Author Archives: HA

Nhìn lại chuyện đón đoàn U23

Đoàn U23 ở đây bao gồm cả các cầu thủ, ban huấn luyện, và các cán bộ sang Thường Châu vừa rồi.

Việc tổ chức đón đoàn trở về sau giải đấu là một sự kiện lớn, việc tổ chức dĩ nhiên không phải đơn giản. Có nhiều chuyện đã được nhân dân điểm mặt chỉ tên ra rồi, nhưng với tư cách cá nhân tôi vẫn viết ra đây một vài điều tôi thấy không hài lòng. Sau này rất có thể chúng ta còn phải tổ chức đón đoàn rầm rộ hoành tráng như thế này khi đội tuyển tiếp tục chinh phục được những đỉnh cao mới, hy vọng lúc ấy các nhà tổ chức chuẩn bị tốt hơn.

1- Đồ ăn cho đoàn

Tôi không thể không nhíu mày khi nhìn thấy bức ảnh chụp bữa ăn trên chuyến bay trở về của đoàn. Những lần sau xin làm ơn chuẩn bị cho đoàn một bữa ăn tươm tất hơn, thịnh soạn hơn.

Và chuyện để các “người hùng” nhịn đói đến đêm cho kịp tiến độ chương trình vinh danh thì hy vọng ban tổ chức đã “rút kinh nghiệm sâu sắc” và lần sau sẽ chuẩn bị sẵn các phương án dự trữ lương thực cho đoàn. Thôi thì coi như các cầu thủ được ngay một kinh nghiệm làm người nổi tiếng.

2- Màn diễn bikini trên máy bay

Coi như Vietjet đã tự đào mồ chôn mình. Tự bắn vào chân mình không những một phát mà còn tận hai phát. Màn trình diễn phản cảm thì tôi không nói nữa, đến xin lỗi cũng không chân thành. Lỗi rành rành không nhận lại đi đổ thừa là “tự phát của nhóm hậu cần”. Đến đứa trẻ con cũng hiểu là không có người bày trò, chỉ đạo, tính toán, chuẩn bị thì ở đâu ra cái màn đó.

Tôi đã đọc lời giải thích và xin lỗi của bạn người mẫu H. trong nhóm người mẫu đó. Tôi thấy nó thành thực và có thể chấp nhận được lời xin lỗi đó. Còn lời xin lỗi của Vietjet không thể chấp nhận được. Dĩ nhiên chấp nhận lời xin lỗi không có nghĩa là đồng ý với sự việc đã diễn ra.

Việc đã xảy ra thì đã xảy ra rồi, nhưng ứng xử thế nào trước một sự việc không hay đã lỡ xảy ra cũng là việc quan trọng. Tôi không thấy báo chí có đưa lại một lời xin lỗi nào từ phía VFF về việc đã để một sự việc như thế xảy ra, mà chỉ thấy trích lại là “VFF rất tiếc và hoàn toàn không biết gì”. Tôi nghĩ rằng trong những sự việc như thế này, VFF cũng vẫn nên xin lỗi. Lỗi của VFF là đã không làm việc kỹ với Vietjet về việc tổ chức chuyến bay, để đối tác tự tung tự tác như vậy.

Trong những lần sau, VFF cần làm việc chi tiết và chặt chẽ hơn với các đối tác, quy định rõ là ngoài những hoạt động hai bên cùng thống nhất thì không được phép có các chương trình “tự phát” nào hết. Thiết nghĩ, những ai có mặt trên chuyến chuyên cơ VFF cũng nên nắm được.

Và khi có những sự cố bất thường như vậy, VFF nên có phản ứng nhanh như là yêu cầu ngừng ngay lại.

3 – Ông Lân Trung xí xớn vẫy tay chào trên xe bus của đoàn

Việc này mọi người đã lên án khá nhiều, nhưng tôi vẫn thấy có những ý kiến cho rằng ôi vui tí chả sao, chuyện nhỏ không cần phải làm to… Ơ hay, thế khi đi sinh nhật người khác bạn có vì vui quá mà xông ra ước hộ rồi thổi nến sinh nhật của người ta không??

Cá nhân tôi thấy đây không phải chuyện nhỏ. Phản cảm hơn cả việc trình diễn bikini trên máy bay. Nói nhẹ thì là vô duyên, mà nói cho đúng thì là vô liêm sỉ. Đúng là dạng phần tử cơ hội.

Nghe câu “VFF không bình luận và ông Trung làm đúng phận sự” của ông tổng VFF là hiểu ông Trung có cái ô lớn rồi.

Để tránh những sự việc nhố nhăng như thế này không xảy ra lần nữa, xét thuần túy về mặt tổ chức thì không khó. Nhưng nghe cái câu bao che của ông tổng VFF thì lại thấy rất gian nan.

4 – (Đừng) nói gì với các cầu thủ và ban huấn luyện khi gặp mặt?

Nói gì thì nói, đừng có nói là tôi đã phải chờ mấy giờ mấy phút mấy giây. Nghe nó nhỏ bé lắm. Thế nếu lên tận sân bay đón đoàn chẳng nhẽ khi gặp lại kể rằng đã phải dậy từ sớm thế này thế nọ hay sao? Nếu là tình cảm chân thành không ai người ta nói ra những điều như vậy.

Cũng đừng có nói là đoàn vui thì đói cũng không sao nhỉ. Không cần phải tới tận giờ cơm chiều mà trước tình hình đường đông di chuyển chậm như vậy đã rất nhiều người xót ruột cho đoàn không biết bao giờ họ mới được ăn, không biết trên xe có gì ăn không, không biết buổi trưa họ ăn gì.

Thế mà có người đã không mời các cháu được bữa cơm lại còn vô duyên, vô cảm.

 

Còn một vài chuyện nữa nhưng thôi kể ra nữa thì cũng hơi vụn vặt, nên chỉ nói mấy chuyện khó chịu nhất thôi.

Tưởng được nằm mơ giữa ban ngày một tí ai dè giữa cơn mơ vẫn chạy không thoát khỏi những thực tại đáng buồn. Hy vọng sẽ có những lần sau khá hơn.

Advertisements

Sau trận chung kết

Là khép lại một hành trình. Là bắt đầu một chặng đường chinh phục mới. Đúng như Tiến Dũng viết.

Cảm ơn các chàng trai, ban huấn luyện, và tất cả những người đã đổ bao công sức vào bóng đá Việt Nam để chúng ta có được một hành trình U23 Châu Á đầy cảm xúc như vừa rồi. Nhờ có hành trình ấy, Việt Nam vừa có một ký ức tập thể vô cùng tươi đẹp.

