Dân chủ có phải một giá trị toàn cầu không?

Một comment rất hay phản bác lại bài báo “Democracy is not a mystifying western plot – it is a universal value” của tờ The Guardian, được featured trong một newsletter của tờ này mà tôi đăng ký nhận:

“I live in China. It’s not a democracy, and most people have no particularly strong desire that it should be one. The present system of government is working well for them, the economy is still growing at an extraordinary rate. People’s lives are better than their parents’, and far better than their grandparents’. That is what is important to them. Should the economy go South, then I imagine there might be a revived interest in democracy, but that would be as a means to an end (prosperity) rather than as a goal in itself.

So – no, democracy is not a ‘universal value’, and it is highly dangerous to treat it as such. Trying to impose democracy on people who have no desire for it leads to chaos, bloodshed, and racial and ethnic strife, as many recent examples (Iraq, Sudan, Afghanistan, Libya … ) unfortunately prove.”

Link đến comment ở đây.

Tự dưng tôi lại nhớ đến công việc “cứu thế giới” của mình. Nhớ đến đảng cộng hòa của nước Mỹ nữa. Và cũng nghĩ là ở VN mà có đảng cộng hòa thì hẳn cũng phải đông đảng viên lắm đây. 😀

Advertisements

12 thoughts on “Dân chủ có phải một giá trị toàn cầu không?

  1. Nguyễn Huy Hoàng

    Ôi thần linh ơi, tớ nghi ngờ cái bạn comment đó là DLV quá, hehe. Thực ra nếu bạn ấy thực lòng comment như vậy thì tớ nghĩ chẳng qua là chế độ ở Trung Quốc vẫn đang có được legitimacy dựa trên high economic performance trên cơ sở là nếu phần lớn người dân vẫn hài lòng với những gì mà họ đang có (cơm no áo ấm) ở một mức độ đủ để làm lu mờ những mong muốn khác như tự do ngôn luận vân vân hoặc đơn giản là họ chưa thể nghĩ đến (aka “dân trí thấp” lol) thì khái niệm dân chủ như một giá trị phổ quát vẫn là điều gì đó không có thật. Vì trong khi chế độ có là độc tài toàn trị thì nếu những hạn chế chưa đạt tới ngưỡng không thể chịu đựng được thì người dân dù sao vẫn mong mỏi một sự ổn định chính trị hơn là sự không chắc chắn trong việc thay đổi chính quyền; trong trường hợp ngược lại thì dân chủ là phương án tốt nhất hiện có. Câu cuối cùng trong đoạn đầu của bạn ấy hơi có vấn đề vì dân chủ chắc chắn mang lại nhiều giá trị khác chứ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để đem đến “mục đích cuối cùng” là sự thịnh vượng vật chất. Kể cả tiến trình dân chủ có như diễn biến của bộ “Cô dâu tám tuổi” thì cũng không ít người vẫn muốn theo dõi chứ, đúng không? 😀

    Like

    Reply
    1. Hong-Anh Nguyen Post author

      Hỏi thật đấy. Không phải là the economy is already going South à – nếu TQ được xem là trong cái South ấy? Với cả không hiểu cái đó thì liên quan gì đến việc một ngày nào đó Chính phủ TQ có thể cho mở rộng democracy, như phương Tây vẫn mong muốn và gây sức ép, nhưng chỉ là để tiếp tục lao đầu đến thịnh vượng?

      Tớ không để ý lắm đến câu đó vì chú ý nhiều hơn đến câu chuyện imposing democracy. Thực ra tớ cũng không hiểu tại sao phương Tây (đặc biệt là Mỹ) lại phải đi khắp nơi để thúc ép các chính phủ trở nên dân chủ hơn. Nếu bảo là vì muốn qua đó mà xác lập quyền lực thì tớ cũng chưa thật hiểu.

      Like

      Reply
      1. Nguyễn Huy Hoàng

        Just my hai cents.

        Tớ có cảm giác từ thời Bush con, đặc biệt là sau các vụ tấn công 9/11, Mỹ bắt đầu sấn sổ hơn trong việc chống lại các chế độ chuyên chế khi những lợi ích cốt lõi của họ có nguy cơ bị đe dọa tương tự như trước các lực lượng cộng sản trong thời Chiến tranh Lạnh. Điều này là bởi việc thúc đẩy dân chủ và xóa bỏ các chính quyền độc tài là một phương cách tạo ra các mạng lưới liên minh an toàn và củng cố và ổn định an ninh và hòa bình trong chính các nền dân chủ và trên thế giới bằng việc giảm thiểu nguy cơ xung đột và bất ổn từ trong các đất nước độc tài và giữa họ với các nền dân chủ.

