Category Archives: Bài dịch

5 dấu hiệu cảnh báo bạn đang có một mối quan hệ có hại (và nó đang giết chết bạn)

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “5 Warning Signs You’re In a Toxic Relationship (And It’s Killing You)” của Sabrina Alexis trên A New Mode (truy cập ngày 3/9/2016).

Có một thứ mà tôi, và không may là nhiều phụ nữ khác, biết rất rõ là những mối quan hệ độc hại. Độc chất là một thứ gây tổn hại cho bạn và làm bạn kiệt quệ. Một mối quan hệ có hại có thể hủy hoại nhận thức của bạn về chính mình.

Có những mối quan hệ lành mạnh và có những mối quan hệ có hại, và tôi đã rơi vào trường hợp thứ hai ngày tôi bước chân vào đại học và sống chết yêu một anh chàng mà dường như mọi thứ đều không phù hợp. Giống như hầu hết các mối quan hệ khác, mối quan hệ này bắt đầu chẳng có vấn đề gì. Cảm giác ban đầu như điện giật, sự hấp dẫn là rất mạnh mẽ, nói chuyện thoải mái và dễ dàng, và lúc nào cũng thấy cần có nhau. Tôi chưa bao giờ cảm thấy bị thu hút nhiều như thế. Tôi có nhìn thấy một vài dấu hiệu bất ổn từ sớm, nhưng đã tự thuyết phục mình rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn vì đơn giản là phải như thế. Nhưng mà mọi chuyện lại không như thế.

Qua thời gian mọi thứ chỉ trở nên tệ hơn, và sau một năm kể từ khi bắt đầu mối quan hệ đó tôi đã trở thành cái bóng của chính mình trước đây. Tôi không còn vui vẻ, thân thiện, lạc quan, tự tin, và tràn đầy ánh sáng. Thay vào đó tôi thường xuyên cảm thấy bấp bênh, bất an đau khổ, kiệt quệ, và buồn rầu. Tôi sống dưới một đám mây đen sợ hãi… sợ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc, rằng anh ta sẽ bỏ đi. Khi ở cạnh anh ta có lẽ tôi cũng khốn khổ, nhưng tôi đã tin rằng không có anh ta tôi sẽ còn khốn khổ hơn nữa, bởi vậy mà tôi vẫn tiếp tục. Mối quan hệ đó nhẽ ra không nên kéo dài đến như thế. Tôi đã tiếp tục kể cả khi anh ta cho tôi thấy đủ mọi lý do rằng mối quan hệ ấy không nên tiếp tục. Cuối cùng, anh ta bỏ tôi, và đúng như đã dự đoán tôi cảm thấy mình chết từ bên trong.

Mãi tới khi mối quan hệ ấy lụi hẳn đi rồi tôi mới có thể nhìn ra mọi chuyện đã xấu như thế nào và nó đã hủy hoại cách mà tôi nhìn chính mình khủng khiếp ra sao. Một phần nguyên nhân tôi đã không nhận thức được sớm hơn là bởi tôi chẳng biết mình tìm kiếm điều gì. Tôi cứ để những cảm xúc mà tôi có che mờ những thứ khác. Bạn bè đã cố gắng cảnh báo tôi rằng chuyện đó không ổn, thế là tôi không nói chuyện với họ nữa. Linh tính của tôi đã bảo tôi là chuyện này không ổn, thế là tôi không để cho linh tính của mình lên tiếng nữa. Tôi đã làm việc mà nhiều người khác làm. Tôi đã chọn không nhìn mọi việc như chúng đã là mà thay vào đó chỉ nhìn vào việc tôi muốn mọi chuyện trở nên thế nào. Tôi coi nhẹ những gì là không ổn và bám chặt vào bất cứ thứ ánh sáng tốt đẹp nào mà tôi nhìn thấy, và đó là tất cả những gì tôi cần để tiếp tục.

Nỗi đau còn đeo đuổi tôi rất lâu sau khi mối quan hệ ấy kết thúc, và những vết thương mà nó gây ra đã mất rất nhiều thời gian để lành lại. Rắc rối với những mối quan hệ có hại là không phải lúc nào bạn cũng dễ dàng nhận dạng ra được, và đôi khi cứ như thể là bạn là người rất hay phức tạp hóa vấn đề nên mới coi nó là “có hại”.

Có thể bạn nghĩ rằng bạn đang trải qua những thăng trầm mà mối quan hệ nào cũng phải trải qua, hoặc có thể bạn cho rằng một vấn đề nào đó bên ngoài đang là nguyên nhân gây bất ổn và nếu vấn đề đó được giải quyết thì mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

Có thể nhìn nhận mọi chuyện đúng như nó đang là và chấp nhận một thực tế là nó sẽ không thay đổi có thể giúp bạn rất nhiều. Việc đó sẽ cho bạn khả năng nhìn mọi chuyện qua một lăng kính khách quan và ra quyết định có lợi nhất cho bạn. Để giúp bạn làm được điều đó, tôi chỉ ra ở đây những dấu hiệu lớn nhất cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ rất hại não.

1. Bạn không bao giờ cảm thấy mọi chuyện là đủ tốt.

Bạn cảm thấy như bạn làm sai mọi thứ và thường xuyên phải cố gắng chứng tỏ giá trị của mình. Bạn trở nên nghiện ngập sự ghi nhận của anh ta. Bất cứ khi nào bạn làm gì đó và nó kiểu dạng làm anh ta ghi nhận thì bạn cảm thấy nhẹ nhõm, và nó như một sợi dây đủ để bạn tiếp tục bám vào. Bạn lại cố gắng nhiều hơn nữa để lại có được cái cảm giác đó, và nếu không được thì bạn cảm thấy như đó là một thất bại. Nhưng bất kể là bạn cố gắng nhiều thế nào, bạn không bao giờ cảm thấy là bạn đã cố gắng đủ hay là bạn đã làm đúng. Bạn thường xuyên ở trong trạng thái không thoải mái, phán xét chính mình, cố gắng trở nên tốt hơn và trở nên đủ tốt.

2. Bạn không thể là chính mình.

Một dấu hiệu cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ lành mạnh là cảm giác bạn vẫn như bình thường. Một dấu hiệu lớn cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ không lành mạnh, có hại là điều ngược lại, là cảm giác bạn không thể là chính mình. Thay vào đó, bạn phải đi nhẹ nói khẽ cười duyên và phải để ý mọi thứ bạn nói và làm. Bạn cảm thấy như giờ đây bạn phải uốn lưỡi hai lần trước khi nói và một số chủ đề là cấm kỵ, và bạn phải hành xử cho phải phép. Bạn sợ phải nêu một số vấn đề ra để nói chuyện với anh ta bởi bạn không biết anh ta sẽ phản ứng như thế nào, và không nói gì thì tốt hơn là nói gì đó và làm anh ta giận. Bởi vậy bạn cứ im lặng chịu đựng và hy vọng rằng mọi chuyện rồi sẽ thay đổi theo một cách nào đó, và mối quan hệ này một ngày nào đó sẽ trở nên hạnh phúc và lành mạnh theo một cách thần kỳ nào đó.

Bạn thậm chí có thể không nhận ra rằng mối quan hệ này đang biến bạn trở thành một người như thế nào. Bạn không biết tại sao bạn không còn là cô gái vui vẻ, tự tin nữa, và có thể bạn bè và gia đình bạn cũng cảm thấy như thế. Nhưng bạn yêu anh ta và bạn đã bỏ rất nhiều thứ vào mối quan hệ này và bạn lý giải rằng chỉ cần qua được ít trắc trở này, bạn sẽ trở lại như xưa…

3. Anh ta làm bạn buồn khổ.

Đây là một trong những dấu hiệu lớn nhất của một mối quan hệ có hại, và nó dường như là khá rõ ràng, nhưng thường bạn lại không nhận ra là anh ta đang làm bạn buồn khổ bởi mọi chuyện diễn ra theo cách cũng khó mà chỉ trích ai được. Và nếu bạn đã lún quá sâu, bạn đã không còn là chính mình và đã tự thấy mình không đủ tốt đẹp, nên thậm chí bạn cũng mặc nhiên công nhận những điều tiêu cực anh ta nói với bạn hay là nói về bạn.

Các mối quan hệ là một cơ hội để người ta trưởng thành rất nhiều. Đôi khi những tính cách không-ưu-tú-nhất của chúng ta bỗng dưng lộ ra và chúng cần phải được xử trí thế nào đó. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa một đối tác có thể chỉ ra điểm yếu của chúng ta theo một cách tích cực, khuyến khích chúng ta trưởng thành hơn, với một đối tác làm việc đó với màu sắc chế giễu, coi thường. Trong một mối quan hệ lành mạnh, người đó sẽ chấp nhận con người bạn. Anh ta sẽ yêu những điểm tốt và chấp nhận những điểm xấu bởi vì chúng ta đều là con người và ai cũng có những mặt không tốt, và những gì không tốt vẫn có thể chấp nhận được trong một chừng mực nào đó. Những ai trông đợi một đối tác hoàn hảo đều đã dọn đường cho mình sống trong thất vọng cả đời. Trong một mối quan hệ lành mạnh, bạn sẽ muốn trở nên tốt hơn bởi bạn thực lòng muốn tốt hơn nhưng vẫn là chính mình – vì chính bạn, vì người đó, và vì mối quan hệ này. Bạn sẽ cảm thấy được yêu thương và được chấp nhận với chính con người mình, và cả hai bạn hiểu rằng thay đổi cần có thời gian, nên bạn không cảm thấy khổ sở vì cảm thấy bất lực với những điểm yếu của mình hết lần này tới lần khác.

Trong một mối quan hệ có hại, bạn không cảm thấy mình được chấp nhận, đối tác của bạn khó chịu với những điểm yếu của bạn, và anh ta có thể chế giễu bạn và làm bạn xấu hổ vì những điểm yếu đó.