Cảm ơn các chàng trai đã biến tất cả người xem bóng đá Việt Nam trở thành những người đang yêu trong mấy tuần vừa qua.

Với cá nhân tôi, bóng đá là một tình yêu phai nhạt đã lâu. Sau một thời ăn ngủ bóng đá, khóc cười cùng bóng đá, thì mười mấy năm vừa rồi tôi chỉ còn xem bập bõm và thậm chí bỏ xem cả tin tức. Trận bóng lớn cuối cùng mà ký ức tôi còn lưu lại là một trận chung kết C1. Với bóng đá Việt Nam tôi lại càng thờ ơ. Ngoài những ký ức về một “thế hệ vàng” ngày trước, những cái tên như Văn Quyến, Công Vinh không gợi lên cho tôi cảm xúc gì. Tôi cũng không biết đã bao giờ xem CV đá hay chưa nữa.

Cho đến khi U23 Việt Nam thắng Iraq tôi mới bắt đầu quan tâm trở lại. Nhưng trận đá với Qatar ban đầu tôi cũng chẳng dám xem. Tôi không có niềm tin gì vào trận đấu ấy. Hay nói đúng hơn, tôi không dám gieo xuống một niềm tin, vì trong lòng đầy nỗi sợ hãi một sự thất vọng. Chả cần tìm hiểu tôi cũng biết Qatar là đội mạnh. Thắng Qatar thì vào đến chung kết cơ mà. Làm sao tôi dám mơ.

Tôi cứ thấp thỏm vừa làm việc chốc chốc lại mở một cái trang tin tường thuật trận đấu để hóng xem diễn biến thế nào. Việc Qatar ép sân, rồi ghi bàn lại càng khiến tôi không dám xem Việt Nam đá.

Và rồi Quang Hải ghi bàn.

Đến giờ này thì cụm từ “Quang Hải ghi bàn” đã có thể gợi lên vô vàn cảm xúc đối với người xem bóng đá Việt Nam.

Quang Hải ghi bàn. Thật như một câu thần chú.

Lúc ấy tôi không thể chỉ xem tường thuật bằng chữ nữa. Lúc ấy tôi hiểu ra rất nhanh là nếu tôi không xem trận đấu ngay là tôi sẽ bỏ lỡ cuộc sống đang diễn ra, như thể cuộc sống sẽ trôi qua ngay trước mắt tôi mà tôi không còn là một phần của nó.

Sự dõi theo ngắn ngủi của tôi với U23 Việt Nam tại giải đấu này, từ lúc Quang Hải ghi bàn gỡ hòa 1-1 trước Qatar cho đến hết trận chung kết kịch tính ngày hôm qua cũng đã khiến tôi cảm thấy mình quá may mắn vì đã được xem các bạn đá và được sống trong những cảm xúc mà tôi sẽ không bao giờ quên.

Cũng như nhiều người khác, tôi rất khâm phục các bạn và cũng học được nhiều điều từ các bạn.

Hôm nay, 28/1/2018, chào mừng các bạn trở về nhà!

 

Trước trận chung kết

Quá nhiều cảm xúc, quá nhiều suy nghĩ, quá nhiều câu hỏi từ sau trận thắng lịch sử của U23 Việt Nam trước U23 Qatar ngày 23/1/2018. Cũng cố gắng viết ra một vài dòng suy nghĩ, nhưng rồi vẫn lung tung beng, nhiều suy nghĩ vẫn chưa viết ra được thành lời cho chuẩn xác.

Loáng một cái đã đến ngày chung kết. Nhà chẳng có lá cờ nào. Nhưng tóc trên đầu đã kịp đỏ B-) . Không có sao vàng trên đầu. Nhưng không sao cả. Bao nhiêu Sao Vàng đang ở Thường Châu hết rồi. Thời tiết Thường Châu vẫn lạnh.

Ngày nào cũng mải miết đọc tin về U23. Trong khi các cháu gái rồ dại vì các chàng trai, mình lại nhiệt liệt hâm mộ ông già người Hàn. Trai trẻ có thể máu, trông có vẻ tự tin, nhưng dường như về tinh thần ông già vẫn đang làm một chỗ dựa vững chắc. Cho toàn đội. Cho cả một đất nước vừa mới quen.

Việt Nam nên tạc tượng ông Park! Ông ấy không chỉ là Guus Hiddink Việt Nam. Ông ấy là một người Hàn Quốc vĩ đại. Mr Park Hang-Seo is The Great Korean.

Như một bài viết mới đăng trên TTO, chúng ta ai cũng hiểu là Uzbek rất mạnh. Nhưng đã vào trận thì phải quyết thắng. Từ sau cái buổi chiều 23/1/2018, Việt Nam đã vĩnh viễn thay đổi! Đã vào trận phải quyết thắng! Phải dám nghĩ thì mới dám làm!

Một số anh nhà báo trên Fox Sports cứ bàn ra tán vào chuyện Việt Nam chơi phòng thủ, rằng thì là mà phòng thủ không nằm trong DNA của người Việt, blah blah blah. Các anh thân mến, đã từ lâu chúng ta đều biết chẳng có gì bất biến, mọi thứ đều thay đổi.

Việt Nam là một nước nhỏ nằm ở vị trí đắc địa, là nơi cửa ngõ hướng ra biển, là lý do vì sao các nước lớn luôn nhòm ngó. Chính vì thế, trong DNA của chúng tôi luôn dành chỗ cho sự linh hoạt. Chúng tôi luôn buộc phải linh hoạt.

Tại sao người hâm mộ Việt Nam vốn chuộng lối đá tấn công, như ông Park nói là ai cũng muốn đội tuyển đá như Barcelona, nay lại điên cuồng cổ vũ đội nhà chơi một lối chơi phòng thủ chắc chắn hơn, thực dụng hơn?

Đó không phải chỉ vì chúng ta đang đối đầu với những đối thủ lớn. Đó cũng không phải là vì người Việt Nam quá háo một cái danh hiệu cho bóng đá nước nhà.

Đó là vì tròn hai mươi năm trước đây, Việt Nam có một trận thua cay đắng mà trong suốt hai mươi năm qua người Việt chưa bao giờ quên. Đó là trận thua rất ất ơ trước Singapore sau khi đã thắng Thái Lan, đối thủ truyền kiếp, một cách ngoạn mục.

