bob Dylan: The Music Travels, The Poetry Stays Home

Most read authors và số 3 “thần thánh” của tôi

Trước khi nhập dữ liệu sách mình đọc lên Goodreads và nhấn vào thống kê “Most read authors” của trang này, tôi đã nhận thấy từ lâu là rất khó khăn để tôi đọc được tới quyển sách thứ ba của cùng một tác giả. Thường tới quyển thứ hai là tôi đã cảm thấy cái mong muốn sẽ tiếp tục đọc tác giả này giảm xuống đáng kể.

Ngay cả trong số bốn tác giả mà tôi đã đọc được tới quyển thứ ba, hay là cứ tính cả ông tác giả mà tôi đang đọc tới quyển thứ ba và nhiều khả năng sẽ kết thúc được quyển thứ ba này là năm tác giả, chỉ có duy nhất một người tôi vẫn còn cảm thấy muốn tiếp tục tìm đọc là Jack London. Bốn người còn lại (Paulo Coelho, Dương Thu Hương, Alvin Toffler, Thomas Friedman) tôi đều không coi là tác giả ưa thích của mình!

Nhưng dẫu sao cũng đã có ba tác giả vượt qua được con số 3 “thần thánh” này của tôi và khả năng là họ sẽ còn nằm chình ình trên đầu bảng thống kê này trong một thời gian rất dài nữa.

Số 1. Nguyễn Nhật Ánh

Trên Goodreads tôi chỉ thống kê được đại khái vài cuốn của Nguyễn Nhật Ánh mà tôi đã đọc nhưng con số thực tế ít nhất cũng phải tầm 20 cuốn. Một lý do con số này nhiều đến thế là vì bác Ánh viết truyện khá là ngắn, nếu so với các cuốn sách của các tác giả khác mà tôi đọc. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy vui vì trong top 3 này của tôi có một nhà văn Việt Nam. Dù tôi không còn đọc bác Ánh nữa nhưng đây là một tác giả ưa thích của tôi chẳng phải nghi ngờ gì nữa.

Số 2. Murakami Haruki

Tôi đọc ông này được tròn 10 cuốn. Như nhiều người khác, tôi rơi vào trạng thái nghiện đọc ổng. Từ năm ngoái đến giờ là tôi chủ động tránh đọc ổng để còn dành thời gian cho các tác giả khác, chứ không thì đọc chắc vẫn như gió vào nhà trống, bao nhiêu cũng không thấy đủ.

Số 3. J.K. Rowling

Nếu không nhìn vào thống kê thì tôi cũng không nhận thấy Rowling chính là nhà văn nữ tôi đã đọc nhiều nhất. Khi phát hiện ra điều đó, tôi rất ngạc nhiên vì với tôi bà chỉ đơn giản là một trong những tác giả nữ tôi đã đọc. Hiện giờ tôi vẫn đang trên đường tìm kiếm một nữ tác giả mà mình ưa thích.

Về Rowling thì rất có thể con số của tôi sẽ dừng lại ở số sáu. Chính là sáu quyển trong bộ Harry Potter. Nghĩa là ngay bộ ấy tôi cũng đọc không hết. Quyển thứ bảy, là quyển cuối cùng trong bộ truyện, tôi đã không vượt qua được. Tôi đã đọc chừng 1/3 quyển ấy rồi không cảm thấy muốn đọc tiếp để biết câu chuyện kết thúc như nào. Trên thực tế, sau khi đọc xong quyển thứ năm tôi đã mất nhiều hứng thú với bộ truyện.

Dĩ nhiên mục tiêu đọc sách của tôi là phải thêm bạn cho top 3 này, nhưng trước khi đạt đến con số 6 khiêm tốn của Rowling tôi cần phải tập trung vào con số 3 thần thánh cái đã. Dưới đây là một số tác giả tôi đã đọc từ hai cuốn tới hai cuốn rưỡi và nhìn thấy có khả năng sẽ nâng cao được thành tích:

  1. Paul Auster: đã đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace và một phần The New York Trilogy.
  2. E.B. White: đã đọc Mạng nhện của CharlotteChiếc kèn Trumpet của Thiên nga và tốt nhất là nên tìm đọc nốt Nhắt Stuart cho trọn bộ 3 cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng của ông này.
  3. Mark Twain: đã đọc Tom Sawyer và Huck Finn và cũng muốn đọc thêm cuốn hồi ký Life on the Mississippi của ổng rồi đọc lại hai cuốn kia nữa.
  4. Stephen King: đã đọc Dặm XanhNgười lửa và một vài truyện ngắn trong Just After SunsetThe Bazaar of Bad Dreams. Cuốn On Writing của ông cũng có vẻ hấp dẫn.
  5. Nguyn Dương Qunh: đã đọc Đ và Th trn ca Chúng ta và sẽ đọc tiếp nếu bạn này ra sách tiếp.
  6. Nguyn Trí: đã đọc hai tập truyện ngắn của bác này là Bãi vàng, Đá quý, Trm hương và Đ t. Tuy bắt đầu thấy có sự lặp lại nhưng vẫn muốn thử đọc sang tiểu thuyết đầu tay của bác là Thiên đường o vng dù cái tựa nghe không được hấp dẫn cho lắm.
  7. Nguyn Phương Mai: vừa đọc xong Tôi là mt con la và Con đường Hi giáo và cũng sẽ mua tiếp quyển nữa nếu chị này ra sách nữa (hy vọng là vềcánh cung phía Đông của con đường Hồi giáo).

Thật ra để nâng thành tích dễ thấy nhất là nên đọc một cuốn của Jack London để đẩy một tác giả nữa vượt qua con số 3 thần thánh. Nhưng bạn biết đấy, đọc sách nhiều khi cũng là do duyên phận!  😀

5 dấu hiệu cảnh báo bạn đang có một mối quan hệ có hại (và nó đang giết chết bạn)

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “5 Warning Signs You’re In a Toxic Relationship (And It’s Killing You)” của Sabrina Alexis trên A New Mode (truy cập ngày 3/9/2016).

Có một thứ mà tôi, và không may là nhiều phụ nữ khác, biết rất rõ là những mối quan hệ độc hại. Độc chất là một thứ gây tổn hại cho bạn và làm bạn kiệt quệ. Một mối quan hệ có hại có thể hủy hoại nhận thức của bạn về chính mình.

Có những mối quan hệ lành mạnh và có những mối quan hệ có hại, và tôi đã rơi vào trường hợp thứ hai ngày tôi bước chân vào đại học và sống chết yêu một anh chàng mà dường như mọi thứ đều không phù hợp. Giống như hầu hết các mối quan hệ khác, mối quan hệ này bắt đầu chẳng có vấn đề gì. Cảm giác ban đầu như điện giật, sự hấp dẫn là rất mạnh mẽ, nói chuyện thoải mái và dễ dàng, và lúc nào cũng thấy cần có nhau. Tôi chưa bao giờ cảm thấy bị thu hút nhiều như thế. Tôi có nhìn thấy một vài dấu hiệu bất ổn từ sớm, nhưng đã tự thuyết phục mình rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn vì đơn giản là phải như thế. Nhưng mà mọi chuyện lại không như thế.

Qua thời gian mọi thứ chỉ trở nên tệ hơn, và sau một năm kể từ khi bắt đầu mối quan hệ đó tôi đã trở thành cái bóng của chính mình trước đây. Tôi không còn vui vẻ, thân thiện, lạc quan, tự tin, và tràn đầy ánh sáng. Thay vào đó tôi thường xuyên cảm thấy bấp bênh, bất an đau khổ, kiệt quệ, và buồn rầu. Tôi sống dưới một đám mây đen sợ hãi… sợ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc, rằng anh ta sẽ bỏ đi. Khi ở cạnh anh ta có lẽ tôi cũng khốn khổ, nhưng tôi đã tin rằng không có anh ta tôi sẽ còn khốn khổ hơn nữa, bởi vậy mà tôi vẫn tiếp tục. Mối quan hệ đó nhẽ ra không nên kéo dài đến như thế. Tôi đã tiếp tục kể cả khi anh ta cho tôi thấy đủ mọi lý do rằng mối quan hệ ấy không nên tiếp tục. Cuối cùng, anh ta bỏ tôi, và đúng như đã dự đoán tôi cảm thấy mình chết từ bên trong.