Tôi nhớ trong mối quan hệ gây hại đó của mình anh ta đã bảo tôi là lý do anh ta chọn đi lại với tôi là bởi anh ta không thể “breed” (phải, tôi trích dẫn nguyên văn lời anh ta) với ai như tôi bởi vì tôi không phải là kiểu người sẽ làm vợ và làm mẹ (xin nhắc, khi ấy tôi là một đứa nhóc sinh viên 20 tuổi), vậy nên anh ta cảm thấy an toàn vì biết rằng mối quan hệ này không phải là lâu dài. Đọc đến đây chắc các bạn đang há hốc mồm, và có lẽ bạn đang nghĩ “ờ sau vụ này thì hiển nhiên cô này sẽ bỏ thằng cha này,” nhưng tôi đã không làm thế! Tôi nhớ là mình đã cảm thấy xấu hổ và bối rối vì thực tế là tôi thích đi chơi và uống rượu và tiệc tùng (lại xin nhắc, khi ấy tôi 20 tuổi!), và tôi tự tạo cho mình một nhiệm vụ là chứng tỏ với anh ta rằng tôi cũng có thể là một người biết chăm sóc như thế nào. Trong một mối quan hệ độc hại, những chuyện hại não là không thiếu. Một số chuyện có thể thấy rõ còn một số khác thì bị che khuất, và có thể bạn không hề nhận ra rằng chúng đang hủy hoại bạn từ bên trong như thế nào.

4. (Hai) Bạn chơi bẩn.

Cặp nào cũng gây lộn, kể cả những cặp hạnh phúc nhất. Gây lộn có thể xảy ra với mọi chuyện lớn nhỏ. Những cặp hạnh phúc không phải là những cặp không bao giờ gây lộn, họ là những người biết dùng những xích mích và bất đồng như một phương tiện để giải quyết vấn đề. Nếu có một vấn đề không giải quyết được, họ học cách trao đổi, tương tác với nhau tốt hơn và tiến tới hiểu nhau nhiều hơn.

Các cặp có vấn đề thường gây lộn để phân thắng thua. Họ dùng những xích mích như một cơ hội để dằn mặt người kia, chơi xấu, và tranh thủ trút hết ra những tức giận và những chuyện để bụng bấy lâu. Gây lộn kiểu chơi xấu là một dấu hiệu cho thấy mức độ hận nhau trong mối quan hệ đã đến giới hạn chịu đựng. Gây lộn lúc này mang màu sắc hằn học và coi thường nhau, và mỗi người đều chăm chăm muốn “thắng” và chứng tỏ là mình đúng thay vì cùng nhau tìm cách giải quyết vấn đề một cách hòa bình.

5. Anh ta sẽ không làm gì để cải thiện tình hình.

Anh ta phủ nhận trách nhiệm và thay vào đó chỉ trích bạn và coi mọi chuyện là lỗi của bạn. (Kiểu như, “Nếu không phải là lúc nào em [cô] cũng gây chuyện thì anh [tôi] cũng không phải cáu giận đến như thế!”) Trong một mối quan hệ gây hại, bạn cảm thấy như mình là vấn đề. Anh ta không coi cảm xúc hay nhu cầu của bạn là gì. Nếu bạn không vui, đó là bởi bạn quá “nhạy cảm” hoặc “dễ xúc động” hoặc “vô lý”. Anh ta có thể nói xin lỗi, nhưng anh ta không thực sự nhận mình có lỗi gì và cho rằng nếu bạn có vấn đề gì với mối quan hệ này thì nó chỉ là vấn đề của bạn. Anh ta không muốn nói về chuyện đó hay tìm cách giải quyết hay cố gắng thay đổi.

Phẩm chất quan trọng nhất cần tìm ở một đối tác là một người sẵn sàng làm gì đó để cải thiện tình hình. Những mối quan hệ gây hại vẫn có thể thay đổi nếu cả hai người đều thực tâm muốn làm gì đó để cải thiện tình hình. Tuy nhiên, nếu anh ta từ chối thay đổi hay cố gắng hiểu cảm xúc và nhu cầu của bạn thì chẳng còn làm được gì và lựa chọn duy nhất của bạn là ra đi. Việc đó khó đấy vì một anh chàng với những tính cách gây mệt mỏi cũng có những tính cách khác thực sự tốt đẹp, và chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta cố gắng đủ nhiều chúng ta có thể làm cho những điểm tích cực ấy nở rộ nhiều hơn nữa và khiến anh ta thay đổi và trở thành một người tốt hơn. Mọi chuyện hiếm khi diễn ra theo cách ấy; mọi người chỉ thay đổi khi người ta nhận ra là đang có vấn đề và họ muốn giải quyết vấn đề đó. Và dù anh ta có bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp đi nữa, điều quan trọng duy nhất là anh ta có mong muốn mối quan hệ này có kết quả. Nếu anh ta không có mong muốn đó, mọi thứ khác đều là vô nghĩa.

Nếu bất kỳ điều nào trên đây là đúng với bạn hay có vẻ giống giống với mối quan hệ của bạn, có lẽ đây là lúc bạn nên cân nhắc nghiêm túc về chuyện có tiếp tục mối quan hệ này không vì lợi ích của mình. Những mối quan hệ gây hại có sức hủy hoại không nhỏ; hoặc là bạn nhận ra điều này bây giờ hoặc là một lúc nào đó sau này. Bạn càng dây dưa, tổn hại sẽ càng nhiều và thời gian phục hồi sẽ càng dài. Hãy nhớ rằng, bạn giải phóng cho mình càng sớm bao nhiêu thì bạn càng tới gần hơn với cơ hội tìm được một mối quan hệ tử tế cho mình.

Phỏng vấn Frédéric Beigbeder của Shawn Dogimont

Tạp chí Hobo #15 – Paris, tháng Mười Hai năm 2012. Sau khi dịch và xuất bản một số trích đoạn từ cuốn sách nói về sách đầy nhiệt tình của anh: First Inventory After the Apocalypse, tôi gặp Frédéric lần đầu trong một bữa trưa ở Allard, Quận 6. Kể từ lúc đó tôi bắt đầu nhận ra anh là một nhân vật nổi tiếng và viết lách nhiều tới nhường nào. Chương trình Le Cercle của anh toát lên một sự thông minh và dí dỏm và, cùng với The Walking Dead, đó là chương trình ưa thích của tôi trên truyền hình. Anh đã viết chín cuốn tiểu thuyết trong đó anh đôi khi tiểu thuyết hóa cuộc đời của chính mình, thường xuyên châm biếm xã hội tiêu dùng, và luôn luôn đặt ra những câu hỏi mang tính siêu hình. Anh là một trong những người đầu tiên ký vào bản tuyên bố phản đối luật mới trừng phạt khách mua dâm ở Pháp và với tôi anh đại diện cho phe tự do của một đất nước vốn được biết tới nhờ các cuộc cách mạng và phong trào Khai sáng: anh lập ra Prix de Flore [một giải thưởng văn học Pháp], tiếp tục duy trì hình ảnh của Hemingway trong Hội hè miên man, bảo vệ những thiết chế như L’Ami Louis…

Shawn Dogimont — Tôi thấy dường như anh đã tự tạo ra một sự nghiệp riêng cho mình. Tôi thấy điều này gợi cảm hứng rất lớn vì nó dựa trên tài năng và những mối quan tâm kinh điển, đam mê văn chương của anh, và tôi băn khoăn không biết một hành trình sự nghiệp như của anh liệu có thể tồn tại ở một nơi nào khác ngoài Paris hay không, nơi mà phê bình phim là mối quan tâm hàng đầu của truyền thông nhưng vẫn có một tình yêu dành cho sách giấy… Anh đã xuất bản chín cuốn tiểu thuyết và đã đạo diễn một bộ phim. Anh chạm tới mọi thứ mà tôi vẫn mơ tưởng là mình sẽ làm.

Frédéric Beigbeder Tôi đồng ý với anh – điều đó là không thể có ở một nơi nào khác bởi ở Paris anh có văn hóa điện ảnh của tác giả (cinéma d’auteur), câu chuyện về một làn sóng mới cơ bản nói rằng: khi anh là một nhà văn, anh có thể là một đạo diễn. Vì François Truffaut là một nhà phê bình phim, vì Sacha Guitry và Marcel Pagnol đạo diễn phim, và Jean Cocteau cũng thế. Vì thế anh không có một bức tường ngăn giữa viết lách và đạo diễn phim. Ở Pháp trước đây nhiều đạo diễn cũng là nhà văn, và giờ vẫn thế. Đó chính là khác biệt chính. Khi tôi nói với Jay McInerney “Tôi sắp đạo diễn một bộ phim” anh ấy đã nói “wow, nhưng trước anh có học trường điện ảnh không?” Dĩ nhiên là không, tôi chỉ là một nhà văn nhưng ở Pháp khi anh là một nhà văn điều đó nghĩa là anh là một người kể chuyện và anh có thể kể câu chuyện của mình với ngòi bút là máy quay (‘la camera stylo’). Ở đây máy quay giống như một ngòi bút còn ở Mỹ thì khác, ở đó có văn hóa [làm phim] xoay quanh Hollywood, kỹ thuật, và nếu anh không biết mọi thứ về phim ảnh thì anh bị coi như ở trình độ vỡ lòng, tôi cho là thế, và có thể đúng là thế, tôi không biết, bởi vì có nhiều bộ phim dở do các nhà văn làm ra trong đó người ta cứ nói liên tục hàng giờ đồng hồ nhưng ‘c’est permis en France’ [ở Pháp được phép thế]. Mọi chuyện bắt đầu là bởi khi mười tám tuổi tôi đã tổ chức party. Trước khi hoạt động nghệ thuật tôi được biết tới nhờ cuộc sống về đêm và tôi đã mời rất nhiều khách tới những buổi dạ hội hóa trang hay những thứ tương tự thế. Vì thế tôi đã trở thành ‘figure de la nuit’ [tay chơi đêm], ‘un noctambule’ [một con cú đêm] và bắt đầu viết bài cho các tạp chí về cuộc sống ban đêm. Những gì tôi viết với một số người dường như cũng vui nhộn bởi vậy tôi đã xuất bản một cuốn tiểu thuyết, rồi được gọi tới làm việc tại một công ty quảng cáo và làm host trên truyền hình. Tôi đã trở thành một nhân vật trước khi tôi kịp làm gì. Tôi như là một Kim Kardashian của thập kỷ 80. [cười] Điều đó không có nghĩa là tôi không có năng lực nhưng đó là một chuỗi những ngẫu nhiên, từ cái này nối sang cái khác, đó là lý do tại sao tôi lại làm nhiều việc.