Trước khi U23 Việt Nam làm nên những kỳ tích lần này, ký ức cuối cùng của tôi về đội tuyển chính là cái năm 1998 ấy.

Người Việt Nam lên mây rất nhanh. Thực tế dường như mới là cái chúng ta thiếu.

Chưa bao giờ tôi được thấy một Hà Nội vui ngập tràn từ nhà ra phố như cái đêm ngày 23/1/2018. Chưa bao giờ tôi được thấy Việt Nam lại chung nhau một niềm hạnh phúc vô bờ bến như thế. Xưa giờ người Việt Nam chỉ biết nói “vui như Tết” là hết cỡ, nhưng ngày hôm đó mọi người đã phải nói “vui hơn Tết”. Niềm vui của ngày hôm đó là một đỉnh cao mới của hạnh phúc mà người Việt không còn đủ lời để diễn tả.

Ngày hôm nay, chúng ta đứng trước một đối thủ vô cùng mạnh. Hà Nội đang xám màu mưa. Thường Châu vẫn lạnh và bất lợi. Việc của chúng ta là quyết thắng!

Chúc các chàng trai thật bình tĩnh, tỉnh táo, lì đòn, hỗ trợ lẫn nhau, và tự tin dứt điểm! Cứ bình tĩnh mà thắng!

Nói gì về thất bại?

Một lần một người bạn, tạm gọi là A., tâm sự với tôi rằng tôi là người duy nhất bạn ấy dám kể cho nghe về những thất bại của bạn ấy, còn với những người khác bạn ấy chỉ dám nói về những thành công. Về nhà tôi tự hỏi tại sao lại như thế. Và rồi tôi đặt ra một giả thuyết là phải chăng vì tôi là một kẻ thất bại nên khi kể cho tôi nghe thì A. cảm thấy được an ủi hơn, vì xét cho cùng những thất bại của A. cũng chưa là gì so với tôi. Và tôi cũng hơi chột dạ, phải chăng vì thế mà A. hay chơi với tôi. Nhưng dù có là như vậy thật thì tôi cho là cũng do bản năng, hay tiềm thức gì đó thôi, chứ không phải A. ý thức được điều đó.

Nhưng những suy nghĩ đó làm tôi nhớ những ngày còn đi học, tôi có một người bạn khác, tạm gọi là B., mà tôi có cảm giác là luôn có sự cạnh tranh ngầm với tôi, hay thường than phiền với tôi về những lo lắng trong học hành nhưng rốt cuộc kết quả học tập của B. không bao giờ tệ như những gì B. kêu ca cả, và hình như là đều nhỉnh hơn tôi đôi chút. (Tôi thì không so mình với bất cứ ai cả nên những chuyện hơn kém như vậy quả thực tôi không nhớ.) Tôi duy trì một tình bạn bình thường với B. nhưng chỉ khi một người bạn khác, tạm gọi là C., bước vào cuộc đời tôi thì tôi mới nhận ra rằng B. không phải là một người bạn thực sự của tôi, mà có lẽ chỉ muốn “làm bạn” với tôi để bên cạnh B. luôn có một người kém hơn B. một chút. B. có lẽ giống như kiểu frenemy.

C. luôn thẳng thắn với tôi về những gì C. muốn đạt được và dự định phải cố gắng ra sao để đạt được mục tiêu (thay vì suốt ngày rên rỉ là ôi không đạt được đâu, không đạt được đâu và cuối cùng ồ thế nào mà mình lại vẫn đạt được này). C. và tôi dành nhiều thời gian nói về những gì chúng tôi thích. C. mang đến cho tôi năng lượng tích cực và giúp tôi hiểu thế nào là một người bạn thực sự. Chúng tôi làm bạn đến tận bây giờ.

Quay trở lại câu chuyện thất bại, hay đúng hơn là chuyện tôi thất bại. Sau khi tự hỏi mình rằng tôi có phải một kẻ thất bại không, tôi cũng chẳng biết phải trả lời thế nào cho thỏa đáng. Rõ ràng thất bại và thành công chỉ là những khái niệm tương đối vì mỗi cá nhân, mỗi tập thể, mỗi nền văn hóa tại những thời điểm khác nhau sẽ định nghĩa thất bại và thành công theo những cách khác nhau, có khi còn đối lập nhau. Còn xét về cá nhân thì ai chẳng có cả thất bại lẫn thành công, chẳng có ai là hoàn toàn thất bại hay hoàn toàn thành công.

Nhưng nói một cách tương đối thì có lẽ là kể từ khi bước chân vào cổng trường đại học là cuộc đời tôi bắt đầu thất bại liên tiếp trên mọi mặt trận. Và hành trình thất bại đó kéo dài hơn cả một thập kỷ. Hay nói một cách thời thượng, tôi đã dành cả thanh xuân để thất bại. Dĩ nhiên là cũng có những việc có thể gọi là thành công, nhưng những thành công ấy trở nên thật nhỏ bé trước những thất bại thật vĩ đại.

So no one told you life was gonna be this way

Your job’s a joke, you’re broke, your love life’s D.O.A.

It’s like you’re always stuck in second gear

When it hasn’t been your day, your week, your month, or even your year

(F.R.I.E.N.D.S)

Thật ra ngày ấy tôi không nghĩ nhiều đến chuyện thất bại hay chuyện tôi có phải là một kẻ thất bại hay không, bởi vì đơn giản tôi sinh ra đã là một kẻ không ham thành công gì cho cá nhân mình. Đôi khi tôi cũng thử cố gắng lục lọi trong con người mình xem mình có một ham muốn được thành công trong một lĩnh vực địa hạt nào đó hay không, nhưng tìm mãi vẫn không thấy. Đến tận bây giờ tôi cũng vẫn chưa bao giờ ao ước trở nên giàu có hay có một sự nghiệp rực rỡ hay có một gia đình nhỏ êm ấm hay đơn giản hơn một chút là có bằng cấp này nọ chẳng hạn.

Vậy với một kẻ không ham thành công thì liệu thất bại có nhẹ tựa lông hồng không?

Câu trả lời là không. Thất bại cũng mang đến cho tôi những cảm giác tiêu cực như chán nản, tự ti, và mất hy vọng như những người khác. Chỉ có điều là trước đây tôi không gọi tên những gì tôi trải qua là thất bại. Tôi chỉ biết là tôi thấy không hài lòng với những gì mình có và cứ loay xoay tìm cách thoát ra để đi tìm một cái gì mới mà không biết chính xác là mình đang đi tìm cái gì. Khi tìm được một cái gì đó khác rồi tôi vẫn thấy không hài lòng và cái vòng tròn chán nản – tìm kiếm ấy nó cứ lặp đi lặp lại. Cho đến một ngày tôi ngừng việc tìm kiếm (vì đã quá chán).