Mãi tới khi mối quan hệ ấy lụi hẳn đi rồi tôi mới có thể nhìn ra mọi chuyện đã xấu như thế nào và nó đã hủy hoại cách mà tôi nhìn chính mình khủng khiếp ra sao. Một phần nguyên nhân tôi đã không nhận thức được sớm hơn là bởi tôi chẳng biết mình tìm kiếm điều gì. Tôi cứ để những cảm xúc mà tôi có che mờ những thứ khác. Bạn bè đã cố gắng cảnh báo tôi rằng chuyện đó không ổn, thế là tôi không nói chuyện với họ nữa. Linh tính của tôi đã bảo tôi là chuyện này không ổn, thế là tôi không để cho linh tính của mình lên tiếng nữa. Tôi đã làm việc mà nhiều người khác làm. Tôi đã chọn không nhìn mọi việc như chúng đã là mà thay vào đó chỉ nhìn vào việc tôi muốn mọi chuyện trở nên thế nào. Tôi coi nhẹ những gì là không ổn và bám chặt vào bất cứ thứ ánh sáng tốt đẹp nào mà tôi nhìn thấy, và đó là tất cả những gì tôi cần để tiếp tục.

Nỗi đau còn đeo đuổi tôi rất lâu sau khi mối quan hệ ấy kết thúc, và những vết thương mà nó gây ra đã mất rất nhiều thời gian để lành lại. Rắc rối với những mối quan hệ có hại là không phải lúc nào bạn cũng dễ dàng nhận dạng ra được, và đôi khi cứ như thể là bạn là người rất hay phức tạp hóa vấn đề nên mới coi nó là “có hại”.

Có thể bạn nghĩ rằng bạn đang trải qua những thăng trầm mà mối quan hệ nào cũng phải trải qua, hoặc có thể bạn cho rằng một vấn đề nào đó bên ngoài đang là nguyên nhân gây bất ổn và nếu vấn đề đó được giải quyết thì mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

Có thể nhìn nhận mọi chuyện đúng như nó đang là và chấp nhận một thực tế là nó sẽ không thay đổi có thể giúp bạn rất nhiều. Việc đó sẽ cho bạn khả năng nhìn mọi chuyện qua một lăng kính khách quan và ra quyết định có lợi nhất cho bạn. Để giúp bạn làm được điều đó, tôi chỉ ra ở đây những dấu hiệu lớn nhất cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ rất hại não.

1. Bạn không bao giờ cảm thấy mọi chuyện là đủ tốt.

Bạn cảm thấy như bạn làm sai mọi thứ và thường xuyên phải cố gắng chứng tỏ giá trị của mình. Bạn trở nên nghiện ngập sự ghi nhận của anh ta. Bất cứ khi nào bạn làm gì đó và nó kiểu dạng làm anh ta ghi nhận thì bạn cảm thấy nhẹ nhõm, và nó như một sợi dây đủ để bạn tiếp tục bám vào. Bạn lại cố gắng nhiều hơn nữa để lại có được cái cảm giác đó, và nếu không được thì bạn cảm thấy như đó là một thất bại. Nhưng bất kể là bạn cố gắng nhiều thế nào, bạn không bao giờ cảm thấy là bạn đã cố gắng đủ hay là bạn đã làm đúng. Bạn thường xuyên ở trong trạng thái không thoải mái, phán xét chính mình, cố gắng trở nên tốt hơn và trở nên đủ tốt.

2. Bạn không thể là chính mình.

Một dấu hiệu cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ lành mạnh là cảm giác bạn vẫn như bình thường. Một dấu hiệu lớn cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ không lành mạnh, có hại là điều ngược lại, là cảm giác bạn không thể là chính mình. Thay vào đó, bạn phải đi nhẹ nói khẽ cười duyên và phải để ý mọi thứ bạn nói và làm. Bạn cảm thấy như giờ đây bạn phải uốn lưỡi hai lần trước khi nói và một số chủ đề là cấm kỵ, và bạn phải hành xử cho phải phép. Bạn sợ phải nêu một số vấn đề ra để nói chuyện với anh ta bởi bạn không biết anh ta sẽ phản ứng như thế nào, và không nói gì thì tốt hơn là nói gì đó và làm anh ta giận. Bởi vậy bạn cứ im lặng chịu đựng và hy vọng rằng mọi chuyện rồi sẽ thay đổi theo một cách nào đó, và mối quan hệ này một ngày nào đó sẽ trở nên hạnh phúc và lành mạnh theo một cách thần kỳ nào đó.

Bạn thậm chí có thể không nhận ra rằng mối quan hệ này đang biến bạn trở thành một người như thế nào. Bạn không biết tại sao bạn không còn là cô gái vui vẻ, tự tin nữa, và có thể bạn bè và gia đình bạn cũng cảm thấy như thế. Nhưng bạn yêu anh ta và bạn đã bỏ rất nhiều thứ vào mối quan hệ này và bạn lý giải rằng chỉ cần qua được ít trắc trở này, bạn sẽ trở lại như xưa…

3. Anh ta làm bạn buồn khổ.

Đây là một trong những dấu hiệu lớn nhất của một mối quan hệ có hại, và nó dường như là khá rõ ràng, nhưng thường bạn lại không nhận ra là anh ta đang làm bạn buồn khổ bởi mọi chuyện diễn ra theo cách cũng khó mà chỉ trích ai được. Và nếu bạn đã lún quá sâu, bạn đã không còn là chính mình và đã tự thấy mình không đủ tốt đẹp, nên thậm chí bạn cũng mặc nhiên công nhận những điều tiêu cực anh ta nói với bạn hay là nói về bạn.

Các mối quan hệ là một cơ hội để người ta trưởng thành rất nhiều. Đôi khi những tính cách không-ưu-tú-nhất của chúng ta bỗng dưng lộ ra và chúng cần phải được xử trí thế nào đó. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa một đối tác có thể chỉ ra điểm yếu của chúng ta theo một cách tích cực, khuyến khích chúng ta trưởng thành hơn, với một đối tác làm việc đó với màu sắc chế giễu, coi thường. Trong một mối quan hệ lành mạnh, người đó sẽ chấp nhận con người bạn. Anh ta sẽ yêu những điểm tốt và chấp nhận những điểm xấu bởi vì chúng ta đều là con người và ai cũng có những mặt không tốt, và những gì không tốt vẫn có thể chấp nhận được trong một chừng mực nào đó. Những ai trông đợi một đối tác hoàn hảo đều đã dọn đường cho mình sống trong thất vọng cả đời. Trong một mối quan hệ lành mạnh, bạn sẽ muốn trở nên tốt hơn bởi bạn thực lòng muốn tốt hơn nhưng vẫn là chính mình – vì chính bạn, vì người đó, và vì mối quan hệ này. Bạn sẽ cảm thấy được yêu thương và được chấp nhận với chính con người mình, và cả hai bạn hiểu rằng thay đổi cần có thời gian, nên bạn không cảm thấy khổ sở vì cảm thấy bất lực với những điểm yếu của mình hết lần này tới lần khác.

Trong một mối quan hệ có hại, bạn không cảm thấy mình được chấp nhận, đối tác của bạn khó chịu với những điểm yếu của bạn, và anh ta có thể chế giễu bạn và làm bạn xấu hổ vì những điểm yếu đó.

Tôi nhớ trong mối quan hệ gây hại đó của mình anh ta đã bảo tôi là lý do anh ta chọn đi lại với tôi là bởi anh ta không thể “breed” (phải, tôi trích dẫn nguyên văn lời anh ta) với ai như tôi bởi vì tôi không phải là kiểu người sẽ làm vợ và làm mẹ (xin nhắc, khi ấy tôi là một đứa nhóc sinh viên 20 tuổi), vậy nên anh ta cảm thấy an toàn vì biết rằng mối quan hệ này không phải là lâu dài. Đọc đến đây chắc các bạn đang há hốc mồm, và có lẽ bạn đang nghĩ “ờ sau vụ này thì hiển nhiên cô này sẽ bỏ thằng cha này,” nhưng tôi đã không làm thế! Tôi nhớ là mình đã cảm thấy xấu hổ và bối rối vì thực tế là tôi thích đi chơi và uống rượu và tiệc tùng (lại xin nhắc, khi ấy tôi 20 tuổi!), và tôi tự tạo cho mình một nhiệm vụ là chứng tỏ với anh ta rằng tôi cũng có thể là một người biết chăm sóc như thế nào. Trong một mối quan hệ độc hại, những chuyện hại não là không thiếu. Một số chuyện có thể thấy rõ còn một số khác thì bị che khuất, và có thể bạn không hề nhận ra rằng chúng đang hủy hoại bạn từ bên trong như thế nào.