— Trong tất cả những việc đó thì ‘âme’ [đam mê] của anh nằm ở đâu, công việc nào anh cảm thấy thoải mái nhất?
— Tất cả những việc này đều liên quan tới viết lách. Nếu anh làm một show truyền hình anh bắt đầu với các câu hỏi mà anh muốn hỏi hoặc những gì mà anh muốn nói. Nếu anh làm phim anh phải viết kịch bản. Nếu anh viết sách thì anh viết. Nếu anh viết bài cho một tạp chí thì nó cũng là viết. Bởi thế mọi thứ đều bắt đầu với viết lách ở một thời điểm nào đó, trừ phi là anh tổ chức party. À, thế thì anh vẫn phải viết giấy mời sao cho mọi người muốn tới dự. Tất cả các dạng biểu đạt này tuy khác nhau nhưng đều bắt đầu bằng việc một người ngồi một mình trong phòng gãi đầu nghĩ xem nên nói gì.

— Anh thích tưởng tượng ra các câu chuyện từ ý tưởng vu vơ hơn hay, phần nào đó, pha trộn giữa những trải nghiệm sống và cá tính của chính mình? Điều đó hẳn là vui.
— Đó là một từ khóa đấy. Lúc nào tôi cũng sợ buồn chán. Văn học là hơn thế, nó là một trò chơi, là chơi với hình ảnh của anh, đặt bản thân anh vào một quyển sách cho phép anh nói dối mọi người và nói như Aragon ‘le mentir vrai’ những lời dối trá thành thực hay như Cocteau “je suis un mensonge qui dit toujours la vérité”. Tôi là một sự dối trá luôn nói sự thực và tôi nghĩ tiểu thuyết chính là vậy. Tôi thích đọc tiểu thuyết của Charles Bukowsky hoặc Bret Easton Ellis nơi anh nghĩ có thể đó là tác giả, nhưng anh không chắc lắm, còn họ chơi với ý tưởng này, và chơi với độc giả. Pha trộn giữa tưởng tượng và tiểu sử tự thuật là điều tôi thích hơn cả bởi mọi người đi theo anh, nếu anh làm họ tin, họ sẽ muốn tiếp tục lật trang sách. Nếu tôi viết truyện về một nông dân Ukraina nghèo khổ thì sẽ chẳng ai tin những gì tôi nói. Nếu tôi viết về một gã ở Pháp có một cuộc đời rỗng tuyếch, thì mọi người lại đi theo tôi. [cười]

— Họ sẽ nói: anh ta biết anh ta đang nói gì.
— Chính xác. Nếu tôi kể chuyện một gã bị bắt vì dùng cocaine trên ca-pô xe ở ngoài phố, mọi người sẽ biết nó là thật, nên đó là một khởi đầu tốt.

— Có vấn đề xã hội tương tự giữa Octave Parrango, bản dạng khác của anh trong 99 francs, và Patrick Bateman hay người dẫn chuyện vô danh của Bret Easton Ellis trong Fight Club?
— Ồ chắc chắn có. Khi phim của David Fincher ra rạp tôi đã rất buồn vì tôi đã quá hâm mộ nó. Khi đó tôi đang viết 99 francs và tôi đã nghĩ “khỉ thật, hắn đã làm trước mình.” Khi đó tôi đang cố gắng mô tả sự điên rồ của quảng cáo, sức mạnh của quảng cáo bằng cách sử dụng chính các kỹ thuật quảng cáo. Cuốn sách đó đầy rẫy những dòng tên tác giả và slogan, nên nó giống như dùng chính thứ vũ khí mà quảng cáo dùng để gây ảnh hưởng tới chúng ta để chống lại họ. Dạng biểu đạt/viết lách này rất Mỹ, rất thu hút, rất lôi cuốn, như Elis hay McInerney đã làm trong thập niên 80. Tôi chịu ảnh hưởng của cả hai người đó. Elis nhiều hơn bởi vì anh ta rất cực đoan, McInerney có lẽ lãng mạn và dịu dàng hơn.

— Điều gì đã thu hút anh tới với đời sống và văn chương Bắc Mỹ?
— Là thế này: Tôi yêu văn học Pháp ngữ, vì là tiếng mẹ đẻ nên tôi đọc rất nhiều thơ và tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Người Mỹ, họ kể chuyện. Có lẽ ở thế kỷ 20 chúng ta đã tìm kiếm những ngôn ngữ mới và những trải nghiệm mới, kiểu ‘nouveau roman’ [tiểu thuyết kiểu mới] mà ở đó anh từ chối kể chuyện, và một phần của nó với tôi trở nên quá trừu tượng. Đó là lý do tại sao tôi thích đọc những tiểu thuyết thật sự với các nhân vật và tình huống mô tả thời đại của chúng ta. Có thể là Hemmingway, Fitzgerald, nhưng cũng có thể là Tom Wolf nữa. Tham vọng này, nó là tham vọng của người Pháp ở thế kỷ 19. Ví dụ Zola và Stendhal. Stendhal nói tiểu thuyết là một tấm gương phản chiếu thực tế. Vậy là người Mỹ đang viết tiểu thuyết Pháp thế kỷ 19. Kể cả Bukowski cũng nói ông ấy chịu ảnh hưởng của Zola và Céline. Tôi chịu ảnh hưởng của người Mỹ bởi họ chịu ảnh hưởng của những nhà văn mà tôi yêu. Cả người Nga nữa. Người Nga và người Mỹ đều có tham vọng tổng kết thế giới, nâng niu thế giới. Vì thế anh đọc truyện cũng là anh đang nhìn vào chính mình trong gương.

— Đoạn trích này từ Things: A Story of the Sixties của George Perec làm anh lập tức nghĩ tới điều gì?

“Than ôi, khá thường xuyên, phải nói thực, họ đã thất vọng kinh khủng… Màn ảnh sẽ sáng lên, họ nhẽ ra sẽ cảm thấy một niềm vui của sự thỏa mãn. Nhưng những sắc màu đã mờ dần theo thời gian, bộ phim nhòa đi trên màn hình, những người phụ nữ ở một độ tuổi khác; họ sẽ bỏ ra ngoài; họ sẽ buồn. Đó không phải là bộ phim họ đã từng mơ. Đó không phải là bộ phim hoàn chỉnh mỗi người trong số họ đã từng lưu giữ trong thâm tâm, bộ phim hoàn hảo mà họ đã có thể say sưa xem hết lần này tới lần khác. Bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn làm. Hay thầm lặng hơn, không nghi ngờ gì nữa, bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn sống.”

— Les Choses rất quan trọng bởi nó được xuất bản vào năm mà tôi ra đời, bởi thế đó là một năm rất quan trọng … [cười] Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên mô tả xã hội tiêu dùng và xã hội đó đáng thất vọng với loài người như thế nào. Tôi ngưỡng mộ Perec. Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông và ông đã nói mọi thứ về những gì đã xảy ra kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ. Ba mươi năm trước ông đã hiểu tại sao sự kết thúc của các xã hội lý tưởng sẽ không làm cho chúng ta hạnh phúc, chúng ta cần có một giấc mơ. Giấc mơ của các nhân vật trong Les Choses là có những thứ vật chất. Đó là lý tưởng của họ: có nội thất, TV, một căn hộ xinh đẹp và chúng sẽ làm họ hạnh phúc. Dĩ nhiên là không phải thế. Đó có thể là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nói rằng mua đồ sẽ không làm bạn hạnh phúc và đó là đề tài cho mọi thứ mà tôi đã viết ra. Thế hệ của tôi là một thế hệ mang nhiều thất vọng bởi chúng tôi đã bị lừa dối, ‘on a été escroqué’. Kể từ lúc tôi sinh ra, mọi người đã giải thích cho tôi rằng chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, chủ nghĩa tư bản là tốt đẹp. Chủ nghĩa phát xít thì kinh khủng và các thế hệ cha mẹ và ông bà anh đã phải chịu đựng chiến tranh thì anh nên hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản. Và điều tôi viết là về việc chúng ta không hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản như thế nào, nó là không đủ, chúng ta cần một thứ gì đó khác. Tôn giáo thì phức tạp, nó đã qua rồi, chúng ta không thực sự tin nữa.

— Thế nếu không có một giấc mơ?
— Hãy bắt đầu viết sách để giải thích anh buồn như thế nào và có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta say xỉn, dùng ma túy, quan hệ tình dục với người lạ và sau đó cũng chẳng thèm gọi lại, đó là bởi chúng ta không có một giấc mơ. Perec là điểm thay đổi đối với tôi. Khi ông nói chúng ta đã muốn là một phần của một bộ phim, chúng ta đã muốn cuộc đời của chúng ta như một bộ phim, nhưng rồi nó lại là một bộ phim tồi [cười], nó là một bộ phim tẻ nhạt, thì đó chính xác là những gì tôi cảm thấy! Tôi nghĩ đó là một vấn đề thực sự đối với thế hệ của tôi và thế hệ tiếp theo. Giờ họ có YouTube. Họ nghĩ Facebook và YouTube và Google sẽ làm họ hạnh phúc. Không đâu!