        Tuy nhiên, “áp đặt” dân chủ lên các nước khác bằng vũ lực thường không đem lại hiệu quả, như thực tế đã cho thấy các lực lượng nổi dậy có xu hướng rơi vào một số tình huống nhất định (tạm gọi là những “cú sốc dân chủ” chẳng hạn), ví dụ như thiếu sức mạnh để quản trị đất nước và dẫn đến nội chiến giữa lực lượng bảo thủ và tự do, hoặc trở nên lệ thuộc vào viện trợ nước ngoài, hay chính phủ mới lại trở về với cung cách quản trị chuyên chế như cũ. Điều này, theo tớ, là bởi một nền dân chủ cần có các yếu tố “của dân” và “do dân.” Chính sự can thiệp từ các nền dân chủ khác đã phá vỡ bản chất của nó, và như thế sụp đổ vì bản thân yếu tố “vì dân” là không đủ. Nói một cách hình ảnh, quả còn quá non và xanh sẽ thối và hỏng nếu bị ép chín bằng cách giấm từ bên ngoài.

        Trong trường hợp của Trung Quốc, nếu nền kinh tế của họ suy thoái theo đà suy thoái của thế giới thì mọi chuyện sẽ không có gì thay đổi. Nhưng bởi có nhiều dấu hiệu cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang chững lại trong bối cảnh bất ổn leo thang trong nhiều lĩnh vực, họ sẽ cần tiến hành một số cải cách để đáp ứng được những đòi hỏi trong nước và quốc tế và xoa dịu sự bất mãn của người dân. Trước giờ có nhiều học giả dự đoán về sự sụp đổ chính trị của Trung Quốc theo sau sự sụp đổ về kinh tế (mà xui xẻo nhất Gordon Chang), nhưng nó vẫn chưa diễn ra. Ngay cả khi Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển và vươn lên thành nền kinh tế số một thế giới thì nó vẫn cần một số cải cách tự do và dân chủ, bởi thịnh vượng là một nhân tố quan trọng trong tiến trình này.

        Liked by 1 person

      2. Nguyễn Huy Hoàng

        Hòa bình nhờ dân chủ (Democratic peace)

        Thuyết hòa bình nhờ dân chủ lập luận rằng các quốc gia có hệ thống chính trị dân chủ tự do không bao giờ tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Nhà nghiên cứu Jack Levy trong một bài báo đăng trên tạp chí Journal of Interdisciplinary History vào năm 1988 cho rằng đây có lẽ là thực tế trong quan hệ quốc tế có tính chất gần nhất với một quy luật thực nghiệm vốn hiếm hoi trong các ngành khoa học xã hội.

        Thuyết hòa bình nhờ dân chủ được cho là bắt nguồn từ bài luận “Nền hòa bình vĩnh cửu” (Perpetual Peace) năm 1795 của Emanuel Kant, trong đó ông cho rằng giữa các quốc gia sẽ có được nền hòa bình nếu như họ theo thể chế cộng hòa tự do. Mặc dù Kant không đề cập đến khía cạnh dân chủ, nhưng thực tế các nền cộng hòa tự do nhìn chung có xu hướng theo đuổi dân chủ. Chính vì vậy có thể nói Kant chính là người khai sinh ra những ý tưởng đầu tiên cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ.

        Mặc dù vậy, phải gần 200 năm sau bài luận của Kant ra đời thì ý tưởng “hòa bình nhờ dân chủ” mới được củng cố và phát triển thành một tư tưởng có nhiều ảnh hưởng. Trong bài báo “A Force for Peace” đăng trong tạp chí Industrial Research năm 1972, Dean Babst, người đầu tiên thống kê về mối quan hệ giữa dân chủ và hòa bình, đã chỉ ra rằng “Từ năm 1789 đến năm 1914 không có cuộc chiến tranh nào giữa các quốc gia độc lập có chính phủ do dân cử”.

        Sau đó, một loạt các nghiên cứu khác của Melvin Small và David Singer (1976), Michael Doyle (1983), Rudolph Rummel (1983), Zeev Maoz và Bruce Russett (1992)… cũng đã góp phần củng cố thuyết “hòa bình nhờ dân chủ”, đặc biệt là qua các dữ liệu thống kê mang tính chất thực nghiệm lịch sử.