4. (Hai) Bạn chơi bẩn.

Cặp nào cũng gây lộn, kể cả những cặp hạnh phúc nhất. Gây lộn có thể xảy ra với mọi chuyện lớn nhỏ. Những cặp hạnh phúc không phải là những cặp không bao giờ gây lộn, họ là những người biết dùng những xích mích và bất đồng như một phương tiện để giải quyết vấn đề. Nếu có một vấn đề không giải quyết được, họ học cách trao đổi, tương tác với nhau tốt hơn và tiến tới hiểu nhau nhiều hơn.

Các cặp có vấn đề thường gây lộn để phân thắng thua. Họ dùng những xích mích như một cơ hội để dằn mặt người kia, chơi xấu, và tranh thủ trút hết ra những tức giận và những chuyện để bụng bấy lâu. Gây lộn kiểu chơi xấu là một dấu hiệu cho thấy mức độ hận nhau trong mối quan hệ đã đến giới hạn chịu đựng. Gây lộn lúc này mang màu sắc hằn học và coi thường nhau, và mỗi người đều chăm chăm muốn “thắng” và chứng tỏ là mình đúng thay vì cùng nhau tìm cách giải quyết vấn đề một cách hòa bình.

5. Anh ta sẽ không làm gì để cải thiện tình hình.

Anh ta phủ nhận trách nhiệm và thay vào đó chỉ trích bạn và coi mọi chuyện là lỗi của bạn. (Kiểu như, “Nếu không phải là lúc nào em [cô] cũng gây chuyện thì anh [tôi] cũng không phải cáu giận đến như thế!”) Trong một mối quan hệ gây hại, bạn cảm thấy như mình là vấn đề. Anh ta không coi cảm xúc hay nhu cầu của bạn là gì. Nếu bạn không vui, đó là bởi bạn quá “nhạy cảm” hoặc “dễ xúc động” hoặc “vô lý”. Anh ta có thể nói xin lỗi, nhưng anh ta không thực sự nhận mình có lỗi gì và cho rằng nếu bạn có vấn đề gì với mối quan hệ này thì nó chỉ là vấn đề của bạn. Anh ta không muốn nói về chuyện đó hay tìm cách giải quyết hay cố gắng thay đổi.

Phẩm chất quan trọng nhất cần tìm ở một đối tác là một người sẵn sàng làm gì đó để cải thiện tình hình. Những mối quan hệ gây hại vẫn có thể thay đổi nếu cả hai người đều thực tâm muốn làm gì đó để cải thiện tình hình. Tuy nhiên, nếu anh ta từ chối thay đổi hay cố gắng hiểu cảm xúc và nhu cầu của bạn thì chẳng còn làm được gì và lựa chọn duy nhất của bạn là ra đi. Việc đó khó đấy vì một anh chàng với những tính cách gây mệt mỏi cũng có những tính cách khác thực sự tốt đẹp, và chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta cố gắng đủ nhiều chúng ta có thể làm cho những điểm tích cực ấy nở rộ nhiều hơn nữa và khiến anh ta thay đổi và trở thành một người tốt hơn. Mọi chuyện hiếm khi diễn ra theo cách ấy; mọi người chỉ thay đổi khi người ta nhận ra là đang có vấn đề và họ muốn giải quyết vấn đề đó. Và dù anh ta có bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp đi nữa, điều quan trọng duy nhất là anh ta có mong muốn mối quan hệ này có kết quả. Nếu anh ta không có mong muốn đó, mọi thứ khác đều là vô nghĩa.

Nếu bất kỳ điều nào trên đây là đúng với bạn hay có vẻ giống giống với mối quan hệ của bạn, có lẽ đây là lúc bạn nên cân nhắc nghiêm túc về chuyện có tiếp tục mối quan hệ này không vì lợi ích của mình. Những mối quan hệ gây hại có sức hủy hoại không nhỏ; hoặc là bạn nhận ra điều này bây giờ hoặc là một lúc nào đó sau này. Bạn càng dây dưa, tổn hại sẽ càng nhiều và thời gian phục hồi sẽ càng dài. Hãy nhớ rằng, bạn giải phóng cho mình càng sớm bao nhiêu thì bạn càng tới gần hơn với cơ hội tìm được một mối quan hệ tử tế cho mình.

Phỏng vấn Frédéric Beigbeder của Shawn Dogimont

Tạp chí Hobo #15 – Paris, tháng Mười Hai năm 2012. Sau khi dịch và xuất bản một số trích đoạn từ cuốn sách nói về sách đầy nhiệt tình của anh: First Inventory After the Apocalypse, tôi gặp Frédéric lần đầu trong một bữa trưa ở Allard, Quận 6. Kể từ lúc đó tôi bắt đầu nhận ra anh là một nhân vật nổi tiếng và viết lách nhiều tới nhường nào. Chương trình Le Cercle của anh toát lên một sự thông minh và dí dỏm và, cùng với The Walking Dead, đó là chương trình ưa thích của tôi trên truyền hình. Anh đã viết chín cuốn tiểu thuyết trong đó anh đôi khi tiểu thuyết hóa cuộc đời của chính mình, thường xuyên châm biếm xã hội tiêu dùng, và luôn luôn đặt ra những câu hỏi mang tính siêu hình. Anh là một trong những người đầu tiên ký vào bản tuyên bố phản đối luật mới trừng phạt khách mua dâm ở Pháp và với tôi anh đại diện cho phe tự do của một đất nước vốn được biết tới nhờ các cuộc cách mạng và phong trào Khai sáng: anh lập ra Prix de Flore [một giải thưởng văn học Pháp], tiếp tục duy trì hình ảnh của Hemingway trong Hội hè miên man, bảo vệ những thiết chế như L’Ami Louis…

Shawn Dogimont — Tôi thấy dường như anh đã tự tạo ra một sự nghiệp riêng cho mình. Tôi thấy điều này gợi cảm hứng rất lớn vì nó dựa trên tài năng và những mối quan tâm kinh điển, đam mê văn chương của anh, và tôi băn khoăn không biết một hành trình sự nghiệp như của anh liệu có thể tồn tại ở một nơi nào khác ngoài Paris hay không, nơi mà phê bình phim là mối quan tâm hàng đầu của truyền thông nhưng vẫn có một tình yêu dành cho sách giấy… Anh đã xuất bản chín cuốn tiểu thuyết và đã đạo diễn một bộ phim. Anh chạm tới mọi thứ mà tôi vẫn mơ tưởng là mình sẽ làm.

Frédéric Beigbeder Tôi đồng ý với anh – điều đó là không thể có ở một nơi nào khác bởi ở Paris anh có văn hóa điện ảnh của tác giả (cinéma d’auteur), câu chuyện về một làn sóng mới cơ bản nói rằng: khi anh là một nhà văn, anh có thể là một đạo diễn. Vì François Truffaut là một nhà phê bình phim, vì Sacha Guitry và Marcel Pagnol đạo diễn phim, và Jean Cocteau cũng thế. Vì thế anh không có một bức tường ngăn giữa viết lách và đạo diễn phim. Ở Pháp trước đây nhiều đạo diễn cũng là nhà văn, và giờ vẫn thế. Đó chính là khác biệt chính. Khi tôi nói với Jay McInerney “Tôi sắp đạo diễn một bộ phim” anh ấy đã nói “wow, nhưng trước anh có học trường điện ảnh không?” Dĩ nhiên là không, tôi chỉ là một nhà văn nhưng ở Pháp khi anh là một nhà văn điều đó nghĩa là anh là một người kể chuyện và anh có thể kể câu chuyện của mình với ngòi bút là máy quay (‘la camera stylo’). Ở đây máy quay giống như một ngòi bút còn ở Mỹ thì khác, ở đó có văn hóa [làm phim] xoay quanh Hollywood, kỹ thuật, và nếu anh không biết mọi thứ về phim ảnh thì anh bị coi như ở trình độ vỡ lòng, tôi cho là thế, và có thể đúng là thế, tôi không biết, bởi vì có nhiều bộ phim dở do các nhà văn làm ra trong đó người ta cứ nói liên tục hàng giờ đồng hồ nhưng ‘c’est permis en France’ [ở Pháp được phép thế]. Mọi chuyện bắt đầu là bởi khi mười tám tuổi tôi đã tổ chức party. Trước khi hoạt động nghệ thuật tôi được biết tới nhờ cuộc sống về đêm và tôi đã mời rất nhiều khách tới những buổi dạ hội hóa trang hay những thứ tương tự thế. Vì thế tôi đã trở thành ‘figure de la nuit’ [tay chơi đêm], ‘un noctambule’ [một con cú đêm] và bắt đầu viết bài cho các tạp chí về cuộc sống ban đêm. Những gì tôi viết với một số người dường như cũng vui nhộn bởi vậy tôi đã xuất bản một cuốn tiểu thuyết, rồi được gọi tới làm việc tại một công ty quảng cáo và làm host trên truyền hình. Tôi đã trở thành một nhân vật trước khi tôi kịp làm gì. Tôi như là một Kim Kardashian của thập kỷ 80. [cười] Điều đó không có nghĩa là tôi không có năng lực nhưng đó là một chuỗi những ngẫu nhiên, từ cái này nối sang cái khác, đó là lý do tại sao tôi lại làm nhiều việc.