— Làm thế nào anh thoát khỏi những cạm bẫy của cuộc sống thành thị hiện đại nơi lối sống bị bán như cuộc sống?
— Tôi không trốn. Tôi ở bên trong thế giới này. Tôi là một phần của nó. Tôi có một tạp chí tên là Lui [Anh ấy] với rất nhiều hình ảnh quảng cáo và hình ảnh đẹp của những người mẫu khỏa thân. Tôi đi chơi, tôi say xỉn, tôi mua đồ, như mọi người khác. Tôi chỉ mô tả điều đó là không đủ để hạnh phúc như thế nào. Và tôi không thực sự biết làm sao để hạnh phúc và đó là điều tôi viết. Anh biết đấy, những người hạnh phúc, tôi không nghĩ là họ viết, hoặc họ viết thì rất buồn tẻ. Tôi bị thu hút bởi sự hào nhoáng, tôi là một phần của hệ thống, nhưng tôi cũng phàn nàn suốt ngày. Tôi là như thế, có lẽ việc đó rất dễ chịu. [cười]

— Tại sao anh viết tiểu thuyết? Anh tìm kiếm điều gì trong việc viết lách của mình?
— Cố gắng viết ‘mon malaise’ [vấn đề của tôi], sự khó chịu, ‘sodade’ [nỗi buồn sâu thẳm] bằng tiếng Bồ Đào Nha. Nó như là tự phân tâm, cuối ngày anh sẽ cảm thấy khá hơn nếu anh viết được một câu kể về việc tại sao anh thấy tệ, có vấn đề gì với anh, có vấn đề gì với cuộc đời này, chỉ một câu mỗi ngày thôi và thế là đủ, nó có ích đấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ ngưng viết khi anh biết mình là ai.

— Anh có đồng ý với Georges Simenon người đã từng nói: Viết lách không phải là một nghề mà là một sự nghiệp của bất hạnh. Tôi không nghĩ là một nghệ sĩ lại có khi nào hạnh phúc.
— Tôi rất tin là ông ấy đúng nhưng tôi hy vọng là ông ấy nhầm. Tôi yêu Simenon bởi ông ấy luôn cố gắng tìm những từ đơn giản. Ông có điều này từ Colette. Những mô tả rất chi tiết. Một sự nghiệp tôi hoàn toàn đồng ý. Khi chín tuổi tôi đã bắt đầu viết những thứ như nhật ký. Anh không quyết định trở thành một nhà văn, nó như bệnh vậy. Một số người thích sống, những người khác thích bất tử hóa nhiều thứ bằng cách viết lại chúng và nó như một khuyết tật trong cuộc sống vậy. Thỉnh thoảng, như trong một nhà hàng chẳng hạn, mọi người xung quanh tôi vui vẻ còn tôi như một gã đã chết thoát ra khỏi cái xác của hắn và đang nhìn vào mọi thứ chứ không phải đang sống.

— Viết có gợi lại ký ức không? Lướt sóng có kích thích việc viết không?
— Chúng có những điểm chung. Anh phải chờ có hứng và đột nhiên có một cơn sóng tới và anh phải lắng nghe xem điều gì xảy ra, và ghi chép lại rất nhanh. Tôi tin vào cảm hứng, tôi nghĩ nó có tồn tại. Có những ngày anh làm tốt và có những ngày như cứt. Viết lách là chờ đợi một cuộc hẹn với chính mình. Đôi khi anh có thể lỡ hẹn. Đôi khi anh viết được vài dòng…

— Tại sao anh viết First Inventory After the Apocalypse? Anh có thực sự quan tâm tới sự biến mất của sách giấy không?
— Ồ chắc chắn là có chứ, tôi rất sợ điều đó. Dĩ nhiên là thế giới đang thay đổi. Cuộc cách mạng kỹ thuật số. Với tôi đọc trên màn hình rất khác. Sách trở thành file số, không còn giống như khi đọc trên giấy nữa. Bởi sự tập trung. Nếu anh đọc Dostoevsky trên giấy anh phải ngồi xuống, mở một chai Armagnac, ngồi trong một cái ghế thoải mái xinh đẹp, tắt điện thoại, tắt TV, mọi thứ, phải có sự yên tĩnh và lắng nghe giọng nói của một ông già người Nga râu rậm đã chết nói chuyện với anh về việc cờ bạc đã hủy hoại cuộc đời ông ta như thế nào. Thật đấy. Đó là một niềm vui mà không có dạng thức nào khác của nghệ thuật có thể mang lại cho anh bởi vì anh sẽ lắng nghe linh hồn của một người thông minh hơn anh rất nhiều. Đó thực sự là một ưu đãi đối với tôi, văn học như một bộ phim mà anh đạo diễn trong đầu vì thế nó hơn tất thảy. Nhưng ngày nay thì việc đó ngày càng khó làm. Con gái tôi có đủ thứ cám dỗ nó, tôi không biết có ngày nào nó sẽ đọc Tội ác và Trừng phạt hay không. Với tôi việc đó cũng khó. Tôi có quá nhiều thứ cần phải tắt đi. Đọc một trang của Proust cũng như đánh vật. Tôi đọc nhiều hơn khi tôi ở cái làng nhỏ bé của mình ở tây nam nước Pháp. Không TV, không ai gọi tôi, tôi cảm thấy đơn độc, mắc kẹt… Đôi khi tôi ghét điều đó và tôi muốn trở lại và tới Montana! [cười]

— Hệ quả đối với xã hội là gì? Bởi mọi người dường như ổn thỏa với nhận thức rằng tâm trí của chúng ta, cách thức chúng ta xử lý thông tin, đang thay đổi. Dường như không ai nghĩ và làm rõ hơn về một thế giới nơi mọi thứ sinh ra đã thế…
— Thật buồn cười là chính cuộc cách mạng số đã khiến tôi nhận ra rằng tôi là một ‘réactionaire’ [kẻ phản động]. Tôi cứ nghĩ mình là một ‘progressiste’ [người tiến bộ], ‘libertaire’, ‘libéral’ [người theo chủ nghĩa tự do], một người của tương lai nhưng… không phải. Tôi là một người từ quá khứ và tôi phát hiện ra điều đó bởi tôi không thích Facebook, tôi không thích bị làm phiền suốt ngày bởi những thứ đồ công nghệ cứ đổ chuông và quấy nhiễu tôi. Tôi thích một nền văn minh cổ, lịch sử văn học, tôi thích có thời gian và quyết định mình sẽ làm gì với thời gian của mình, tôi thích lướt sóng. Tôi thích bất tuân theo cuộc cách mạng này. Tôi không nghĩ là tốt nếu không thể viết ra thứ ngôn ngữ tốt, với đúng chính tả, tôi không nghĩ cuộc sống sẽ tốt hơn nếu không thể đọc những cuốn tiểu thuyết dài.

—  Dạng thức và độ dài của tiểu thuyết có đang lâm nguy không?
— Có. Không ai đang nói thật cả. Và sự thật là: anh không thể đọc Proust ở dạng ebook. Chỉ là anh không thể, điều đó là không thể. Vì thế tiểu thuyết sẽ thay đổi, cách con người viết và đọc cũng thay đổi, và có khi người ta sẽ chẳng đọc nữa. Tôi rất sợ mỗi khi tôi tới nhà một vài người bạn và thấy chẳng có quyển sách nào.

— Kỳ cục thế.
— Rất kỳ cục. Ngành công nghiệp âm nhạc cũng biến mất như những vật dụng. Không album, không CD.

— Tôi nhớ ai đó nói lần duy nhất nhân loại đi lùi về mặt công nghệ là khi chúng ta từ bỏ Concorde.
— [cười]

— Nhưng điều đó không còn đúng nữa. Hỏi Neil Young hay Eddie Vedder và họ sẽ bảo anh là bây giờ âm thanh được ghi âm chả ra làm sao. Nó không được tốt như vài năm trước và tôi có cảm giác phim ảnh cũng thế.
— Tarantino sẽ đồng ý với anh. Ông ấy chỉ ghi hình trên celluloid. Vấn đề là nó làm tôi hãi vì nó cho thấy là chúng ta đang già đi. [cười] ‘On est des anciens combattants.’ [Chúng ta là cựu binh rồi.] Những người thông minh nên phân tích mặt tích cực và tiêu cực của mọi phát minh. Cũng bình thường nếu nói nó có những mặt tốt. Anh có thể nói chuyện với mọi người trên khắp thế giới miễn phí qua Skype. Một vài thứ là tốt hơn. Nhưng ví dụ Twitter, nó thật ngu xuẩn. Nó khiến người ta nói ra những điều mà hôm sau họ phải ân hận, nói gì đó về xã hội chỉ trong vài chữ là quá ngắn. Gọi người khác là bạn trên Facebook. Họ đâu phải bạn của anh, anh đâu có biết họ. Có khi họ còn đang nói dối! Tôi biết năm người đang giả mạo dùng tên và ảnh của tôi. ‘Le progrès scientifique n’est pas toujours bon par essence.’ [Tiến bộ khoa học không phải lúc nào cũng tốt.] Cái này được gọi là cuồng khoa học. Larry Page, Mark Zuckerberg, họ cũng thật kỳ cục, họ tin vào một dạng nhân loại mới. Họ không chỉ nói cảm nhận thì tốt hơn suy nghĩ, họ còn nói những thứ tệ hơn. Họ nói chúng ta sẽ pha trộn máy móc với con người và tạo ra một loài mới trên đầu mang camera và trong người mang chip và chúng ta sẽ sống tới 400 năm… họ nói chính xác như là quân Quốc xã! [cười] Nó là một lý tưởng mới.