Khi tôi ngừng tìm kiếm thì một công việc tự dưng tìm đến tôi và vô tình nó lại như trở thành một thứ chắp nối lại những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của tôi (như đã khoe khoang hơn một năm nay). Tuy không phải là một thành công gì đáng kể nhưng nó đã trở thành công việc đầu tiên mà tôi cảm thấy hài lòng và muốn gắn bó. Và dĩ nhiên tôi không tránh khỏi việc suy ngẫm xem tại sao công việc này lại khiến tôi hài lòng mặc dù tôi nhận nó hoàn toàn chỉ vì tiền còn những công việc mà tôi đã từng làm trước đây, những công việc tôi đã chủ động tìm kiếm, và đều bắt đầu với ít nhiều hy vọng ấp ủ nào đó, thì lại làm tôi chán nản và bỏ cuộc.

Tôi đã nghĩ ngợi về nhiều yếu tố, nhưng mãi gần đây tôi mới nhận ra rằng một yếu tố quan trọng là cảm giác không thất bại. Các công việc trước đây của tôi hầu hết đều mang tới cho tôi cái cảm giác thất bại. Cái cảm giác không hài lòng, chán nản trước đây của tôi chính là cảm giác thất bại. Các công việc ấy thực ra không phải là thất bại, tôi biết như thế và cũng không ai bảo chúng thất bại cả. Chỉ là sâu thẳm bên trong tôi tự thấy công việc của mình không tạo ra được nhiều giá trị, tôi không hài lòng và tôi bế tắc, dù không biết cụ thể mình muốn đạt đến cái gì để có thể cảm thấy hài lòng.

Trong công việc hiện tại, tôi không còn cảm giác thất bại nữa. Không phải là mọi thứ đều trơn tru, cũng có những khó khăn, có những việc tôi không thích nhưng vẫn phải làm, và cũng có những việc tôi làm không tốt, nhưng sau tất cả tôi vẫn có thể nhìn thấy được giá trị của những gì mình tạo ra, dù cũng khiêm tốn thôi chứ không phải cái gì to tát cả. Nó mang tới cho tôi những năng lượng tích cực mà các công việc trước đây của tôi không mang lại cho tôi.

Nó mang tới cho tôi những năng lượng tích cực, giống như C. Và cũng giúp tôi nhìn về thất bại theo một cách khác, cũng giống như C. đã khiến tôi thay đổi cách nhìn về B. Thất bại đối với tôi hóa ra không phải theo các cách định nghĩa thông thường. Thất bại, với tôi, là một cảm giác.

Giờ thì câu hỏi liệu tôi có phải một kẻ thất bại hay không không còn khiến tôi phải nghĩ ngợi gì nữa. Thất bại chỉ là một cảm giác. Rồi sẽ có những lúc tôi sẽ lại cảm thấy thất bại, không hài lòng, và chán nản. Nhưng hy vọng đến những lúc ấy tôi sẽ không cảm thấy bế tắc nữa. Vì xét cho cùng, thất bại cũng chỉ là một cảm giác.

Miễn là mình đừng có tự nhấn chìm mình trong những cảm xúc tiêu cực mà quên đi rằng đôi khi tư duy logic thuần túy cũng giúp ích được khối việc. Thổ lộ cho hết những cảm xúc tiêu cực ra với ai đó rồi tìm một người lạnh lùng, tỉnh táo mà nói chuyện!

Khi không viết thì làm gì?

Nghe oai quá, cứ như thể là bình thường mình chăm viết lắm ấy. Chẳng qua là hết năm cũng muốn bộc bạch một chút chuyện blog này năm rồi không viết lách gì mấy.

Bảo bận thì cũng không hẳn, nhưng quả là đầu óc bận rộn chuyện này chuyện nọ, không có thời gian suy ngẫm nhiều nên đâm ra cũng chẳng buồn viết.

Với cả, hình như là hết vốn để có thể viết như không cần phải nghĩ. Hồi hai mươi tuổi thì tung tẩy đi khám phá thế giới, nhìn thấy cái gì trải nghiệm cái gì cũng thích về viết ra kể chuyện cho cả thế giới nghe. Sang tới ba mươi đột nhiên thấy mình ngồi xó nhà đào mộ quá khứ lên viết lách. Viết một hồi thì thấy rất khó chịu, cứ như thể cuộc đời mình chẳng còn gì, chỉ còn một quá khứ đã lùi lại phía sau mà cứ tiếc nuối. (Có khi thế thật.) Cũng muốn lại được lao đầu vào cuộc sống như ngày nào, nhưng gì thì gì cũng không còn hai mươi tuổi nữa, muốn cũng chẳng biết lao đầu vào đâu.

Như đã kể ở post trước thì phải, tự dưng cuộc đời ném đến cho tôi một công việc, không phải những gì tôi đã từng theo đuổi, không như những gì tôi đã từng hình dung về một công việc mình sẽ làm, nhưng rốt cuộc lại là công việc khiến tôi thỏa mãn, chú tâm, và (gần như) không còn mơ tưởng đến một công việc khác hoặc phải nặn óc ra nghĩ ngợi xem bỏ việc rồi thì làm gì tiếp đây. Tôi cảm thấy mình bắt đầu biết mùi vị của sự ổn định.

Vậy nên không viết thì tôi sống làm các việc khác thôi.

Trước đây có những lúc lâu lâu không viết gì tôi sẽ cảm thấy bức bối lắm, cứ như cuộc sống của mình thiếu đi thứ gì đó. Nhưng dần dần tôi học được là cuộc sống không nhất thiết phải đóng khung cái gì cả. Hôm nay thế này, mai có thể thế khác. Tốt nhất là cứ theo tự nhiên mà sống, nghĩa là cuộc đời hôm nay có gì thì cứ theo đó mà tính. Nếu cảm thấy không có gì để viết thì thôi không viết đi làm việc khác. Việc này với những người không phải viết để kiếm sống thì cũng không khó lắm.