— Trong tất cả những việc đó thì ‘âme’ [đam mê] của anh nằm ở đâu, công việc nào anh cảm thấy thoải mái nhất?
— Tất cả những việc này đều liên quan tới viết lách. Nếu anh làm một show truyền hình anh bắt đầu với các câu hỏi mà anh muốn hỏi hoặc những gì mà anh muốn nói. Nếu anh làm phim anh phải viết kịch bản. Nếu anh viết sách thì anh viết. Nếu anh viết bài cho một tạp chí thì nó cũng là viết. Bởi thế mọi thứ đều bắt đầu với viết lách ở một thời điểm nào đó, trừ phi là anh tổ chức party. À, thế thì anh vẫn phải viết giấy mời sao cho mọi người muốn tới dự. Tất cả các dạng biểu đạt này tuy khác nhau nhưng đều bắt đầu bằng việc một người ngồi một mình trong phòng gãi đầu nghĩ xem nên nói gì.

— Anh thích tưởng tượng ra các câu chuyện từ ý tưởng vu vơ hơn hay, phần nào đó, pha trộn giữa những trải nghiệm sống và cá tính của chính mình? Điều đó hẳn là vui.
— Đó là một từ khóa đấy. Lúc nào tôi cũng sợ buồn chán. Văn học là hơn thế, nó là một trò chơi, là chơi với hình ảnh của anh, đặt bản thân anh vào một quyển sách cho phép anh nói dối mọi người và nói như Aragon ‘le mentir vrai’ những lời dối trá thành thực hay như Cocteau “je suis un mensonge qui dit toujours la vérité”. Tôi là một sự dối trá luôn nói sự thực và tôi nghĩ tiểu thuyết chính là vậy. Tôi thích đọc tiểu thuyết của Charles Bukowsky hoặc Bret Easton Ellis nơi anh nghĩ có thể đó là tác giả, nhưng anh không chắc lắm, còn họ chơi với ý tưởng này, và chơi với độc giả. Pha trộn giữa tưởng tượng và tiểu sử tự thuật là điều tôi thích hơn cả bởi mọi người đi theo anh, nếu anh làm họ tin, họ sẽ muốn tiếp tục lật trang sách. Nếu tôi viết truyện về một nông dân Ukraina nghèo khổ thì sẽ chẳng ai tin những gì tôi nói. Nếu tôi viết về một gã ở Pháp có một cuộc đời rỗng tuyếch, thì mọi người lại đi theo tôi. [cười]

— Họ sẽ nói: anh ta biết anh ta đang nói gì.
— Chính xác. Nếu tôi kể chuyện một gã bị bắt vì dùng cocaine trên ca-pô xe ở ngoài phố, mọi người sẽ biết nó là thật, nên đó là một khởi đầu tốt.

— Có vấn đề xã hội tương tự giữa Octave Parrango, bản dạng khác của anh trong 99 francs, và Patrick Bateman hay người dẫn chuyện vô danh của Bret Easton Ellis trong Fight Club?
— Ồ chắc chắn có. Khi phim của David Fincher ra rạp tôi đã rất buồn vì tôi đã quá hâm mộ nó. Khi đó tôi đang viết 99 francs và tôi đã nghĩ “khỉ thật, hắn đã làm trước mình.” Khi đó tôi đang cố gắng mô tả sự điên rồ của quảng cáo, sức mạnh của quảng cáo bằng cách sử dụng chính các kỹ thuật quảng cáo. Cuốn sách đó đầy rẫy những dòng tên tác giả và slogan, nên nó giống như dùng chính thứ vũ khí mà quảng cáo dùng để gây ảnh hưởng tới chúng ta để chống lại họ. Dạng biểu đạt/viết lách này rất Mỹ, rất thu hút, rất lôi cuốn, như Elis hay McInerney đã làm trong thập niên 80. Tôi chịu ảnh hưởng của cả hai người đó. Elis nhiều hơn bởi vì anh ta rất cực đoan, McInerney có lẽ lãng mạn và dịu dàng hơn.

— Điều gì đã thu hút anh tới với đời sống và văn chương Bắc Mỹ?
— Là thế này: Tôi yêu văn học Pháp ngữ, vì là tiếng mẹ đẻ nên tôi đọc rất nhiều thơ và tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Người Mỹ, họ kể chuyện. Có lẽ ở thế kỷ 20 chúng ta đã tìm kiếm những ngôn ngữ mới và những trải nghiệm mới, kiểu ‘nouveau roman’ [tiểu thuyết kiểu mới] mà ở đó anh từ chối kể chuyện, và một phần của nó với tôi trở nên quá trừu tượng. Đó là lý do tại sao tôi thích đọc những tiểu thuyết thật sự với các nhân vật và tình huống mô tả thời đại của chúng ta. Có thể là Hemmingway, Fitzgerald, nhưng cũng có thể là Tom Wolf nữa. Tham vọng này, nó là tham vọng của người Pháp ở thế kỷ 19. Ví dụ Zola và Stendhal. Stendhal nói tiểu thuyết là một tấm gương phản chiếu thực tế. Vậy là người Mỹ đang viết tiểu thuyết Pháp thế kỷ 19. Kể cả Bukowski cũng nói ông ấy chịu ảnh hưởng của Zola và Céline. Tôi chịu ảnh hưởng của người Mỹ bởi họ chịu ảnh hưởng của những nhà văn mà tôi yêu. Cả người Nga nữa. Người Nga và người Mỹ đều có tham vọng tổng kết thế giới, nâng niu thế giới. Vì thế anh đọc truyện cũng là anh đang nhìn vào chính mình trong gương.

— Đoạn trích này từ Things: A Story of the Sixties của George Perec làm anh lập tức nghĩ tới điều gì?

“Than ôi, khá thường xuyên, phải nói thực, họ đã thất vọng kinh khủng… Màn ảnh sẽ sáng lên, họ nhẽ ra sẽ cảm thấy một niềm vui của sự thỏa mãn. Nhưng những sắc màu đã mờ dần theo thời gian, bộ phim nhòa đi trên màn hình, những người phụ nữ ở một độ tuổi khác; họ sẽ bỏ ra ngoài; họ sẽ buồn. Đó không phải là bộ phim họ đã từng mơ. Đó không phải là bộ phim hoàn chỉnh mỗi người trong số họ đã từng lưu giữ trong thâm tâm, bộ phim hoàn hảo mà họ đã có thể say sưa xem hết lần này tới lần khác. Bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn làm. Hay thầm lặng hơn, không nghi ngờ gì nữa, bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn sống.”