— Có vẻ như những kẻ kỳ quặc ở trường học đang thắng thế. Thế những kẻ lười biếng đâu rồi?
— Người tẻ nhạt nhất trong lớp học giờ đây lại giàu nhất thế giới. Đó là một vấn đề lớn. [cười] Với Adolf Hitler cũng thế. Có lẽ đoạn này không nên đưa vào bài phỏng vấn [cười] nhưng thật là thế, Adolf là ‘un raté’ [một kẻ thất bại]. Hắn không có tài năng để làm một họa sĩ và hắn đã rất tức tối trước những người có được các cô gái bởi vì hắn rất ‘complexé’ [phức tạp] và… thật nguy hiểm khi những kẻ kỳ quặc có được quyền lực. [cười] Anh biết vì sao không? Vì họ muốn trả thù. Họ muốn tất cả những người xuất chúng phải nghe lệnh của họ. Ví dụ khi Zuckerberg nói gì đó như là cuộc sống riêng tư không còn tồn tại nữa – đó là George Orwell và tôi không hiểu sao không ai phản ứng gì. Vì thế chúng ta phải kháng cự. Chọn phe cho mình là quan trọng. Anh thích những thứ phi lý, nghệ thuật, bản năng hơn, hay anh thích toán học hơn? Tôi không muốn làm siêu nhân.

— “Bạn không cần phải đốt sách để phá hủy một nền văn hóa. Chỉ cần làm mọi người ngừng đọc chúng.” Ray Bradbury cuối cùng cũng không xa lắm.
— Đúng thế và đó chính xác là những gì đang diễn ra hiện nay. Ông ta lầm về một điểm – người ta đang đốt sách. Chúng không bị đốt nhưng bị ‘pillonés’ [chất đống]. Hàng trăm ngàn cuốn sách sắp bị hủy. Năm nay ở Pháp đã có 78 hiệu sách đóng cửa. Khi anh đóng cửa hiệu sách đúng thực là anh hủy sách. Thế nên Bradbury hãy còn quá lạc quan. [cười]

— Tại sao đọc tiểu thuyết lại quan trọng?
— Bởi vì nó tốn thời gian, nó là việc quyết định dành thời gian của anh để ở một mình với chính mình và với tâm hồn của một thiên tài như Flaubert hay Walt Whitman. Perec lần nữa, một trong những cuốn sách của ông có tên là La Vie Mode d’Emploi. Sách như những cuốn tài liệu hướng dẫn cho cuộc sống. Những điều quan trọng nhất anh không được dạy ở nơi nào khác ngoài những cuốn tiểu thuyết. Yêu như thế nào, ý nghĩa cuộc sống là gì, anh có hạnh phúc không, cha mẹ anh có yêu anh không, anh có biết mùi của con kênh ở Venise không, anh có muốn đi xuyên Mỹ bằng tô tô từ NY tới LA với một gã khùng không? Tất cả những điều này anh học từ sách chứ không phải từ nơi nào khác. Sẽ chẳng có ai dạy anh làm sao để hạnh phúc hay tại sao anh lại buồn.

— Đó là lúc ra đi, thời điểm khi anh không còn làm việc được nhiều, không tiêu dùng, và có lẽ không còn là mối quan tâm lớn nhất của các chính phủ.
— Đó là lý do vì sao Quốc xã đã đốt sách. Họ không muốn mọi người nghĩ hay chỉ trích. Khi anh đọc anh rời khỏi thực tại và anh bắt đầu nghĩ và anh tự do hơn. Nhưng nó cũng vô dụng và đó là điều tôi thích. ‘Le sens de l’inutilité.’ [Cảm giác về sự phù phiếm.] Khi anh thức dậy vào buổi sáng và cả ngày dài anh có các cuộc hẹn, những thứ phải làm và anh hiệu quả từ 8h sáng tới 8h tối… nhưng khi anh lên giường anh lại không ngủ được. Có lý do – anh cần có thời gian vô dụng, để hoạt động với bản năng. Lãng phí thời gian và một việc hết sức quan trọng.

— Anh có một người anh hùng ưa thích nào không?
— Tôi có hai được không? Một người Pháp và một người Mỹ. Họ gần giống nhau và họ được viết ra gần như cùng thời. Meursault, trong L’étranger của Camus và Holden Caufield, trong The Catcher in the Rye. Họ giống nhau. Họ trẻ và lạc lối. Họ thực sự không biết làm thế nào để gia nhập được vào thế giới người lớn. Meursault giết người và không hiểu tại sao còn Holden bỏ trốn khỏi trường và đi vòng quanh Công viên Trung tâm. Họ là những phản anh hùng, và đó là điều tôi thích về họ. Họ bỏ trốn, họ không có mục tiêu thật sự nào và họ không muốn nghe lời ai. Holden lãng phí thời gian của mình, dĩ nhiên cậu ta bị đuổi học, nhưng thay vì về nhà và bị la, cậu ta đi lang thang, nói chuyện với một nữ tu, một cô gái điếm, một tài xế taxi… Cậu ta lang thang. Cậu ta là một hobo [kẻ lang bạt].

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc đăng trên Hobo Magazine (truy cập ngày 13/07/2016). Bản dịch chỉnh sửa lần cuối ngày 17/08/2016.

Một cô giáo đã thay đổi cuộc đời tôi

Tác giả: Bill Gates. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “A Teacher Who Changed My Life” đăng trên blog của tác giả gatesnotes ngày 16/08/2016.

Ba người phụ nữ rất mạnh mẽ – mẹ tôi, bà ngoại tôi, và Melinda – xứng đáng được ghi nhận (hoặc đáng trách) vì đã giúp tôi trở thành người như ngày hôm nay. Nhưng cô Blanche Caffiere, một cô giáo và thủ thư tốt bụng mà tôi chưa bao giờ nhắc tới trước công chúng, cũng có một ảnh hưởng to lớn tới tôi.

Cô Caffiere (tên cô phát âm là “kaff-ee-AIR”) mất năm 2006, không lâu sau ngày sinh nhật lần thứ 100. Trước khi cô qua đời, tôi đã có cơ hội để cảm ơn cô vì đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi, người đã giúp tôi giữ lửa cho lòng ham học vào một thời điểm mà tôi đã có thể dễ dàng mất hứng thú với trường lớp.

Khi tôi gặp cô Caffiere lần đầu, cô đang là người thủ thư nhã nhặn và nhiệt tình tại trường Tiểu học View Ridge thành phố Seattle, còn tôi là một học sinh lớp bốn nhút nhát. Khi đó tôi tìm mọi cách để không ai chú ý tới mình, bởi tôi có một số khiếm khuyết lớn, như viết chữ xấu (ngày nay các chuyên gia gọi đó là chứng khó viết –  dysgraphia) và luôn để bàn bừa bãi một cách buồn cười. Và tôi luôn cố gắng che giấu việc mình thích đọc – một điều với các cô gái thì được coi là hay ho nhưng với các cậu con trai thì không.

Cô Caffiere đã che chở cho tôi và khiến cho việc tôi là một thằng bé bừa bãi và kỳ quặc thích đọc rất nhiều sách trở thành ổn thỏa.

Cô đã lôi tôi ra khỏi vỏ ốc bằng cách chia sẻ với tôi tình yêu của cô dành cho sách. Cô bắt đầu bằng những câu hỏi như, “Em thích đọc gì?” và “Em quan tâm tới điều gì?” Sau đó cô tìm cho tôi rất nhiều sách – những cuốn khó và thách thức hơn nhiều so với những cuốn khoa học giả tưởng của Tom Swift Jr. mà tôi đang đọc khi đó. Ví dụ, cô đưa cho tôi những cuốn tiểu sử lớn mà cô đã đọc. Sau khi tôi đọc chúng, cô dành thời gian thảo luận về chúng với tôi. Cô sẽ hỏi “Em có thích cuốn đó không?” và “Tại sao? Em đã học được gì?” Cô chăm chú lắng nghe những gì tôi nói. Qua những lần nói chuyện về sách như thế tại thư viện và trên lớp học chúng tôi đã trở thành bạn tốt của nhau.

Nhìn chung các giáo viên không muốn tạo thêm gánh nặng cho học sinh của mình bằng cách giao thêm bài đọc bên cạnh những bài tập đã giao. Nhưng tôi đã học được từ cô Caffiere rằng các thầy cô giáo của mình có thể chia sẻ nhiều điều hơn thế. Tôi chỉ cần hỏi họ thôi. Từ đó cho tới hết trung học và sau này, tôi thường hay hỏi các thầy cô giáo của mình về những cuốn sách họ thích, rồi tôi đọc chúng khi rảnh, và cho họ biết tôi nghĩ gì.

Giờ đây nhìn lại, không có gì phải nghi ngờ rằng thời gian tôi có với cô Caffiere đã thắp lên mối quan tâm của tôi với thư viện (cũng là nỗ lực thiện nguyện quy mô lớn đầu tiên của Melinda và tôi) cũng như sự tập trung của tôi trong việc giúp mọi đứa trẻ ở Mỹ được hưởng lợi từ những giáo viên tốt. Tôi thường gắn việc khởi nguồn quỹ của chúng tôi với một bài báo về trẻ em tại các nước nghèo bị chết bởi những bệnh đã bị xóa sổ tại Mỹ từ rất lâu. Nhưng tôi cũng nên ghi nhận ảnh hưởng từ người giáo viên và thủ thư tận tâm đã giúp tôi tìm thấy những điểm mạnh của mình khi tôi chín tuổi. Sức mạnh mà một người tốt có thể tạo ra trong việc góp phần tạo dựng nên cuộc đời của một đứa trẻ thật đáng kinh ngạc.

Trầm cảm có phải là bệnh không? Bản chất của việc trầm cảm trở lại.