Nhưng còn một lý do khác nữa khiến tôi có thể ngừng viết mà không thấy muộn phiền gì, đó là, như đã nhắc ở trên, tôi cảm thấy mình đang thiếu vốn để viết lách. Bởi vậy, tạm ngừng viết để sống cũng là việc nên làm. Ngoài ra tôi cũng cố gắng dành thời gian đọc sách, hy vọng qua đó cũng cảm nhận thêm được một vài điều mà cuộc sống nhỏ bé của mình không thể mang đến cho mình.

Rốt cục thì dông dài rồi cũng nên trả lời chi tiết hơn một chút cái câu hỏi mà tôi đã đặt ra ở đây. Năm rồi không dành nhiều thời gian viết lách thì tôi làm gì?

Ngoài việc lao động kiếm sống thì chắc tôi dành nhiều thời gian cho vấn đề sức khỏe, cả cá nhân và gia đình. Đầu năm tôi dính ngay một chấn thương nhẹ, nên cả năm phải ưu tiên việc tập luyện cũng như thay đổi lối sống cho phù hợp hơn với sức khỏe của mình. Rồi giữa năm thì đau mắt, cuối năm thì đau răng, cũng lại tiếp tục thay đổi một vài thói quen sinh hoạt. Nhờ thế mà sau nhiều thập kỷ sống trong lười biếng, rốt cuộc cũng có ngày con sloth tôi đây ngày nào cũng chăm chỉ thể dục thể thao, uống nhiều nước, và tìm hoa quả để ăn. Thật là kỳ diệu.

Trong nhà thì rải đều từ đầu năm đến cuối năm nhiều người đi bệnh viện, nặng có nhẹ có, thành thử tôi cũng nhiều dịp được học làm người nhà bệnh nhân cũng như được tham quan nhiều bệnh viện khác nhau.

Ngoài ra thì cũng chỉ có đọc sách chứ cũng không có hoạt động nào đáng kể. (Vậy mà cũng đòi “không viết thì sống làm các việc khác” nghe như thể nhiều việc khác để làm lắm.) Năm ngoái tôi đọc được 40 quyển nên năm nay cũng mạo muội đặt mục tiêu đọc 36 quyển, nghĩa là trung bình một tháng ba quyển. Đến giờ này thì đang đọc quyển thứ 26 mà không biết có xong nổi trước khi sang năm mới không. Sang năm chắc giảm mục tiêu xuống còn 24 quyển thôi.

Quyển số 26 mà tôi đang đọc là Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1933-1934. Nếu trước thềm năm mới mà đọc xong quyển này thì tôi cũng đủ mãn nguyện cho cái sự đọc của mình năm nay. Chả là quyển này nó dài quá mà tôi còn trót mua cả quyển 1935 nữa kia. Năm nay đọc cho xong sang năm còn có động lực phấn đấu đọc quyển kia. Ngày trước đọc lõm bõm trên mạng vài bài của cụ Phan Khôi tôi thấy hâm mộ ông cụ lắm. Nhưng nhai một quyển tuyển tập dày gần 600 trang khổ 16×24 lại là một chuyện khác. Một món ăn ngon đến mấy mà ăn nhiều cũng thành bội thực. Nhưng sách đã trót mua những hai quyển, sống chết cũng phải đọc cho xong một quyển chứ.

À còn một việc nữa có lẽ cũng nên nhắc qua, ấy là shopping. Chuyện này nói ra cũng nhiều thứ để bàn lắm, nhưng nói gọn lại thì sau hai năm thắt lưng buộc bụng vì không có tiền, năm rồi tôi lại mua sắm hơi nhiều, từ nội thất cho tới gia dụng cho tới quần áo, giày dép. Gọi là nội thất cho oai, thực ra chỉ là một chiếc giường gấp ném uỳnh vào góc phòng khách sát cửa sổ để có chỗ nằm chơi cho sướng đời, mặc cho nó phá vỡ hết cả kiến trúc nội thất cái phòng khách. Nói nôm na là nó chẳng ăn nhập gì với tất cả các món đồ đã có trong phòng khách. Nhưng nhờ có nó mà cuộc đời bé nhỏ của tôi và của những người đến chơi thì đã được nâng lên một tầm cao mới. Chờ khi nào trúng Vietlot tôi sẽ mua một cái sofa góc thật đẹp để cải thiện mỹ quan.

Chuyện mua quần áo, giày dép thì là một câu chuyện dài về công cuộc tìm kiếm phong cách cũng như học cách tiêu tiền của phụ nữ, ở đây không có đất để kể ra. Còn trong đám “phụ kiện” mà năm rồi sắm sửa tôi ưng nhất là cái balo kéo của Samsonite. Nhờ có nó mà cuộc đời tôi tại các sân bay cũng đã được nâng lên một tầm cao mới, không còn phải lôi thôi lếch thếch đeo (hoặc kéo lê) mấy cái túi vải để giảm tải cho cái cột sống khốn khổ của tôi.

Một lời cuối không chỉ là chuyện lười viết lách năm rồi mà còn cả chuyện lười trả lời một số bạn đã nhắn tin hoặc gửi comment cho tôi, hầu hết là liên quan đến câu chuyện trầm cảm. Loạt bài viết và dịch liên quan đến trầm cảm trên blog này có vẻ được nhiều người tìm thấy khi đi tìm kiếm thông tin trên mạng. Một số người nhắn cho tôi nói rằng họ muốn tôi cho họ ít lời khuyên. Việc này khiến tôi thấy hơi bối rối, vì cơ bản những gì tôi nghĩ có thể hữu ích với những người trầm cảm tôi đã chia sẻ trên blog này rồi.

Thực tế là tôi đã có gặp hoặc có trao đổi riêng với một vài người nhưng tôi không cảm thấy là mình có thể “khuyên” được gì nhiều hơn là những gì tôi đã từng viết ra trên đây. Bởi vì thực sự để có thể “khuyên” bạn một điều gì, ngoài chuyện lắng nghe những gì bạn nói, tôi sẽ gần như phải thực hành như một nhà tâm lý học lâm sàng, mà đó thực sự là một công việc cần có chuyên môn sâu và kinh nghiệm trong khi tôi không có cả hai thứ đó.

Tôi cũng không có hiểu biết về việc can thiệp, trị liệu tâm lý, và điều trị lâm sàng ở Việt Nam nên lại càng không dám đưa ra lời khuyên nào. Tôi chỉ dựa vào một ít trải nghiệm của mình, viết ra vài điều hy vọng những người trầm cảm đọc xong có thể hình dung rõ hơn một chút về chứng trầm cảm và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ để khi tìm kiếm sự giúp đỡ ở đâu họ cũng bớt mù mờ, có thêm chút niềm tin, hoặc có thể tỉnh táo hơn trong việc tìm kiếm đúng sự giúp đỡ mà mình cần hoặc hợp tác với người điều trị được tốt hơn. Hoặc làm một điều gì đó để giúp đỡ chính mình.