— Les Choses rất quan trọng bởi nó được xuất bản vào năm mà tôi ra đời, bởi thế đó là một năm rất quan trọng … [cười] Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên mô tả xã hội tiêu dùng và xã hội đó đáng thất vọng với loài người như thế nào. Tôi ngưỡng mộ Perec. Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông và ông đã nói mọi thứ về những gì đã xảy ra kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ. Ba mươi năm trước ông đã hiểu tại sao sự kết thúc của các xã hội lý tưởng sẽ không làm cho chúng ta hạnh phúc, chúng ta cần có một giấc mơ. Giấc mơ của các nhân vật trong Les Choses là có những thứ vật chất. Đó là lý tưởng của họ: có nội thất, TV, một căn hộ xinh đẹp và chúng sẽ làm họ hạnh phúc. Dĩ nhiên là không phải thế. Đó có thể là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nói rằng mua đồ sẽ không làm bạn hạnh phúc và đó là đề tài cho mọi thứ mà tôi đã viết ra. Thế hệ của tôi là một thế hệ mang nhiều thất vọng bởi chúng tôi đã bị lừa dối, ‘on a été escroqué’. Kể từ lúc tôi sinh ra, mọi người đã giải thích cho tôi rằng chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, chủ nghĩa tư bản là tốt đẹp. Chủ nghĩa phát xít thì kinh khủng và các thế hệ cha mẹ và ông bà anh đã phải chịu đựng chiến tranh thì anh nên hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản. Và điều tôi viết là về việc chúng ta không hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản như thế nào, nó là không đủ, chúng ta cần một thứ gì đó khác. Tôn giáo thì phức tạp, nó đã qua rồi, chúng ta không thực sự tin nữa.

— Thế nếu không có một giấc mơ?
— Hãy bắt đầu viết sách để giải thích anh buồn như thế nào và có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta say xỉn, dùng ma túy, quan hệ tình dục với người lạ và sau đó cũng chẳng thèm gọi lại, đó là bởi chúng ta không có một giấc mơ. Perec là điểm thay đổi đối với tôi. Khi ông nói chúng ta đã muốn là một phần của một bộ phim, chúng ta đã muốn cuộc đời của chúng ta như một bộ phim, nhưng rồi nó lại là một bộ phim tồi [cười], nó là một bộ phim tẻ nhạt, thì đó chính xác là những gì tôi cảm thấy! Tôi nghĩ đó là một vấn đề thực sự đối với thế hệ của tôi và thế hệ tiếp theo. Giờ họ có YouTube. Họ nghĩ Facebook và YouTube và Google sẽ làm họ hạnh phúc. Không đâu!

— Làm thế nào anh thoát khỏi những cạm bẫy của cuộc sống thành thị hiện đại nơi lối sống bị bán như cuộc sống?
— Tôi không trốn. Tôi ở bên trong thế giới này. Tôi là một phần của nó. Tôi có một tạp chí tên là Lui [Anh ấy] với rất nhiều hình ảnh quảng cáo và hình ảnh đẹp của những người mẫu khỏa thân. Tôi đi chơi, tôi say xỉn, tôi mua đồ, như mọi người khác. Tôi chỉ mô tả điều đó là không đủ để hạnh phúc như thế nào. Và tôi không thực sự biết làm sao để hạnh phúc và đó là điều tôi viết. Anh biết đấy, những người hạnh phúc, tôi không nghĩ là họ viết, hoặc họ viết thì rất buồn tẻ. Tôi bị thu hút bởi sự hào nhoáng, tôi là một phần của hệ thống, nhưng tôi cũng phàn nàn suốt ngày. Tôi là như thế, có lẽ việc đó rất dễ chịu. [cười]

— Tại sao anh viết tiểu thuyết? Anh tìm kiếm điều gì trong việc viết lách của mình?
— Cố gắng viết ‘mon malaise’ [vấn đề của tôi], sự khó chịu, ‘sodade’ [nỗi buồn sâu thẳm] bằng tiếng Bồ Đào Nha. Nó như là tự phân tâm, cuối ngày anh sẽ cảm thấy khá hơn nếu anh viết được một câu kể về việc tại sao anh thấy tệ, có vấn đề gì với anh, có vấn đề gì với cuộc đời này, chỉ một câu mỗi ngày thôi và thế là đủ, nó có ích đấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ ngưng viết khi anh biết mình là ai.

— Anh có đồng ý với Georges Simenon người đã từng nói: Viết lách không phải là một nghề mà là một sự nghiệp của bất hạnh. Tôi không nghĩ là một nghệ sĩ lại có khi nào hạnh phúc.
— Tôi rất tin là ông ấy đúng nhưng tôi hy vọng là ông ấy nhầm. Tôi yêu Simenon bởi ông ấy luôn cố gắng tìm những từ đơn giản. Ông có điều này từ Colette. Những mô tả rất chi tiết. Một sự nghiệp tôi hoàn toàn đồng ý. Khi chín tuổi tôi đã bắt đầu viết những thứ như nhật ký. Anh không quyết định trở thành một nhà văn, nó như bệnh vậy. Một số người thích sống, những người khác thích bất tử hóa nhiều thứ bằng cách viết lại chúng và nó như một khuyết tật trong cuộc sống vậy. Thỉnh thoảng, như trong một nhà hàng chẳng hạn, mọi người xung quanh tôi vui vẻ còn tôi như một gã đã chết thoát ra khỏi cái xác của hắn và đang nhìn vào mọi thứ chứ không phải đang sống.

— Viết có gợi lại ký ức không? Lướt sóng có kích thích việc viết không?
— Chúng có những điểm chung. Anh phải chờ có hứng và đột nhiên có một cơn sóng tới và anh phải lắng nghe xem điều gì xảy ra, và ghi chép lại rất nhanh. Tôi tin vào cảm hứng, tôi nghĩ nó có tồn tại. Có những ngày anh làm tốt và có những ngày như cứt. Viết lách là chờ đợi một cuộc hẹn với chính mình. Đôi khi anh có thể lỡ hẹn. Đôi khi anh viết được vài dòng…

— Tại sao anh viết First Inventory After the Apocalypse? Anh có thực sự quan tâm tới sự biến mất của sách giấy không?
— Ồ chắc chắn là có chứ, tôi rất sợ điều đó. Dĩ nhiên là thế giới đang thay đổi. Cuộc cách mạng kỹ thuật số. Với tôi đọc trên màn hình rất khác. Sách trở thành file số, không còn giống như khi đọc trên giấy nữa. Bởi sự tập trung. Nếu anh đọc Dostoevsky trên giấy anh phải ngồi xuống, mở một chai Armagnac, ngồi trong một cái ghế thoải mái xinh đẹp, tắt điện thoại, tắt TV, mọi thứ, phải có sự yên tĩnh và lắng nghe giọng nói của một ông già người Nga râu rậm đã chết nói chuyện với anh về việc cờ bạc đã hủy hoại cuộc đời ông ta như thế nào. Thật đấy. Đó là một niềm vui mà không có dạng thức nào khác của nghệ thuật có thể mang lại cho anh bởi vì anh sẽ lắng nghe linh hồn của một người thông minh hơn anh rất nhiều. Đó thực sự là một ưu đãi đối với tôi, văn học như một bộ phim mà anh đạo diễn trong đầu vì thế nó hơn tất thảy. Nhưng ngày nay thì việc đó ngày càng khó làm. Con gái tôi có đủ thứ cám dỗ nó, tôi không biết có ngày nào nó sẽ đọc Tội ác và Trừng phạt hay không. Với tôi việc đó cũng khó. Tôi có quá nhiều thứ cần phải tắt đi. Đọc một trang của Proust cũng như đánh vật. Tôi đọc nhiều hơn khi tôi ở cái làng nhỏ bé của mình ở tây nam nước Pháp. Không TV, không ai gọi tôi, tôi cảm thấy đơn độc, mắc kẹt… Đôi khi tôi ghét điều đó và tôi muốn trở lại và tới Montana! [cười]

— Hệ quả đối với xã hội là gì? Bởi mọi người dường như ổn thỏa với nhận thức rằng tâm trí của chúng ta, cách thức chúng ta xử lý thông tin, đang thay đổi. Dường như không ai nghĩ và làm rõ hơn về một thế giới nơi mọi thứ sinh ra đã thế…
— Thật buồn cười là chính cuộc cách mạng số đã khiến tôi nhận ra rằng tôi là một ‘réactionaire’ [kẻ phản động]. Tôi cứ nghĩ mình là một ‘progressiste’ [người tiến bộ], ‘libertaire’, ‘libéral’ [người theo chủ nghĩa tự do], một người của tương lai nhưng… không phải. Tôi là một người từ quá khứ và tôi phát hiện ra điều đó bởi tôi không thích Facebook, tôi không thích bị làm phiền suốt ngày bởi những thứ đồ công nghệ cứ đổ chuông và quấy nhiễu tôi. Tôi thích một nền văn minh cổ, lịch sử văn học, tôi thích có thời gian và quyết định mình sẽ làm gì với thời gian của mình, tôi thích lướt sóng. Tôi thích bất tuân theo cuộc cách mạng này. Tôi không nghĩ là tốt nếu không thể viết ra thứ ngôn ngữ tốt, với đúng chính tả, tôi không nghĩ cuộc sống sẽ tốt hơn nếu không thể đọc những cuốn tiểu thuyết dài.