        Ví dụ, trong nghiên cứu năm 1992 của mình, Maoz và Russett tập trung vào thời kỳ từ 1946 đến 1986, là giai đoạn số lượng các nền dân chủ đã tăng lên đáng kể, đồng thời hai ông cũng giới hạn các mối quan hệ được phân tích trong phạm vi những cặp quốc gia “phù hợp về mặt chính trị”. Theo đó Maoz và Russett chỉ nghiên cứu những cặp quốc gia gần gũi nhau về mặt địa lý và bao gồm ít nhất một cường quốc (Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc). Kết quả cho thấy trong số 29.081 cặp quan hệ mà họ phân tích, không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa các quốc gia dân chủ trong giai đoạn 1946 đến 1986.

        Tương tự, nếu một cuộc chiến tranh được định nghĩa là một cuộc xung đột vũ trang khiến ít nhất 1.000 người thiệt mạng thì từ năm 1816 đến năm 1991 có tất cả 353 cặp quốc gia tham gia vào các cuộc chiến tranh như vậy. Tuy nhiên không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa hai quốc gia dân chủ, trong khi 155 cuộc xảy ra giữa một quốc gia dân chủ và một quốc gia phi dân chủ, và 198 cuộc là giữa hai quốc gia phi dân chủ với nhau.

        Tuy nhiên ý nghĩa của những con số thống kê này là không rõ ràng. Liệu có mối liên hệ nhân quả nào giữa dân chủ với xu hướng tham gia chiến tranh của các quốc gia hay không? Nhiều nhà chỉ trích cho rằng trước tháng 03 năm 1999 khi NATO không kích Nam Tư, một thực tế là không có cuộc chiến tranh nào diễn ra giữa hai quốc gia cùng có các nhà hàng của hãng McDonald’s. Chính vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là liệu có phải các quốc gia dân chủ không tiến hành chiến tranh chống lại nhau là bởi chế độ chính trị dân chủ của họ hay không, hay là bởi các yếu tố khác nữa? Ví dụ, một số học giả cho rằng mối quan hệ tương đối hòa bình giữa các quốc gia dân chủ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh xuất phát từ sự tồn tại mối đe dọa từ Liên Xô, khiến các quốc gia này đoàn kết và hợp tác với nhau hơn để đối phó với mối đe dọa đó.

        Tuy nhiên, ngay cả khi lập luận này là thuyết phục thì chúng ta có thể lý giải như thế nào về những thời kỳ khác, khi các quốc gia dân chủ vẫn chung sống hòa bình với nhau khi không có những mối đe dọa chung như vậy?

        Các nhà nghiên cứu ủng hộ thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng có nhiều yếu tố khác nhau lý giải cho mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia dân chủ. Các yếu tố này bắt nguồn từ chính tính chất nền chính trị nội bộ của các quốc gia dân chủ, cũng như mối quan hệ của họ với nhau.

        Một quốc gia dân chủ thường được định nghĩa là một quốc gia mà ở đó có tổ chức các cuộc bầu cử phổ thông nhằm bầu chọn các vị trí chủ chốt trong chính quyền với sự tham gia của các đảng phái chính trị cạnh tranh lẫn nhau. Ngoài ra, chính quyền của các quốc gia này phải tôn trọng các quyền tự do dân sự và chính trị cơ bản của người dân. Các nhà lý thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng bản chất dân chủ của các quốc gia này khiến họ trở nên hòa bình hơn trong quan hệ với các quốc gia khác.

        Thứ nhất, các xã hội dựa trên các chính sách kinh tế mở như các quốc gia dân chủ thường kiềm chế tham vọng của nhà nước trong việc tiến hành chiến tranh xâm lược bành trướng do chiến tranh được coi là gây thiệt hại hoặc không mang lại lợi ích về mặt kinh tế. Mặt khác, trong các nền dân chủ, người dân có tiếng nói và họ thường gây áp lực lên chính phủ nhằm buộc chính phủ tránh các cuộc chiến tranh hao người tốn của. Ngoài ra, nền văn hóa tự do thường bén rễ sâu trong các nền dân chủ, khiến cho các nền dân chủ này hạn chế xu hướng xâm lược ra bên ngoài, bởi họ cũng muốn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của các dân tộc khác. Điều này khiến cho các nền dân chủ tự do duy trì một mối quan hệ quốc tế hòa bình hơn so với các quốc gia độc tài.