Lời người dịch: Trong những bài viết trước đây tôi cố ý gọi trầm cảm là bệnh là vì muốn người đọc nghĩ về trạng thái trầm cảm một cách nghiêm trọng (nghiêm túc) hơn so với suy nghĩ thông thường coi đó chỉ là một trạng thái buồn chán nhất thời (và do đó có thể tự hết). Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra việc gọi (coi) trầm cảm là bệnh theo cách hiểu thông thường có thể làm cho những người muốn “chữa bệnh” – cho mình hoặc cho người khác – hiểu sai về bản chất của trầm cảm và vì thế có thể có cách tiếp cận hay những mong muốn “chữa bệnh” không thực tế. Bởi vậy mà tôi dịch giới thiệu bài viết này.

Tác giả, TS. Stephen Diamond, là một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý tại Los Angeles. Nguyễn Hồng Anh lược dịch từ bài gốc “Is Depression a Disease? The Recurring Nature of Depression” đăng trên Psychology Today ngày 01/09/2008 (truy cập ngày 28/07/2016).

Trầm cảm là gì? Nó có phải bệnh không? Một rối loạn tâm thần? Sự mất cân bằng sinh hóa? Một sự rối loạn chức năng của não bộ? Một hội chứng tâm lý? Một khủng hoảng hiện sinh hoặc tinh thần? Ở đây tôi muốn thảo luận về trầm cảm với tư cách một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý đã thực hành trị liệu tâm lý được hơn ba thập kỷ.

Theo tôi, câu hỏi quan trọng liệu trầm cảm (đơn cực hoặc lưỡng cực) có phải là bệnh không xuất phát từ việc áp dụng mô hình y khoa cho lý thuyết và thực hành tâm thần học và tâm lý học có phần cần ngờ vực. “Mô hình y khoa” (medical model) là gì? Mô hình y khoa là một hệ thuyết nền tảng của thực hành y học lâm sàng: Các triệu chứng được xem như biểu hiện của các tiến trình sinh lý bệnh học ([vẫn gọi đơn giản là] bệnh) có thể được chẩn đoán và điều trị. Mục đích của điều trị y khoa là loại bỏ, ngăn chặn hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Để làm giảm đau đớn và kéo dài sự sống nhiều nhất có thể. Kể từ thời Hippocrates, các thầy thuốc đã trung thành với hệ thuyết và cách thực hành này.

Mô hình y khoa là một cách nhìn đặc thù về đau đớn, hủy hoại, rối loạn chức năng và, rốt cục là, cái chết. Nó là một hệ thuyết, một lăng kính giúp các thầy thuốc và những người khác hiểu về các hiện tượng bất thường như bệnh bạch cầu (leukemia), tiểu đường, và giờ, trầm cảm và nhiều rối loạn tâm thần khác. Nhưng dù mô hình y khoa đã có những đóng góp lớn lao trong việc chẩn đoán và trị bệnh, việc áp dụng nó cho các trải nghiệm đặc thù như trầm cảm, chứng loạn thần, và lo âu là có vấn đề.

Không thể phủ nhận là những người trầm cảm nặng là người ốm. Trầm cảm có thể gây suy nhược và trong một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các triệu chứng thực thể như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau kinh niên, tiêu chảy, mất ngủ, v.v. thường xảy ra với trầm cảm chính yếu (major depression). Sử dụng thuật ngữ y khoa thì “điều trị” là bắt buộc. Câu hỏi thực sự là nên điều trị dạng nào? Câu trả lời một phần tùy thuộc vào cách hiểu về nguyên nhân gây trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần chính yếu khác như rối loạn lưỡng cực và loạn thần. Có nhiều lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây trầm cảm, nhưng không lý thuyết nào đã được chứng minh hoàn toàn thuyết phục. Các lý thuyết nhân quả này đưa ra các giải thích về sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra khả năng có ít nhất một vài yếu tố bẩm sinh về gien (genetic predisposition) đối với trầm cảm đơn cực và lưỡng cực, cũng như các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc. Nhưng yếu tố bẩm sinh sinh học không phải là quan hệ nhân quả. Một số tác nhân khác (đôi khi không được nhận dạng) như: mất mát, stress, sự tách biệt/cách ly, chấn thương/thương tổn (trauma), sự vô nghĩa, sự thất vọng, lạm dụng chất kích thích, sự giận dữ bị kìm nén lâu ngày có thể, và thường, góp phần quan trọng, nếu không muốn nói góp phần chính, dẫn tới những rối loạn nói trên.

Nhưng dù nguyên nhân căn bản của trầm cảm là gì, hiện các nhà lâm sàng vẫn chưa đưa ra được cho người trầm cảm các phương pháp điều trị hiệu quả và quyết liệt nhất. Áp dụng dược lý tâm thần (psychopharmacology) trong điều trị trầm cảm nặng, dù có những hạn chế, đã có tính đột phá và cứu mạng người trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm và thuốc điều hòa khí sắc làm được những điều mà trị liệu tâm lý không làm được: chúng làm giảm tương đối nhanh các triệu chứng gây đau đớn và suy nhược của trầm cảm và do đó đưa những biến động khí sắc nguy hiểm đến trạng thái ổn định. Điều này có chứng minh rằng trầm cảm căn bản là một bệnh lý sinh học? Không hề. Nó chỉ cho thấy rằng chúng ta đã may mắn tìm ra phương tiện sinh hóa để ứng phó với và kiểm soát những triệu chứng nguy cấp nhất của trầm cảm: rối loạn ăn và ngủ, mất hứng thú, thờ ơ, tâm trạng trầm uất hoặc hưng cảm, lo âu, xu hướng tự sát, v.v. Nhưng như TS Kramer khẳng định trong bài viết gần đây của ông, kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm được giảm nhẹ nhờ dùng thuốc, tình trạng trầm cảm bên dưới hiển nhiên vẫn còn, nên kể cả những người đang dùng thuốc vẫn có nguy cơ rơi vào các đợt mới trong tương lai. Hơn một nửa số người trải qua đợt trầm cảm lần thứ nhất có xu hướng tiếp tục trải qua các đợt trầm cảm mới ở một thời điểm nào đó [trong tương lai]. Xác suất tái phát tăng vọt (90%) nếu đã trải qua ba lần trầm cảm. Nguy cơ này nghĩa là gì? Nó dường như gợi ý rằng điều trị sinh hóa không giải quyết được vấn đề. Tính dễ tổn thương kéo dài tiềm tàng này có nghĩa là gì? Nó là cốt lõi trầm cảm, là trái tim của con rắn đa đầu Hydra.

Một số rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm, có thể được ví với Hydra huyền thoại: một con quái vật lớn trong thần thoại với chín cái đầu rắn, mỗi đầu đều tiết ra nọc độc chết người. Nhiều người phải chịu đựng vô số triệu chứng – như lo âu, trầm uất, đau kinh niên, bứt rứt, mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, các đợt hoảng loạn, v.v. – mà sau khi đã bị chế ngự bằng thuốc, lại quay trở lại còn khủng khiếp hơn. Người anh hùng Hercules trong thần thoại Hy Lạp đã phải đánh nhau với Hydra hủy diệt. Lừa nó ra khỏi hang, chàng lần lượt chặt đứt những cái đầu rắn của nó. Nhưng chẳng mấy chốc, mỗi chỗ bị chặt lại mọc ra hai cái đầu mới. Hơn nữa, Hydra gớm ghiếc còn có một cái đầu bất tử không thể tiêu diệt được. Hercules cuối cùng đã đánh bại Hydra hủy diệt như thế nào? Trước tiên, Hercules dùng lửa đốt những chỗ bị chặt để ngăn những cái đầu mới mọc ra. Sau đó, chàng chôn cái đầu bất tử của Hydra dưới một tảng đá lớn để vô hiệu hóa nó. Nhưng bởi vì cái đầu này là bất tử, Hydra không bao giờ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Nó chỉ bị làm yếu đi và bắt quy phục.

Trầm cảm có chút giống với Hydra. Bạn có thể thử loại bỏ các triệu chứng bằng thuốc (thậm chí kể cả trị liệu bằng sốc điện trong trường hợp không đáp ứng thuốc), nhưng chúng vẫn có xu hướng trở lại. Trầm cảm có thể bị đánh bại không? Không thể trừ phi tìm tới trái tim của Hydra. Gốc rễ của trầm cảm, theo quan sát lâm sàng của cá nhân tôi, cơ bản thường mang tính tâm lý hơn là sinh hóa – mặc dù hai khía cạnh này rõ ràng có ảnh hưởng lẫn nhau. Thường ở trung tâm của trầm cảm là những căm ghét, tức tối, giận dữ, oán hận bị đè nén. Bị bỏ rơi. Bị phản bội. Nản lòng. Thương tiếc khôn nguôi. Sự vô nghĩa. Sự tầm thường. Mất niềm tin. Nếu không can thiệp quyết liệt vào trung tâm cảm xúc, tinh thần và tâm lý này của trầm cảm, thì không thể giải quyết triệt để được. Chỉ có thể nén lại tạm thời. Đó là lý do tại sao điều trị trầm cảm bằng thuốc, dù vô giá, không thể thay thế được trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý tâm thần. Tấn công kép liên tục vào Hydra-trầm cảm sẽ ngăn chặn hoặc giảm thiểu những vấn đề chính yếu, và có thể kiềm tỏa được Hydra. Trong khi nhiều người có thể luôn mang những yếu tố sinh học gien và/hoặc tâm lý có khả năng dẫn tới một giai đoạn trầm cảm mới trong tương lai, điều trị bằng liệu pháp tâm lý như nói trên có thể giúp họ kiềm tỏa được những nguy cơ, chính là đánh bại được Hydra.