—  Dạng thức và độ dài của tiểu thuyết có đang lâm nguy không?
— Có. Không ai đang nói thật cả. Và sự thật là: anh không thể đọc Proust ở dạng ebook. Chỉ là anh không thể, điều đó là không thể. Vì thế tiểu thuyết sẽ thay đổi, cách con người viết và đọc cũng thay đổi, và có khi người ta sẽ chẳng đọc nữa. Tôi rất sợ mỗi khi tôi tới nhà một vài người bạn và thấy chẳng có quyển sách nào.

— Kỳ cục thế.
— Rất kỳ cục. Ngành công nghiệp âm nhạc cũng biến mất như những vật dụng. Không album, không CD.

— Tôi nhớ ai đó nói lần duy nhất nhân loại đi lùi về mặt công nghệ là khi chúng ta từ bỏ Concorde.
— [cười]

— Nhưng điều đó không còn đúng nữa. Hỏi Neil Young hay Eddie Vedder và họ sẽ bảo anh là bây giờ âm thanh được ghi âm chả ra làm sao. Nó không được tốt như vài năm trước và tôi có cảm giác phim ảnh cũng thế.
— Tarantino sẽ đồng ý với anh. Ông ấy chỉ ghi hình trên celluloid. Vấn đề là nó làm tôi hãi vì nó cho thấy là chúng ta đang già đi. [cười] ‘On est des anciens combattants.’ [Chúng ta là cựu binh rồi.] Những người thông minh nên phân tích mặt tích cực và tiêu cực của mọi phát minh. Cũng bình thường nếu nói nó có những mặt tốt. Anh có thể nói chuyện với mọi người trên khắp thế giới miễn phí qua Skype. Một vài thứ là tốt hơn. Nhưng ví dụ Twitter, nó thật ngu xuẩn. Nó khiến người ta nói ra những điều mà hôm sau họ phải ân hận, nói gì đó về xã hội chỉ trong vài chữ là quá ngắn. Gọi người khác là bạn trên Facebook. Họ đâu phải bạn của anh, anh đâu có biết họ. Có khi họ còn đang nói dối! Tôi biết năm người đang giả mạo dùng tên và ảnh của tôi. ‘Le progrès scientifique n’est pas toujours bon par essence.’ [Tiến bộ khoa học không phải lúc nào cũng tốt.] Cái này được gọi là cuồng khoa học. Larry Page, Mark Zuckerberg, họ cũng thật kỳ cục, họ tin vào một dạng nhân loại mới. Họ không chỉ nói cảm nhận thì tốt hơn suy nghĩ, họ còn nói những thứ tệ hơn. Họ nói chúng ta sẽ pha trộn máy móc với con người và tạo ra một loài mới trên đầu mang camera và trong người mang chip và chúng ta sẽ sống tới 400 năm… họ nói chính xác như là quân Quốc xã! [cười] Nó là một lý tưởng mới.

— Có vẻ như những kẻ kỳ quặc ở trường học đang thắng thế. Thế những kẻ lười biếng đâu rồi?
— Người tẻ nhạt nhất trong lớp học giờ đây lại giàu nhất thế giới. Đó là một vấn đề lớn. [cười] Với Adolf Hitler cũng thế. Có lẽ đoạn này không nên đưa vào bài phỏng vấn [cười] nhưng thật là thế, Adolf là ‘un raté’ [một kẻ thất bại]. Hắn không có tài năng để làm một họa sĩ và hắn đã rất tức tối trước những người có được các cô gái bởi vì hắn rất ‘complexé’ [phức tạp] và… thật nguy hiểm khi những kẻ kỳ quặc có được quyền lực. [cười] Anh biết vì sao không? Vì họ muốn trả thù. Họ muốn tất cả những người xuất chúng phải nghe lệnh của họ. Ví dụ khi Zuckerberg nói gì đó như là cuộc sống riêng tư không còn tồn tại nữa – đó là George Orwell và tôi không hiểu sao không ai phản ứng gì. Vì thế chúng ta phải kháng cự. Chọn phe cho mình là quan trọng. Anh thích những thứ phi lý, nghệ thuật, bản năng hơn, hay anh thích toán học hơn? Tôi không muốn làm siêu nhân.

— “Bạn không cần phải đốt sách để phá hủy một nền văn hóa. Chỉ cần làm mọi người ngừng đọc chúng.” Ray Bradbury cuối cùng cũng không xa lắm.
— Đúng thế và đó chính xác là những gì đang diễn ra hiện nay. Ông ta lầm về một điểm – người ta đang đốt sách. Chúng không bị đốt nhưng bị ‘pillonés’ [chất đống]. Hàng trăm ngàn cuốn sách sắp bị hủy. Năm nay ở Pháp đã có 78 hiệu sách đóng cửa. Khi anh đóng cửa hiệu sách đúng thực là anh hủy sách. Thế nên Bradbury hãy còn quá lạc quan. [cười]

— Tại sao đọc tiểu thuyết lại quan trọng?
— Bởi vì nó tốn thời gian, nó là việc quyết định dành thời gian của anh để ở một mình với chính mình và với tâm hồn của một thiên tài như Flaubert hay Walt Whitman. Perec lần nữa, một trong những cuốn sách của ông có tên là La Vie Mode d’Emploi. Sách như những cuốn tài liệu hướng dẫn cho cuộc sống. Những điều quan trọng nhất anh không được dạy ở nơi nào khác ngoài những cuốn tiểu thuyết. Yêu như thế nào, ý nghĩa cuộc sống là gì, anh có hạnh phúc không, cha mẹ anh có yêu anh không, anh có biết mùi của con kênh ở Venise không, anh có muốn đi xuyên Mỹ bằng tô tô từ NY tới LA với một gã khùng không? Tất cả những điều này anh học từ sách chứ không phải từ nơi nào khác. Sẽ chẳng có ai dạy anh làm sao để hạnh phúc hay tại sao anh lại buồn.

— Đó là lúc ra đi, thời điểm khi anh không còn làm việc được nhiều, không tiêu dùng, và có lẽ không còn là mối quan tâm lớn nhất của các chính phủ.
— Đó là lý do vì sao Quốc xã đã đốt sách. Họ không muốn mọi người nghĩ hay chỉ trích. Khi anh đọc anh rời khỏi thực tại và anh bắt đầu nghĩ và anh tự do hơn. Nhưng nó cũng vô dụng và đó là điều tôi thích. ‘Le sens de l’inutilité.’ [Cảm giác về sự phù phiếm.] Khi anh thức dậy vào buổi sáng và cả ngày dài anh có các cuộc hẹn, những thứ phải làm và anh hiệu quả từ 8h sáng tới 8h tối… nhưng khi anh lên giường anh lại không ngủ được. Có lý do – anh cần có thời gian vô dụng, để hoạt động với bản năng. Lãng phí thời gian và một việc hết sức quan trọng.

— Anh có một người anh hùng ưa thích nào không?
— Tôi có hai được không? Một người Pháp và một người Mỹ. Họ gần giống nhau và họ được viết ra gần như cùng thời. Meursault, trong L’étranger của Camus và Holden Caufield, trong The Catcher in the Rye. Họ giống nhau. Họ trẻ và lạc lối. Họ thực sự không biết làm thế nào để gia nhập được vào thế giới người lớn. Meursault giết người và không hiểu tại sao còn Holden bỏ trốn khỏi trường và đi vòng quanh Công viên Trung tâm. Họ là những phản anh hùng, và đó là điều tôi thích về họ. Họ bỏ trốn, họ không có mục tiêu thật sự nào và họ không muốn nghe lời ai. Holden lãng phí thời gian của mình, dĩ nhiên cậu ta bị đuổi học, nhưng thay vì về nhà và bị la, cậu ta đi lang thang, nói chuyện với một nữ tu, một cô gái điếm, một tài xế taxi… Cậu ta lang thang. Cậu ta là một hobo [kẻ lang bạt].