        Tuy nhiên các lập luận này đã gặp phải nhiều chỉ trích, bởi lẽ nếu bản chất của các quốc gia dân chủ là hòa bình, thì họ phải duy trì quan hệ hòa bình với các quốc gia dân chủ lẫn phi dân chủ. Trên thực tế, chiến tranh cho dù chống lại một quốc gia dân chủ hay phi dân chủ đều có thể gây hao người tốn của như nhau. Tuy nhiên trên thực tế các quốc gia dân chủ cũng tham gia các cuộc chiến tranh chống lại các quốc gia phi dân chủ nhiều không kém bản thân các cuộc chiến tranh do các quốc gia phi dân chủ gây ra.

        Thứ hai, các nhà lý thuyết hòa bình nhờ dân chủ cho rằng các thế chế trong lòng các nền dân chủ luôn kiểm soát và cân bằng lẫn nhau, qua đó kiềm chế xu hướng hiếu chiến của chính phủ cầm quyền. Cụ thể, các thể chế dân chủ buộc các nhà lãnh đạo quốc gia phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân về các chính sách của họ và nếu một nhà lãnh đạo dân chủ tiến hành chiến tranh vì các lý do mà người dân cho rằng không đầy đủ, thiếu thuyết phục hoặc gây thiệt hại cho đất nước thì người dân có thể khiến các nhà lãnh đạo đó mất chức trong các kỳ bầu cử hoặc thủ tục luận tội. Chính vì lý do này, các nhà lãnh đạo dân chủ sẽ thận trọng và kiềm chế hơn khi cân nhắc tiến hành các cuộc chiến tranh.

        Lập luận này mặc dù là một cơ sở quan trọng cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ nhưng cũng có những khuyết điểm. Ví dụ, bản thân chính quyền các quốc gia dân chủ cũng có nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, và trong nhiều trường hợp các cơ quan này có thể vận hành trong bí mật và chỉ báo cáo trực tiếp với các nhà lãnh đạo tối cao mà thôi. Điển hình cho trường hợp này là các cơ quan an ninh, tình báo hay quân đội, ví dụ như Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Điều này khiến cho ý nghĩa của sự minh bạch hay cơ chế kiểm soát và cân bằng trong các nền dân chủ bị giảm sút.

        Nguyên nhân thứ ba mà các nhà các nhà nghiên cứu đưa ra nhằm ủng hộ cho thuyết hòa bình nhờ dân chủ liên quan đến khía cạnh văn hóa. Trong nền văn hóa dân chủ tự do, các cá nhân và các nhóm thường ưu tiên các biện pháp phi bạo lực trong việc giải quyết tranh chấp và biết cách chấp nhận các quan điểm trái ngược với mình. Hơn nữa, các quốc gia dân chủ chia sẻ các giá trị chung, do đó họ dễ dàng hơn trong việc thương lượng, đàm phán với nhau, và hạn chế các xung đột hay biện pháp cưỡng bức.

        Có thể nói mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh logic cũng như tính xác thực nhưng thuyết hòa bình nhờ dân chủ đã tạo ra những ảnh hưởng đáng kể đối với giới học giả cũng như các nhà hoạch định chính sách. Một số người lạc quan cho rằng dân chủ sẽ được mở rộng trên toàn cầu và thế giới sẽ trở nên hòa bình hơn. Đây cũng là lập luận được một số chính quyền tiêu biểu là Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush sử dụng để đưa ra chính sách thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trên toàn thế giới.

        Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, quá trình dân chủ hóa thường đòi hỏi sự đầu tư rất nhiều nguồn lực. Mặt khác, quá trình dân chủ hóa trong nhiều trường hợp lại tạo ra những bất ổn cho chính các quốc gia đó. Một số nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi sang dân chủ cũng có xu hướng gây chiến tranh nhiều hơn so với các quốc gia đã có nền dân chủ lâu đời. Ví dụ, sau sự kiện “Mùa xuân Ảrập” năm 2011 và việc Ai Cập dân chủ hóa sau sự ra đi của Tổng thống Edhud Mubarak, một câu hỏi được đặt ra là liệu khu vực Trung Đông sẽ trở nên hòa bình hơn hay ngược lại, nhất là khi nhiều người cho rằng một nước Ai Cập dân chủ có thể bác bỏ hiệp định hòa bình đã được duy trì với Israel kể từ năm 1979.