Trầm cảm không có nghĩa là bạn sẽ mất đi lý trí của mình. Cơ bản là bạn gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc của mình, và qua đó làm cho lý trí dường như rối loạn. Nhưng sẽ có những lúc cảm xúc hỗn loạn lắng xuống, bạn sẽ lắng nghe được lý trí của mình. Khi đó có thể đọc một vài bài viết của tôi sẽ hữu ích với bạn.

Dĩ nhiên tôi cũng hiểu đọc chỉ là một trong nhiều hình thức tiếp nhận thông tin và viết cũng chỉ là một trong nhiều hình thức chia sẻ. Nhưng ở một chừng mực nào đó, viết là cách tốt nhất tôi có thể chia sẻ.

Một bài dài để kết lại một năm yên ắng. Cảm ơn các bạn đã ghé chơi và hẹn gặp lại năm tới.

Trôi miên man về đâu một nhành hoa mới nở…

Tiêu đề chỉ mang tính minh họa, không liên quan đến bài viết.

Độ này trời hay mưa. Trong lúc lăn tăn giữa mấy đôi giày để đi những ngày mưa, tôi nhận ra là tôi có ký ức rất mơ hồ về mùa mưa năm ngoái. Hè năm ngoái mưa thế nào nhỉ? Năm ngoái tôi đâu có mất thời gian tần ngần trước mấy đôi giày đâu nhỉ? Năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ? Những ngày mưa năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ?

Cảm giác rất lâu rồi cuộc sống của tôi mới được ổn định đến độ tôi có thể so sánh năm hiện tại với năm trước. Dạo này gặp bạn bè tôi rất hay khoe là tôi đã thoát khỏi cái cảnh lúc nào cũng muốn bỏ việc. Thực tế là từ ngày ra trường tới giờ, hơn một chục năm, năm nào cuộc sống của tôi cũng có thay đổi về công việc.

Tôi biết nhiều người cũng luôn muốn nhảy việc, nhưng họ không nhảy. Đôi khi họ cũng muốn nhảy việc nhiều như tôi, hoặc không nhiều thì cũng một đôi lần. Nhưng nhảy việc nhiều cũng ngán như làm mãi một nơi vậy. Năm 30 tuổi, tôi bỏ việc và chán ngán tới mức chả buồn đi tìm việc, ai gọi gì thì làm, sống chết đói hơn một năm trời, cho tới khi một công việc từ trên trời rơi tòm xuống đầu trong lúc tôi cũng bắt đầu ớn cái cảnh phải vay mượn gia đình để sống. Tôi nhận công việc ấy đơn giản là vì tiền, thay vì cứ kén cá chọn canh như trước đây.

Cuộc đời thật khó lường. Cái công việc trên trời rơi xuống mà tôi cũng chẳng trông đợi gì ở nó ngẫu nhiên lại trở thành một công việc phù hợp với tôi, với lối sống hiện tại của tôi, và tới nay gần một năm rưỡi tôi vẫn muốn tiếp tục. Hồi mới nhận việc, tôi có nói với sếp, tui chưa làm ở đâu được tới hai năm cả, giờ nếu tui làm cho ông được tới hai năm là coi như lập được kỷ lục mới đó. Ông sếp gật gù, được để coi sao. Biết ổng hiền, tôi làm tới: ông ráng làm sếp cho tốt nha. Ổng cười ha hả. (Thật ra tôi chỉ tỏ vẻ nguy hiểm, còn sếp tôi mới “nguy hiểm” thật. Ổng chả chấp cái loại như tôi.)

Hiểu được mình thích gì với tôi rất chi là khó. Tôi biết nhiều người chỉ khịt mũi một cái là biết họ có thích hay là không. (Con mèo nhà tôi cũng vậy.) Tôi thì thích khám phá cái mới, nên khịt mũi một cái thì cái gì mới lạ tôi cũng thấy thích hết. Cơ chế của tôi không phải là khịt mũi, cơ chế của tôi là phải trải nghiệm rồi mới biết được.

Thật ra trước đây tôi không nghĩ được như vậy, tôi học được điều này là nhờ đọc các trang phân tích tính cách, ví dụ như thế này:

Like other NP types, ENFPs place high value on their personal experiences when it comes to discerning truth. Though not to the same extent as ESFPs, for ENFPs, “experiencing is believing.” Because of the high value they place on their personal experiences, ENFPs may feel they cannot fully know themselves until they have tried just about everything (contrast this with INJs, who feel they know whether they will like something without needing to experience it).

Nguồn: http://personalityjunkie.com/enfp/

Còn trẻ thì trải nghiệm nhiều thứ thì vui, nhưng cái rủi là nhiều khi trải nghiệm chỉ mang lại một kết luận là mình không thích một thứ gì đó, chứ cũng không nói được cho mình biết là mình thích gì. Không phải A có thể là B, có thể là C, mà cũng có thể là D. Nhưng B hay C hay D thì tôi không biết. Vậy nên ngoài việc ngẫm lại thật kỹ những trải nghiệm trước đây, tôi đành phải cậy nhờ vào dòng đời xô đẩy, kiên nhẫn với những trải nghiệm mới.

Công việc hiện tại của tôi, mà tôi nghĩ là có thể gắn bó, ít nhất là vài năm nếu có cơ hội, chẳng giống như những gì tôi đã từng thử hình dung về một công việc yêu thích. Hồi đầu tôi vẫn có cảm giác mình đang làm gì sai sai, rằng đây không phải lĩnh vực mình muốn cống hiến, không phải nhóm mình muốn target, và một ngày nào đó những cái thôi thúc thuở ban đầu kia cũng sẽ trỗi dậy và lôi tuột tôi sang một công việc khác.

Nhưng công việc này mang tới cho tôi một ích lợi mà tôi không có nhiều từ các công việc trước đây, đó là sự trưởng thành. Hồi mới ra trường đi làm tôi cảm thấy không làm chủ được công việc và nghĩ là do mình không được học hành bài bản tử tế. Rồi tôi đi học. Học rồi lại về đi làm thì tôi lại thấy mình loay hoay trong những mớ bòng bong của thế giới bên ngoài sách vở. Chỉ đến khi làm công việc này tôi mới dần dần học được một số kỹ năng cần thiết để làm việc, mà người ta vẫn gọi là kỹ năng mềm đó. Điều đó giúp tôi chủ động hơn trong công việc và không cảm thấy rối ren nữa. Tôi cũng học cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanh thay vì thảy lên bàn sếp một cái đơn xin nghỉ việc khi thấy quá tải và stress.