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc đăng trên Hobo Magazine (truy cập ngày 13/07/2016). Bản dịch chỉnh sửa lần cuối ngày 17/08/2016.

Một cô giáo đã thay đổi cuộc đời tôi

Tác giả: Bill Gates. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “A Teacher Who Changed My Life” đăng trên blog của tác giả gatesnotes ngày 16/08/2016.

Ba người phụ nữ rất mạnh mẽ – mẹ tôi, bà ngoại tôi, và Melinda – xứng đáng được ghi nhận (hoặc đáng trách) vì đã giúp tôi trở thành người như ngày hôm nay. Nhưng cô Blanche Caffiere, một cô giáo và thủ thư tốt bụng mà tôi chưa bao giờ nhắc tới trước công chúng, cũng có một ảnh hưởng to lớn tới tôi.

Cô Caffiere (tên cô phát âm là “kaff-ee-AIR”) mất năm 2006, không lâu sau ngày sinh nhật lần thứ 100. Trước khi cô qua đời, tôi đã có cơ hội để cảm ơn cô vì đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi, người đã giúp tôi giữ lửa cho lòng ham học vào một thời điểm mà tôi đã có thể dễ dàng mất hứng thú với trường lớp.

Khi tôi gặp cô Caffiere lần đầu, cô đang là người thủ thư nhã nhặn và nhiệt tình tại trường Tiểu học View Ridge thành phố Seattle, còn tôi là một học sinh lớp bốn nhút nhát. Khi đó tôi tìm mọi cách để không ai chú ý tới mình, bởi tôi có một số khiếm khuyết lớn, như viết chữ xấu (ngày nay các chuyên gia gọi đó là chứng khó viết –  dysgraphia) và luôn để bàn bừa bãi một cách buồn cười. Và tôi luôn cố gắng che giấu việc mình thích đọc – một điều với các cô gái thì được coi là hay ho nhưng với các cậu con trai thì không.

Cô Caffiere đã che chở cho tôi và khiến cho việc tôi là một thằng bé bừa bãi và kỳ quặc thích đọc rất nhiều sách trở thành ổn thỏa.

Cô đã lôi tôi ra khỏi vỏ ốc bằng cách chia sẻ với tôi tình yêu của cô dành cho sách. Cô bắt đầu bằng những câu hỏi như, “Em thích đọc gì?” và “Em quan tâm tới điều gì?” Sau đó cô tìm cho tôi rất nhiều sách – những cuốn khó và thách thức hơn nhiều so với những cuốn khoa học giả tưởng của Tom Swift Jr. mà tôi đang đọc khi đó. Ví dụ, cô đưa cho tôi những cuốn tiểu sử lớn mà cô đã đọc. Sau khi tôi đọc chúng, cô dành thời gian thảo luận về chúng với tôi. Cô sẽ hỏi “Em có thích cuốn đó không?” và “Tại sao? Em đã học được gì?” Cô chăm chú lắng nghe những gì tôi nói. Qua những lần nói chuyện về sách như thế tại thư viện và trên lớp học chúng tôi đã trở thành bạn tốt của nhau.

Nhìn chung các giáo viên không muốn tạo thêm gánh nặng cho học sinh của mình bằng cách giao thêm bài đọc bên cạnh những bài tập đã giao. Nhưng tôi đã học được từ cô Caffiere rằng các thầy cô giáo của mình có thể chia sẻ nhiều điều hơn thế. Tôi chỉ cần hỏi họ thôi. Từ đó cho tới hết trung học và sau này, tôi thường hay hỏi các thầy cô giáo của mình về những cuốn sách họ thích, rồi tôi đọc chúng khi rảnh, và cho họ biết tôi nghĩ gì.

Giờ đây nhìn lại, không có gì phải nghi ngờ rằng thời gian tôi có với cô Caffiere đã thắp lên mối quan tâm của tôi với thư viện (cũng là nỗ lực thiện nguyện quy mô lớn đầu tiên của Melinda và tôi) cũng như sự tập trung của tôi trong việc giúp mọi đứa trẻ ở Mỹ được hưởng lợi từ những giáo viên tốt. Tôi thường gắn việc khởi nguồn quỹ của chúng tôi với một bài báo về trẻ em tại các nước nghèo bị chết bởi những bệnh đã bị xóa sổ tại Mỹ từ rất lâu. Nhưng tôi cũng nên ghi nhận ảnh hưởng từ người giáo viên và thủ thư tận tâm đã giúp tôi tìm thấy những điểm mạnh của mình khi tôi chín tuổi. Sức mạnh mà một người tốt có thể tạo ra trong việc góp phần tạo dựng nên cuộc đời của một đứa trẻ thật đáng kinh ngạc.

Trầm cảm có phải là bệnh không? Bản chất của việc trầm cảm trở lại.

Lời người dịch: Trong những bài viết trước đây tôi cố ý gọi trầm cảm là bệnh là vì muốn người đọc nghĩ về trạng thái trầm cảm một cách nghiêm trọng (nghiêm túc) hơn so với suy nghĩ thông thường coi đó chỉ là một trạng thái buồn chán nhất thời (và do đó có thể tự hết). Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra việc gọi (coi) trầm cảm là bệnh theo cách hiểu thông thường có thể làm cho những người muốn “chữa bệnh” – cho mình hoặc cho người khác – hiểu sai về bản chất của trầm cảm và vì thế có thể có cách tiếp cận hay những mong muốn “chữa bệnh” không thực tế. Bởi vậy mà tôi dịch giới thiệu bài viết này.

Tác giả, TS. Stephen Diamond, là một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý tại Los Angeles. Nguyễn Hồng Anh lược dịch từ bài gốc “Is Depression a Disease? The Recurring Nature of Depression” đăng trên Psychology Today ngày 01/09/2008 (truy cập ngày 28/07/2016).

Trầm cảm là gì? Nó có phải bệnh không? Một rối loạn tâm thần? Sự mất cân bằng sinh hóa? Một sự rối loạn chức năng của não bộ? Một hội chứng tâm lý? Một khủng hoảng hiện sinh hoặc tinh thần? Ở đây tôi muốn thảo luận về trầm cảm với tư cách một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý đã thực hành trị liệu tâm lý được hơn ba thập kỷ.

Theo tôi, câu hỏi quan trọng liệu trầm cảm (đơn cực hoặc lưỡng cực) có phải là bệnh không xuất phát từ việc áp dụng mô hình y khoa cho lý thuyết và thực hành tâm thần học và tâm lý học có phần cần ngờ vực. “Mô hình y khoa” (medical model) là gì? Mô hình y khoa là một hệ thuyết nền tảng của thực hành y học lâm sàng: Các triệu chứng được xem như biểu hiện của các tiến trình sinh lý bệnh học ([vẫn gọi đơn giản là] bệnh) có thể được chẩn đoán và điều trị. Mục đích của điều trị y khoa là loại bỏ, ngăn chặn hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Để làm giảm đau đớn và kéo dài sự sống nhiều nhất có thể. Kể từ thời Hippocrates, các thầy thuốc đã trung thành với hệ thuyết và cách thực hành này.

Mô hình y khoa là một cách nhìn đặc thù về đau đớn, hủy hoại, rối loạn chức năng và, rốt cục là, cái chết. Nó là một hệ thuyết, một lăng kính giúp các thầy thuốc và những người khác hiểu về các hiện tượng bất thường như bệnh bạch cầu (leukemia), tiểu đường, và giờ, trầm cảm và nhiều rối loạn tâm thần khác. Nhưng dù mô hình y khoa đã có những đóng góp lớn lao trong việc chẩn đoán và trị bệnh, việc áp dụng nó cho các trải nghiệm đặc thù như trầm cảm, chứng loạn thần, và lo âu là có vấn đề.