        Tác giả: Lê Hồng Hiệp | Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

        Liked by 1 person

    2. Hong-Anh Nguyen Post author

      Like vậy chứ ban đầu đọc đoạn cuối của bạn chả hiểu bạn đang nói sang cái quái gì. “Go South” là “go down”, vậy mà cũng tiếc một câu giải thích cho tớ, mất công viết dài dòng. Mà giờ tớ thấy là câu cuối của bạn viết nhầm “dân chủ” thành “thịnh vượng” hay sao ấy, nếu không tớ mà hiểu được câu này chết liền à.

      Quay trở lại cái cmt đầu của bạn, tớ nghĩ là bạn hiểu nhầm ý bạn kia thôi. Tớ nghĩ là ý bạn ấy bảo là kể cả khi TQ có mở rộng dân chủ thì cũng chỉ là để xoa dịu lòng dân hay lòng ai đó chứ TQ sẽ không bao giờ thực sự muốn có dân chủ – tức là chỉ nói về real interest của TQ thôi, chứ không phải ý nói chung chung là dân chủ chỉ là means dẫn tới thịnh vượng.

      Cái phần dân chủ do dân, của dân mà bạn nói tớ nghĩ nó liên quan đến khái niệm văn hóa dân chủ. Tớ đang viết một chút về cái này nhưng khả năng chắc còn lâu mới xong.

      Còn cái vụ xây dựng liên minh bằng việc dân chủ hóa các chính phủ tớ vẫn thấy vướng vướng thế nào ấy, chưa thật thông. Nhưng nhân đó tự dưng lại nhớ đến những màn đi đêm, mua chuộc, giết lén mà John Perkins mô tả trong “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế”, chẳng biết những tiến trình đó giờ đi đến đâu rồi. 😀

      Like

      Reply
      1. Nguyễn Huy Hoàng

        Thực ra ban đầu tớ cũng định bảo bạn là go southgo down đấy, nhưng mà nghĩ ơ chẳng lẽ bạn không hiểu nên mới phải hỏi lại bạn hỏi thật hay đùa, sợ bị hớ. Rồi lại đọc bạn bảo “nếu TQ được xem là trong cái South” nên tớ nghĩ hay là tớ hiểu nhầm nhỉ lol nên mới viết dài dòng thế. Đoạn cuối tớ dựa trên một lập luận rằng các nước càng giàu thì đòi hỏi dân chủ càng cao, cần phải nghĩ thêm một chút. Dĩ nhiên là bảo các de facto single-party state như Trung Quốc muốn có dân chủ hoàn toàn thì vô lý quá, và đúng là tớ nghĩ nó tiến hành cải cách chỉ để đối phó với những bất ổn đang đe dọa tới sự tồn tại của đảng cầm quyền và xoa dịu lòng dân mà thôi, nhưng cái bạn comment trên cơ quan của hiệp hội người gác cổng đó lại đang cố biện hộ là chính người dân Trung Quốc cũng không mong muốn dân chủ vì (i) chế độ hoạt động tương đối tốt (ii) kinh tế vẫn phát triển mạnh và (iii) cuộc sống của người dân đang yên lành, và họ không mong gì hơn thế (which is clearly wrong) đâu ấy. 😀

        Like

    3. Hong-Anh Nguyen Post author

      Tớ lại khá đồng cảm với bạn commentator ấy vì tớ có biết những người TQ không hề nghĩ rằng đất nước họ lại có vấn đề về độc tài gớm như là mọi người bên ngoài TQ vẫn nghĩ như một điều hiển nhiên. Anyway, bỏ qua common sense, let’s see what I have found:

      Một nghiên cứu của PEW cho biết một nửa số người TQ được hỏi nói rằng họ thích dân chủ kiểu Mỹ. Chi tiết hơn xem ở đây.

      Tuy nhiên, một nghiên cứu được trình bày năm 2007 tại Duke University chỉ ra rằng tuy đa số người TQ nói rằng họ thích dân chủ, cũng rất đông cho rằng chính phủ của họ khá dân chủ – cái này do quan niệm của họ về dân chủ khác với quan điểm của phương Tây. Chi tiết hơn xem ở đây. Nhớ down cái ppt về xem.

      Một nghiên cứu gần hơn chuẩn bị cho một hội thảo năm 2014 có viết: “Notice that we found democratic centralism, a peculiar concept used in communist states that refers to communist autocracy, also chosen in China as one of the top-three answers to define meanings of democracy. This vindicates the apprehension that people living in a non-democracy might think of democracy in the way totally against what democracy should mean.” – “democratic centralism” phải gọi bằng tiếng Việt là “dân chủ tập trung” nó mới nhiều cảm xúc :D. Chi tiết hơn xem ở đây. (Paper này tớ chưa xem hết.)