Trầm cảm có thể chữa được không? Nó có nên được điều trị như các bệnh khác không? Tôi nghĩ cái đó còn tùy. Một số dạng trầm cảm nhẹ tới trung bình và thậm chí nặng rõ ràng là phản ứng mang tính hoàn cảnh đối với stress, thương tổn, mất mát và các sự việc khác xảy ra trong đời. Những cái được gọi là rối loạn hoặc thậm chí các đợt trầm cảm chính yếu có thể được phục hồi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp được điều trị đầy đủ, đặc biệt là trị liệu tâm lý. Trầm cảm nặng và mãn tính như rối loạn khí sắc, rối loạn trầm cảm chính yếu tái phát, rối loạn khí sắc chu kỳ và rối loạn lưỡng cực đều giống Hydra, đòi hỏi phải có điều trị tích cực qua nhiều giai đoạn kéo dài. Nhưng kể cả trong những điều kiện dường như tương đối khó can thiệp, tiếp cận tới trái tim của Hydra với trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý có thể làm giảm cả mức độ và tần suất của các đợt trầm cảm và/hoặc hưng cảm. Bằng cách cải thiện điểm khởi phát giữa các đợt bằng trị liệu tâm lý, mức độ và tần suất của các đợt tiếp sau có thể giảm xuống. Trong khi việc chỉ dùng thuốc để đẩy lui Hydra có vẻ như sẽ khiến tăng dần liều dùng và tăng số loại thuốc cần dùng để kiềm chế nó, trị liệu tâm lý theo cách tôi gợi ý trong cuốn sách của mình có thể làm giảm sự phụ thuộc vào việc dùng thuốc, bởi ý nghĩa của trầm cảm và các nguồn gốc tâm lý của nó được trị liệu tận gốc.

Do đó, tôi đề xuất rằng trầm cảm không phải là một bệnh nên được điều trị theo cách như với tiểu đường chẳng hạn (mà bản thân bệnh này trong nhiều trường hợp đã được biết là có liên quan tới stress). Trầm cảm là một hội chứng sinh học–tâm lý–xã hội đòi hỏi nhiều hơn là chỉ can thiệp bằng thuốc và đang cần phải có những phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả hơn nữa.

Ông Donald đó đó và người quyết định

Tác giả: Paul Krugman. Blog của bác (Lương tâm của một người theo chủ nghĩa tự do) ở đây còn Twitter của bác ở đây. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The Donald and the Decider” đăng trên The New York Times ngày 21/12/2015.

Khoảng sáu tháng đã trôi qua kể từ khi Donald Trump vượt qua Jeb Bush trong các trưng cầu của các cử tri Cộng hòa. Vào thời điểm đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng hiện tượng Trump chỉ là nhất thời và dự đoán rằng các cử tri sẽ sớm quay về với các ứng viên truyền thống hơn. Tuy nhiên, thay vào đó, sự dẫn đầu của ông này cứ ngày càng tách xa các đối thủ. Thậm chí đáng chú ý hơn thế, bộ ba chuyên nói linh tinh — ông Trump, Ben Carson, và Ted Cruz — giờ đây nhận được sự ủng hộ của khoảng 60% nhóm cử tri chính yếu.

Nhưng tại sao lại thế? Xét cho cùng thì các ứng viên phi truyền thống đang lấn lướt hiện nay, ngoài việc thiếu hiểu biết sâu sắc về chính sách, có một thói quen là đưa ra những tuyên bố sai lệch, rồi không thèm đính chính bao giờ. Tại sao các cử tri Cộng hòa dường như lại không quan tâm tới điều đó?

2015_NYT_politicians-lie

Biểu đồ do Bill Marsh làm từ dữ liệu của PolitiFact cho bài “Tất cả các chính trị gia đều nói dối. Một số nói dối nhiều hơn những người khác.” của tác giả Angie Holan đăng ngày 11/12/2015 trên The New York Times.

Chậc, một phần của câu trả lời hẳn là đảng này đã dạy họ là không cần phải quan tâm. Lấy khoác lác và hiếu chiến thay cho phân tích, thái độ khinh khỉnh thay cho trả lời có cân nhắc ở bất kỳ dạng nào, gạt đi những thực tế khó chịu mà “đám truyền thông mang tư tưởng tự do” đưa ra – tất cả những điều này không phải đột nhiên mới xuất hiện trên sân khấu của đảng Cộng hòa. Ngược lại, chúng đã từ lâu là những thành phần chính tạo nên thương hiệu của đảng này. Vậy làm thế nào các cử tri có thể biết được đâu là giới hạn?

Trước hết hãy nói về di sản của Kẻ Mà Chớ Gọi Tên Ra.

Tôi không biết bao nhiêu độc giả còn nhớ cuộc bầu cử năm 2000, nhưng trong suốt chiến dịch tranh cử các ứng viên Cộng hòa đã cố gắng – và thành công to – trong việc biến cuộc bầu cử trở thành câu chuyện ai dễ mến hơn ai, thay vì là câu chuyện chính sách. Kiểu: George W. Bush nên nhận được phiếu bầu của bạn bởi ông ta là người bạn sẽ thích ngồi uống bia cùng, không như cái gã Al Gore khô khan, tẻ nhạt suốt ngày cứ số liệu với chả thực tế.

Và khi ông Gore cố gắng nói chuyện về những khác biệt chính sách, ông Bush không trả lời vào phần chính mà bằng cách móc mỉa “bài toán khó nhằn” của đối thủ – một cụm từ mà những người ủng hộ ông bắt chước đem xài một cách thích thú. Các tập đoàn truyền thông bám theo ngay bài dìm hàng cố ý này: ông Gore được cho là đã thua trong các cuộc tranh luận, không phải vì ông ấy sai, mà bởi vì ông ấy, như các phóng viên cho biết, có vẻ kênh kiệu và trên cơ người khác, không giống như ngài W. thiếu trung thực nhưng theo kiểu dễ mến.

Sau đó thì xảy ra vụ 11/9, và ngài dễ mến biến thành một nhà lãnh đạo chiến tranh. Nhưng vụ biến hình này đã không bao giờ đi kèm với những tranh luận tử tế về chính sách đối ngoại. Thay vào đó, ông Bush và các cận thần chỉ thể hiện một sự huyênh hoang. Kiểu: ông ấy là người bạn có thể tin tưởng là sẽ đảm bảo an toàn cho chúng ta bởi vì ông ấy nói chuyện một cách cứng rắn và ông ấy có cách ăn mặc giống như một phi công chiến đấu. Ông ấy đã tự tin tuyên bố rằng ông ấy là “người quyết định” – và ông ấy ra quyết định dựa vào “trực giác.”

Ngụ ý là những người lãnh đạo thực sự không mất thời gian vào việc suy nghĩ quá nhiều, lắng nghe các chuyên gia chỉ là một dấu hiệu của sự yếu đuối, và quan trọng là cái thái độ. Và trong khi những thất bại của ông Bush ở Iraq và New Orleans cuối cùng cũng đặt dấu chấm hết cho niềm tin của người Mỹ vào trực giác của ông, sự tôn vinh thái độ cao hơn con số lại càng bùng lên trong đảng của ông, thể hiện rõ khi John McCain, người mà xưa kia đã từng có tiếng về sự độc lập về chính sách, đã chọn một Sarah Palin rõ ràng là không đủ năng lực để làm cánh tay phải của mình trong tranh cử.

Vì thế Donald Trump như một hiện tượng chính trị là một tiếp nối quá chuẩn của một dòng chảy từ ngài W. tới bà Palin, và trên nhiều khía cạnh ông là một đại diện tiêu biểu cho cốt lõi của đảng Cộng hòa. Ví dụ, bạn có sốc không khi ông Trump tiết lộ sự ngưỡng mộ của ổng dành cho Vladimir Putin? Ông ấy chỉ là đang nói ra một cảm xúc vốn đã tràn ngập trong đảng của ổng.

Trong khi đó, những ứng viên truyền thống có gì khác để show ra nào? Về mặt chính sách mà nói, chẳng có gì khác mấy. Hãy nhớ rằng, ở thời điểm mà Jeb Bush được xem là ứng viên hàng đầu, ông này đã tập hợp một nhóm “chuyên gia” chính sách đối ngoại là những người có bằng cấp hàn lâm và vị trí trong những nhóm think-tank cánh hữu. Nhưng đội ngũ này phần lớn là những người tân bảo thủ cứng rắn, những người mà bất chấp những sai lầm trong quá khứ vẫn trung thành với niềm tin rằng cứ gây sốc và gây khiếp 😀 (nguyên văn “shock and awe”, một chiến lược quân sự nổi tiếng của Mỹ – ND) là giải quyết được hết.

Nói cách khác, ông Bush không phải đã đưa ra một chính sách khác biệt gì đáng kể so với những gì mà giờ đây chúng ta nghe được từ Trump và các cộng sự; tất cả những gì ông ấy trưng ra là sự hiếu chiến có phết bên ngoài một lớp tư cách đáng kính. Marco Rubio, người tiếp sau ông được coi là ứng viên truyền thống được ưa chuộng, cũng giống hệt vậy, thêm một vài cuộc xâm lược nữa. Vì sao lại phải ngạc nhiên khi thấy điệu bộ [chính trị] này giờ đây được ngửa bài bởi sự hiếu chiến thẳng thừng của các ứng viên không truyền thống?

Trong trường hợp bạn có chút băn khoăn, những chuyện như thế này không xảy ra ở bên phe Dân chủ. Khi Hillary Clinton và Bernie Sanders tranh luận, ví dụ là về việc điều tiết tài chính đi, thì đó là một cuộc thảo luận thật sự, với cả hai ứng viên rõ ràng là nắm thông tin rất tốt về những vấn đề liên quan. Thảo luận chính trị ở Mỹ về tổng thể chưa hề chìm xuồng, nó chỉ là vấn đề của cánh bảo thủ mà thôi.