Thôi thì cũng tạm biết thế. Mai này không phải tự xin nghỉ mà bị sếp tống cổ đi thì lại từ từ tính tiếp. Ít ra từ giờ cũng bắt đầu hiểu rõ hơn một công việc như thế nào thì phù hợp với mình, hy vọng không còn trở lại những ngày tháng cứ lồng lộn lao vào những công việc đầy mệt mỏi và nhiều áp lực.

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…

Tôi cuộn cuộc sống lại

Tôi cuộn cuộc sống lại
Bỏ vào những câu thơ
Rồi cuộn những câu thơ
Bỏ vào trong hộc tủ

Tôi cuộn lại ao tù
Cuộn trời cao bể rộng
Cuộn luôn cả cầu vồng
Cuộn hết cả đá núi

Tôi lại cuộn bóng tối
Cùng với những ban mai
Tôi cuộn cả ngày mai
Khi cuộn lại quá khứ

Tôi cuộn mọi nỗi nhớ
Chẳng biết bỏ vào đâu
Cuộn thêm cả buồn đau
Lại càng không chỗ chứa

Chắc tôi cuộn hơi thừa
Hộc tủ thì bé tẹo

Để gió mang mùa thu đi

Nhắm mắt lại đi em
Để lắng nghe tiếng gió
Nhắm mắt lại đi em
Mùa thu đã hết giờ

Nhắm mắt lại mà mơ
Về lá vàng lá đỏ
Nhắm mắt lại mà chờ
Gió không xào xạc nữa

Thu đi
em đừng giữ
Lá bay
em đừng buồn
Nắng tắt
em đừng khóc

Để gió mang mùa thu đi

Hà Nội, cuối thu 2016

Nếu không đọc sách

Nếu không đọc sách, có lẽ tôi sẽ cảm thấy rất cô đơn.

Đó là điều tôi nghĩ khi đọc một cuốn sách lúc chiều nay.

Đó là một cuốn sách kỹ thuật để phục vụ cho công việc, nhưng nó giúp tôi mở mắt ra rất nhiều. Nó giải thích được nhiều điều về những kinh nghiệm trước đây của tôi. Nó cũng nói cho tôi biết những gì trực giác tôi đã từng mách bảo, những bước tôi đã từng mày mò dò dẫm là đúng hay là sai. Nó cũng nói với tôi về những sai lầm thường gặp, về một vài kinh nghiệm để tránh những sai lầm đó. Giá như khi đi làm có một senior giảng giải và chỉ bảo cho tôi những điều này thì có lẽ tôi đã không nhảy việc nhiều đến vậy :D. Cách đây hơn tháng chuyện phiếm với mấy bạn đồng nghiệp tôi có nói một lý do tôi nhảy việc nhiều là bởi tôi thường cảm thấy cô đơn trong công việc.

Nhìn rộng ra, chẳng phải mỗi trong công việc mà trong cuộc sống nói chung sách vở với tôi không phải chỉ là một thú giải trí giết thời gian mà nó đã chia sẻ và nâng đỡ tinh thần cho tôi rất nhiều . Khi vui, tôi đọc sách. Khi buồn, tôi cũng đọc sách. Khi hoang mang, tôi lại càng tìm đến với sách. Ruột gan tác giả dốc ra thành con chữ thì tôi cũng mang tim phổi mình ra mà đọc chứ không phải đọc bằng não bộ với các chiến thuật đọc nhanh hiểu nhiều. Sách chia sẻ với tôi những điều tôi đã rõ mười mươi nhưng cũng chia sẻ được cả với tôi những điều tôi còn thấy mơ hồ hư ảo.

Nếu không đọc sách, biết đâu tôi cũng đã gia nhập một giáo phái cực đoan nào rồi cũng nên.

Ý nghĩa của giải Nobel Văn học

Sự so sánh sau đây là rất khập khiễng, nhưng về một khía cạnh nhỏ nào đó, tôi thấy giải Nobel Văn học cũng không khác gì một giải thưởng Hoa hậu. Tuy những người được đề cử cho this noble Nobel không tự ghi tên mình vào “cuộc thi” tưởng tượng này như các chị em (hay như các nhà văn Việt Nam phải tự nộp đơn xin xét giải thưởng tôn vinh gì gì đó), thì rốt cục người được trao giải đều là lựa chọn của một nhóm nhỏ những người được gọi là chuyên gia. Vậy nhưng công chúng lúc nào cũng hồi hộp theo dõi kết quả của sự lựa chọn ấy và luôn luôn chia thành hai “phe” lớn mỗi khi quyết định cuối cùng được đưa ra: ủng hộ hoặc phản đối. Giữa hai phe lớn này là hai nhóm nhỏ hơn: hoang mang chả biết đằng nào mà lần hoặc thấy chả ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới cả.

Cách đây năm năm (2011), nhà văn, dịch giả, và cũng là nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn học và dịch thuật Tim Parks có viết một bài mà tôi tin là tựa ban đầu của nó là “Why the Nobel Prize in Literature is silly” (Vì sao giải Nobel Văn học là ngớ ngẩn), sau đã được sửa thành “What’s wrong with the Nobel Prize in Literature” (Vấn đề của giải Nobel Văn học) cho dễ nghe hơn. Tôi không hẳn đồng ý với ông Parks về các lý lẽ mà ông đưa ra trong bài viết này, nhưng tôi lại hết sức đồng tình với quan điểm cơ bản của ông, đó là không nên quá coi trọng giải Nobel Văn học (“our foolishness at taking it seriously”).

Xét cho cùng, một cái mác của giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn từ không thích chuyển sang thích một tác giả nào đó không? KHÔNG! Và thiếu đi một cái mác giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn bớt yêu quý một tác giả ưa thích của mình không? KHÔNG nốt! Nếu bạn trả lời có cho một trong hai câu hỏi trên thì xin hỏi bạn đọc sách vì điều gì vậy?