Không thể phủ nhận là những người trầm cảm nặng là người ốm. Trầm cảm có thể gây suy nhược và trong một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các triệu chứng thực thể như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau kinh niên, tiêu chảy, mất ngủ, v.v. thường xảy ra với trầm cảm chính yếu (major depression). Sử dụng thuật ngữ y khoa thì “điều trị” là bắt buộc. Câu hỏi thực sự là nên điều trị dạng nào? Câu trả lời một phần tùy thuộc vào cách hiểu về nguyên nhân gây trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần chính yếu khác như rối loạn lưỡng cực và loạn thần. Có nhiều lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây trầm cảm, nhưng không lý thuyết nào đã được chứng minh hoàn toàn thuyết phục. Các lý thuyết nhân quả này đưa ra các giải thích về sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra khả năng có ít nhất một vài yếu tố bẩm sinh về gien (genetic predisposition) đối với trầm cảm đơn cực và lưỡng cực, cũng như các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc. Nhưng yếu tố bẩm sinh sinh học không phải là quan hệ nhân quả. Một số tác nhân khác (đôi khi không được nhận dạng) như: mất mát, stress, sự tách biệt/cách ly, chấn thương/thương tổn (trauma), sự vô nghĩa, sự thất vọng, lạm dụng chất kích thích, sự giận dữ bị kìm nén lâu ngày có thể, và thường, góp phần quan trọng, nếu không muốn nói góp phần chính, dẫn tới những rối loạn nói trên.

Nhưng dù nguyên nhân căn bản của trầm cảm là gì, hiện các nhà lâm sàng vẫn chưa đưa ra được cho người trầm cảm các phương pháp điều trị hiệu quả và quyết liệt nhất. Áp dụng dược lý tâm thần (psychopharmacology) trong điều trị trầm cảm nặng, dù có những hạn chế, đã có tính đột phá và cứu mạng người trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm và thuốc điều hòa khí sắc làm được những điều mà trị liệu tâm lý không làm được: chúng làm giảm tương đối nhanh các triệu chứng gây đau đớn và suy nhược của trầm cảm và do đó đưa những biến động khí sắc nguy hiểm đến trạng thái ổn định. Điều này có chứng minh rằng trầm cảm căn bản là một bệnh lý sinh học? Không hề. Nó chỉ cho thấy rằng chúng ta đã may mắn tìm ra phương tiện sinh hóa để ứng phó với và kiểm soát những triệu chứng nguy cấp nhất của trầm cảm: rối loạn ăn và ngủ, mất hứng thú, thờ ơ, tâm trạng trầm uất hoặc hưng cảm, lo âu, xu hướng tự sát, v.v. Nhưng như TS Kramer khẳng định trong bài viết gần đây của ông, kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm được giảm nhẹ nhờ dùng thuốc, tình trạng trầm cảm bên dưới hiển nhiên vẫn còn, nên kể cả những người đang dùng thuốc vẫn có nguy cơ rơi vào các đợt mới trong tương lai. Hơn một nửa số người trải qua đợt trầm cảm lần thứ nhất có xu hướng tiếp tục trải qua các đợt trầm cảm mới ở một thời điểm nào đó [trong tương lai]. Xác suất tái phát tăng vọt (90%) nếu đã trải qua ba lần trầm cảm. Nguy cơ này nghĩa là gì? Nó dường như gợi ý rằng điều trị sinh hóa không giải quyết được vấn đề. Tính dễ tổn thương kéo dài tiềm tàng này có nghĩa là gì? Nó là cốt lõi trầm cảm, là trái tim của con rắn đa đầu Hydra.

Một số rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm, có thể được ví với Hydra huyền thoại: một con quái vật lớn trong thần thoại với chín cái đầu rắn, mỗi đầu đều tiết ra nọc độc chết người. Nhiều người phải chịu đựng vô số triệu chứng – như lo âu, trầm uất, đau kinh niên, bứt rứt, mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, các đợt hoảng loạn, v.v. – mà sau khi đã bị chế ngự bằng thuốc, lại quay trở lại còn khủng khiếp hơn. Người anh hùng Hercules trong thần thoại Hy Lạp đã phải đánh nhau với Hydra hủy diệt. Lừa nó ra khỏi hang, chàng lần lượt chặt đứt những cái đầu rắn của nó. Nhưng chẳng mấy chốc, mỗi chỗ bị chặt lại mọc ra hai cái đầu mới. Hơn nữa, Hydra gớm ghiếc còn có một cái đầu bất tử không thể tiêu diệt được. Hercules cuối cùng đã đánh bại Hydra hủy diệt như thế nào? Trước tiên, Hercules dùng lửa đốt những chỗ bị chặt để ngăn những cái đầu mới mọc ra. Sau đó, chàng chôn cái đầu bất tử của Hydra dưới một tảng đá lớn để vô hiệu hóa nó. Nhưng bởi vì cái đầu này là bất tử, Hydra không bao giờ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Nó chỉ bị làm yếu đi và bắt quy phục.

Trầm cảm có chút giống với Hydra. Bạn có thể thử loại bỏ các triệu chứng bằng thuốc (thậm chí kể cả trị liệu bằng sốc điện trong trường hợp không đáp ứng thuốc), nhưng chúng vẫn có xu hướng trở lại. Trầm cảm có thể bị đánh bại không? Không thể trừ phi tìm tới trái tim của Hydra. Gốc rễ của trầm cảm, theo quan sát lâm sàng của cá nhân tôi, cơ bản thường mang tính tâm lý hơn là sinh hóa – mặc dù hai khía cạnh này rõ ràng có ảnh hưởng lẫn nhau. Thường ở trung tâm của trầm cảm là những căm ghét, tức tối, giận dữ, oán hận bị đè nén. Bị bỏ rơi. Bị phản bội. Nản lòng. Thương tiếc khôn nguôi. Sự vô nghĩa. Sự tầm thường. Mất niềm tin. Nếu không can thiệp quyết liệt vào trung tâm cảm xúc, tinh thần và tâm lý này của trầm cảm, thì không thể giải quyết triệt để được. Chỉ có thể nén lại tạm thời. Đó là lý do tại sao điều trị trầm cảm bằng thuốc, dù vô giá, không thể thay thế được trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý tâm thần. Tấn công kép liên tục vào Hydra-trầm cảm sẽ ngăn chặn hoặc giảm thiểu những vấn đề chính yếu, và có thể kiềm tỏa được Hydra. Trong khi nhiều người có thể luôn mang những yếu tố sinh học gien và/hoặc tâm lý có khả năng dẫn tới một giai đoạn trầm cảm mới trong tương lai, điều trị bằng liệu pháp tâm lý như nói trên có thể giúp họ kiềm tỏa được những nguy cơ, chính là đánh bại được Hydra.

Trầm cảm có thể chữa được không? Nó có nên được điều trị như các bệnh khác không? Tôi nghĩ cái đó còn tùy. Một số dạng trầm cảm nhẹ tới trung bình và thậm chí nặng rõ ràng là phản ứng mang tính hoàn cảnh đối với stress, thương tổn, mất mát và các sự việc khác xảy ra trong đời. Những cái được gọi là rối loạn hoặc thậm chí các đợt trầm cảm chính yếu có thể được phục hồi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp được điều trị đầy đủ, đặc biệt là trị liệu tâm lý. Trầm cảm nặng và mãn tính như rối loạn khí sắc, rối loạn trầm cảm chính yếu tái phát, rối loạn khí sắc chu kỳ và rối loạn lưỡng cực đều giống Hydra, đòi hỏi phải có điều trị tích cực qua nhiều giai đoạn kéo dài. Nhưng kể cả trong những điều kiện dường như tương đối khó can thiệp, tiếp cận tới trái tim của Hydra với trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý có thể làm giảm cả mức độ và tần suất của các đợt trầm cảm và/hoặc hưng cảm. Bằng cách cải thiện điểm khởi phát giữa các đợt bằng trị liệu tâm lý, mức độ và tần suất của các đợt tiếp sau có thể giảm xuống. Trong khi việc chỉ dùng thuốc để đẩy lui Hydra có vẻ như sẽ khiến tăng dần liều dùng và tăng số loại thuốc cần dùng để kiềm chế nó, trị liệu tâm lý theo cách tôi gợi ý trong cuốn sách của mình có thể làm giảm sự phụ thuộc vào việc dùng thuốc, bởi ý nghĩa của trầm cảm và các nguồn gốc tâm lý của nó được trị liệu tận gốc.

Do đó, tôi đề xuất rằng trầm cảm không phải là một bệnh nên được điều trị theo cách như với tiểu đường chẳng hạn (mà bản thân bệnh này trong nhiều trường hợp đã được biết là có liên quan tới stress). Trầm cảm là một hội chứng sinh học–tâm lý–xã hội đòi hỏi nhiều hơn là chỉ can thiệp bằng thuốc và đang cần phải có những phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả hơn nữa.