      Một cái nghiên cứu gì của một viện nghiên cứu TQ bảo là đa số (hơn 60%) người dân thấy ok với chính phủ hiện tại, tớ thấy không đáng tin lắm nên chả dẫn nguồn nữa.

      Với có quyển sách How East Asians View Democracy available một phần trên google book, note lại để ai thích thì vô đọc thêm.

      BỔ SUNG: Bác tác giả của cái ppt 2007 nói trên có quyển The Cultural Logic of Politics in Mainland China and Taiwan (2015) cũng available trên google book. Kun quá!

      Liked by 1 person

      Reply
  2. Khac Giang

    Tự dưng đọc được mấy dòng tranh luận này, thấy hay quá nên mình cũng xin bon chen tí. Dân chủ là universal values thì khỏi phải tranh cãi rồi, chính Trung Quốc tự gọi mình là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa mà. Khác biệt chỉ là định nghĩa thế nào là dân chủ, tiêu chí như thế nào,…thôi.

    Câu chuyện phương Tây đi “áp đặt” dân chủ thì còn gọi là liberal imperialism, cái này về bản chất thực tiễn thì như Hoàng nói, xây dựng được hệ thống toàn nước có thể chế như mình thì an tâm hơn về an ninh. Và thực tế lịch sử thì chưa có nước dân chủ nào đánh nhau cả (chưa bàn đến conspiracy theory là xây dựng thể chế dân chủ để đạt được các quyền lợi kinh tế cho các nước Âu – Mỹ).

    Đi sâu hơn về mặt lý tưởng, thì “liberal imperialism” này liên quan đến 2 khái niệm negative liberty và positive liberty. Nếu cái đầu nhấn mạnh đến quyền tự quyết, thì cái thứ hai nói đến các thể loại quyền con người. Các nhà dân chủ cho rằng muốn để cho, dân Việt chẳng hạn, được tự do quyết định vận mệnh, thì phải “giải phóng” họ khỏi cường quyền và nghèo đói trước tạo tiền đề cho việc đó. Positive liberty cũng là căn gốc sâu xa của can thiệp nhân đạo (humanitarian intervention) bắt đầu nổi lên từ hồi NATO oánh Libya.

    Chém vậy thôi, đọc xong đừng tin nhé.

    Liked by 2 people

    Reply
      1. Nguyễn Huy Hoàng

        Bạn save bài này nữa nha 😛

        Dân chủ có đem lại hòa bình hay không?

        Abstract: Quan điểm cho rằng các quốc gia theo chế độ dân chủ đã và sẽ không có xu hướng gây chiến với nhau là một quan điểm đi ngược lại với những tư tưởng truyền thống của chủ nghĩa hiện thực và tân hiện thực – những tư tưởng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong lĩnh vực chính trị quốc tế. Từ giữa thập niên 1970, sự xuất hiện của các dữ liệu mới cùng với sự phát triển của kỹ thuật phân tích, và sự phát triển mạnh mẽ về mặt lý thuyết đã hỗ trợ cho các chuyên gia đánh giá đưa ra nhiều bằng chứng thực nghiệm ấn tượng để bảo vệ cho mệnh đề hòa bình nhờ dân chủ ở trên. Một số ý kiến chỉ trích lại cho rằng hoà bình giữa các quốc gia theo chế độ dân chủ là kết quả của việc các quốc gia này cùng chia sẻ với nhau những lợi ích chung từ thời Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, lập luận này lại gặp phải nhiều nghi ngờ từ các bằng chứng thống kê và các lập luận dựa trên trực giác khác. Bên cạnh đó, cũng có lập luận cho rằng quá trình quá độ sang dân chủ là thời điểm các quốc gia có xu hướng gây chiến với các quốc gia khác. Lập luận này cũng bị cho là không mang tính thuyết phục cao. Các bằng chứng thực nghiệm khác nhau cùng với nền tảng lý thuyết đang phát triển càng làm người ta tin tưởng hơn vào tính xác thực của thuyết hòa bình nhờ dân chủ.

        (James Lee Ray (1998). “Does Democracy Cause Peace?” Annual Review of Political Science, No.1, pp. 27-46.)

        Liked by 2 people

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s