Nếu bạn cảm thấy tiếc nuối vì nhà văn bạn yêu thích không được giải Nobel Văn học? Tốt nhất bạn hãy viết thư cho nhà văn ấy để hỏi ông ấy hay bà ấy có mong muốn được giải Nobel Văn học như bạn mong muốn ông ấy hay bà ấy được giải hay không. Và rất có thể trước khi viết thư, bạn hãy dành chút thời gian tìm hiểu xem vì sao Jean-Paul Sartre đã từng viết một bức tâm thư rất dài gửi tới Hội đồng chấm giải để giải thích tại sao ông từ chối nhận giải thưởng này.

Vậy ý nghĩa của giải Nobel Văn học là gì?

Trước hết, như mọi giải thưởng khác, giải Nobel Văn học tôn vinh một tập hợp giá trị nào đó, mà ở đây nôm na là giá trị của văn học. Nghĩa là những tác giả nào theo Hội đồng chấm giải được xem là tạo ra những giá trị đáng quý cho văn học. (Dù những tiêu chí lựa chọn cụ thể chưa bao giờ được công bố mà chỉ thỉnh thoảng lại thấy một thành viên hội đồng lên tiếng giải thích rằng tiêu chí này hay tiêu chí nọ mà công chúng đồn đoán (ví dụ, ảnh hưởng chính trị) không phải là tiêu chí mà họ xem xét để trao giải.)

Tuy tiêu chí không được công bố với công chúng, phải thừa nhận rằng xưa giờ giải Nobel Văn học toàn được trao cho những người viết có chất lượng. Bởi vậy mà người ta tin vào kết quả lựa chọn của Hội đồng chấm giải. Kết quả là, giải Nobel Văn học đã và đang mang tính định hướng công chúng rất lớn. Các con số thống kê chỉ ra rằng cứ mỗi khi kết quả của giải Nobel Văn học được công bố thì ngành xuất bản bắt đầu đổ xô đi xuất bản, tái bản, và dịch sách của những nhà văn được giải còn công chúng thì đổ xô đi mua và tìm đọc, kể cả với những người đã nổi tiếng ngất trời và giàu sụ như Bob Dylan! Giữa một biển tác giả tác phẩm, vàng thau lẫn lộn, biết chọn ai bây giờ? Thôi thì đọc thử một ông/bà được giải Nobel xem thế nào.

Nhưng dù có bao nhiêu người hết sức tin tưởng vào Hội đồng chấm giải Nobel, đây vẫn là câu chuyện về giá trị nên hiển nhiên là mọi lựa chọn của Hội đồng đều làm hài lòng một phần công chúng và không làm hài lòng một phần khác. (Chỉ là nhóm công chúng không hài lòng có làm ầm ĩ lên không mà thôi.)

Vậy khía cạnh tích cực của việc tôn vinh này là gì?

Tôi nghĩ là ít nhất họ tăng sự chú ý của công chúng tới một tác giả có chất lượng. Dĩ nhiên vì luật chơi là mỗi năm một người nên mỗi năm họ chỉ giới thiệu được có một mà thôi. Nếu bạn thật lòng quan tâm tới việc tìm kiếm những tác giả, tác phẩm có chất lượng, việc bạn cần làm không phải là hàng năm chỉ hồi hộp chờ đợi kết quả của giải Nobel Văn học hay bất cứ giải thưởng văn học nào khác mà hãy hàng ngày (hay hàng tuần) theo dõi các mục điểm sách, giới thiệu sách, giới thiệu tác giả từ vô vàn những tờ báo, chuyên mục, website, hay tài khoản twitter mà bạn thích.

Năm 2016 này, với việc trao giải Nobel Văn học cho một người được biết đến với tư cách một nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn hay nhà thơ, giải Nobel Văn học đã (một lần nữa) đẩy một giá trị khác của nó từ cánh gà lên sân khấu chính: tái định nghĩa văn học. Nobel năm nay không chỉ đưa ra định nghĩa về giá trị của văn học mà nó đã định nghĩa lại về chính khái niệm này.

Dù bạn muốn hay không, mọi khái niệm trên đời này vẫn luôn được định nghĩa và tái định nghĩa liên tục trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Khái niệm “văn học” cũng vậy. Người ta đang phản ứng ồn ào với việc trao giải Nobel Văn học cho Bob Dylan vì hành động này đang thách thức cách hiểu của tất cả mọi người về khái niệm “văn học”. Nếu chiểu theo cách hiểu truyền thống thông thường về văn học, thì có lẽ chỉ có một tập thơ và một cuốn hồi ký của Dylan được xếp vào địa hạt này – mà đó thì hiển nhiên không phải là di sản có giá trị nhất của ông và cũng không thể sánh được với các di sản văn học ở dạng truyền thống hơn của rất nhiều nhà văn khác. Phải chăng những ca từ trong các bài hát của Dylan cũng được xếp vào phạm trù “văn học”?

Có vẻ như Hội đồng giải Nobel Văn học đã xếp như thế!

Thật ra thì các lời bài hát của Dylan đã được giới học giả văn chương nghiên cứu lâu rồi, nhưng công chúng bên ngoài chẳng mấy ai quan tâm làm gì. Vả lại, ngay trong giới học giả cũng không thống nhất xem các lời ca ấy khi đứng độc lập, không đi với âm nhạc, mang tính văn chương tới đâu.

Dĩ nhiên Dylan cũng không phải là ngoại lệ.

Xin hỏi có bao nhiêu người nghe nhạc trên Trái đất này đã dành thời gian chỉ đọc lời bài hát mà không cần nghe phần nhạc? Bao nhiêu người đã từng chép lời bài hát vào sổ tay (khi đang không nghe nhạc)? Bao nhiêu người đã ngồi dịch lời một bài hát nào đó sang một ngôn ngữ khác? Bao nhiêu người đã từng trích dẫn một câu trong lời bài hát lên facebook hay twitter hay một chốn nào khác tương tự? Nếu nghĩ về những điều ấy, có thể bạn sẽ thấy rằng ranh giới giữa lời bài hát và phạm trù văn học cũng không thật quá rõ ràng.

Nếu nhìn về giải Nobel Văn học vượt ra ngoài ý nghĩa rất dễ thấy và phổ biến của nó là tôn vinh một cá nhân xuất sắc, hay là tôn vinh những giá trị nào đó của văn học, thì giải Nobel năm 2016 này đã làm được một điều mà rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển đã làm được (và chính nhờ thế mà đã được tôn vinh): thách thức tư duy của cả nhân loại.

Đọc bình luận của Tim Parks về giải Nobel Văn học năm nay:

Bob Dylan: The Music Travels, The Poetry Stays Home