Trở lại với những người Cộng hòa, có phải điều này nghĩa là ông Trump sẽ thực sự là một ứng viên của họ? Tôi chịu. Nhưng điều quan trọng cần thấy là ông này không phải bỗng nhiên đột nhập vào nền chính trị Cộng hòa từ một thiên hà khác. Ông ấy, hoặc một ai đó như ông ấy, là nơi mà đảng này đã hướng tới từ lâu rồi.

Nói cho dễ hiểu về hội nghị thượng đỉnh khí hậu

Tác giả Cathy Alexander là nghiên cứu viên tại Viện Xã hội Bền vững Melbourne (Melbourne Sustainable Society Institute), Đại học Melbourne, Úc. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Plain-language explanation of the climate summit”.

Đang có chuyện gì?

Hàng năm Liên Hiệp Quốc (LHQ) tổ chức một hội nghị thượng đỉnh khí hậu. Hội nghị năm nay diễn ra tại Paris từ ngày 30/11 đến ngày 11/12. Người ta hy vọng hội nghị này sẽ chốt được một thỏa thuận mới về biến đổi khí hậu sẽ bắt đầu được thực hiện từ năm 2020.

Sao lại là Liên Hiệp Quốc?

Các quốc gia đã quyết định rằng LHQ sẽ là đầu tàu của quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc này tới nay vẫn luôn gặp khó khăn, và một số bên nghĩ rằng một giải pháp thực sự là nằm ngoài tầm tay.

Vậy nó toàn là về các quốc gia sao?

Phải. Hệ thống này nhìn vào các hành động ở tầm quốc gia, hơn là làm việc với các cá nhân, các khu vực hay các ngành.

Ai sẽ tới hội nghị này?

Bạn cần có thẻ chính thức để vào bên trong. Một số nhà lãnh đạo thế giới sẽ có mặt, các bộ trưởng nữa. Nơi đó sẽ có đủ các nhà ngoại giao, quan chức, những nhà hoạt động xã hội và giới doanh nhân.

Điều gì sẽ diễn ra tại hội nghị?

Các quốc gia đã đồng ý với nhau rằng họ muốn giới hạn mức trái đất nóng lên tới 2oC thôi. Hầu hết các nước đều đã đưa ra cam kết của mình để kiểm soát được các phát thải khí nhà kính sau năm 2020. Về tổng thể thì chưa ổn; trái đất sẽ nóng lên quá 2oC. Hội nghị lần này hướng tới việc đạt được một thỏa thuận chính thức để chốt lại các mục tiêu này, và xây dựng một tiến trình để các quốc gia từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình.

Thế thì hội nghị này cầm chắc thất bại?

À thì nó sẽ không chốt được một thỏa thuận là giữ cho mức nóng lên là 2 độ – trừ phi các nhà lãnh đạo thế giới làm tất cả mọi người ngạc nhiên bằng cách đặt ra các mục tiêu cao hơn. Có lẽ là nó sẽ nằm đâu đó giữa ‘các thương lượng chưa ngã ngũ’ và ‘một bước tiến tốt’. Nếu đây như một tiền sảnh cao cấp nơi có thể khuyến khích các chính phủ làm nhiều hơn để giảm phát thải, thì cũng hữu ích.

Sao việc thông qua này lại khó thế?

Hầu hết các chính phủ đều có vẻ muốn vấn đề biến đổi khí hậu được xử lý, nhưng họ thường muốn người khác làm phần việc khó. Các chính phủ lo lắng rằng cắt giảm phát thải sẽ khiến họ mất tiền (và phiếu bầu), vì thế họ có xu hướng muốn người khác đi trước, còn họ tìm lý do lý trấu để đi tụt lại đằng sau (mặc dù có các dấu hiệu cho thấy những thái độ này đang thay đổi). Thêm vào đó, LHQ hoạt động dựa trên cơ chế đồng thuận – tất cả mọi người phải cùng đồng ý – nên dễ bị sa lầy.

Thế tôi có nên từ bỏ hy vọng không?

Không. Nếu mọi người trên toàn thế giới quyết định rằng vấn đề này cần được xử lý, các chính phủ sẽ đi nhanh hơn. Có rất nhiều nỗ lực tại các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp để cắt giảm phát thải. Và thay đổi, khi nó tới, có thể tới rất nhanh.

Các ứng viên tổng thống Mỹ 2016 làm bằng gì?

Tác giả David Wessel là giám đốc Trung tâm Chính sách Tài chính & Tiền tệ Hutchins thuộc Brookings Institution và là một cộng tác viên cho tờ The Wall Street Journal (WSJ). Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Jell-O, Steel, Play-Doh: What Voters Think 2016 Candidates Are Made Of” đăng trên WSJ ngày 18/11/2015, 1:11 pm ET.

Những người đặt câu hỏi thiệt hết sảy.

Tại một phần trong Hội nghị Hội đồng CEO Wall Street Journal tuần này, Peter D. Hart đã mô tả lại một thảo luận nhóm do ông dẫn dắt mới đây tại Ohio cho thấy một cách hiểu thú vị hơn về việc người Mỹ đang nghĩ gì, bên cạnh những con số ông cung cấp cho WSJ/NBC News.

Một chiến thuật là đề nghị một nhóm thảo luận mô tả các ứng viên tổng thống như một thành viên trong gia đình. Đây là những gì ông được nghe:

Donald Trump? “Những gì họ nói với tôi là, ‘Ông ấy là ông bác điên rồ. Ông ta là ông chú chuyên say xỉn. Ông ta là một đứa nhóc tuổi teen thích tỏ ra nguy hiểm.’”

Thế còn Hillary Clinton? “Bà ấy là bà dì ghẻ, luôn luôn phải chứng tỏ bản thân mình, người nữ gia chủ, luôn luôn cố gắng làm hài lòng người khác.”

Và Jeb Bush? “Ông ấy là một ông chú kỳ cục. Hoặc ông này là một đứa con riêng hoặc một người em trai.”

Ben Carson: “Ông ấy là một người ông, kiểu một người ông ngọt ngào, hoặc cũng có thể là người bố dượng. Chúng tôi chịu không thể hiểu hay nói chuyện được với ông ấy.”

Sau đó ông Hart, một người của đảng Dân chủ đã phối hợp với Bill McInturff của đảng Cộng hòa để chạy trưng cầu của WSJ/NBC News, đã đặt một câu hỏi mà ông đã hỏi về các ứng viên trong các kỳ tranh cử trước đây: “Họ được làm bằng gì?”

“Khi tôi nhìn vào Obama,” ông Hart nói, “không bao giờ có cảm giác là ông ấy có sức mạnh. Ông ấy là cao su cứng.”

Và đây là những gì ông được nghe từ những nhóm thảo luận ở Ohio mới đây về các ứng viên năm 2016:

Ông Trump: “Thép, sắt, vàng, mặt cỏ nhân tạo.”

Bà Clinton: “Thép, sắt, titan.”

Ông Carson: “Gỗ, xương khủng long.”

Ông Bush: “Thạch Jell-O, sợi, đất nặn, rơm, kẹo dẻo marshmallow.”

Taxi, lạc đà, hay ISIS?

Tác giả Thomas Friedman đã quá nổi tiếng khỏi giới thiệu nữa :D. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc đăng trên The New York Times ngày 18/11/2015.

DUBAI, UAE — Hôm nay, tôi sẽ nói về những vụ tấn công ở Paris, nhưng trước tiên tôi muốn chia sẻ hai tin tức, nhỡ chẳng may bạn đã bỏ lỡ: Con lạc đà đầu tiên được sinh ra bởi một con lạc đà nhân bản vô tính đã chào đời tại một trung tâm nghiên cứu ở Dubai và một sáng kiến khởi nghiệp kinh doanh taxi đang đưa Uber vào thế giới Ả Rập.

Bạn có thể nghĩ rằng những thứ start-up Ả Rập này – lạc đà được nhân bản vô tính và taxi – chẳng liên quan gì đến Paris cả, nhưng mà có đấy. Bạn cứ nghe tôi nói tiếp đi.

Một tờ báo ở đây, The National, dẫn lời TS. Ali Ridha Al Hashimi, giám đốc hành chính của Trung tâm Công nghệ sinh học về sinh sản ở Dubai, thông báo “rằng Injaz, con lạc đà được nhân bản vô tính đầu tiên trên thế giới, đã hạ sinh một cô lạc đà con khỏe mạnh nặng khoảng 38 kg vào ngày 02/11. Injaz, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘thành tựu’, được nhân bản vô tính vào năm 2009 từ những tế bào buồng trứng của một con lạc đà đã chết.” Trước đó, khi chuyện mang thai này được tiết lộ, TS. Nisar Wani, giám đốc khoa học của trung tâm, đã nói, “Điều này sẽ chứng minh rằng những con lạc đà được nhân bản vô tính có thể sinh sản giống như những con lạc đà được sinh ra bình thường.”

Cũng trong tuần trước, một dịch vụ mới về chia sẻ xe ở Ả Rập được nhiều người quan tâm, Careem.com, đã kêu gọi được thêm 60 triệu đô-la tiền đầu tư để đưa Uber vào thế giới Ả Rập, sử dụng công nghệ cho phép đặt xe trước thông qua ứng dụng di động – thật lý tưởng đối với Ả Rập Xê-út, nơi phụ nữ không được lái xe và cần có tài xế đưa họ cùng con cái tới những nơi họ muốn.

Thế là, khoảng 1.000 dặm về phía nam của start-up Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria — nơi các đồng chí jihad đang sử dụng công nghệ để làm loạn trên quy mô rộng — một nhóm người Hồi giáo (và phi Hồi giáo) khác tại một đất nước Ả Rập khác đang khuấy đảo thế giới của lạc đà và taxi.

Thông điệp? Môi trường để người Ả Rập và người Hồi giáo sống cuộc sống của họ là thực sự quan trọng. Và ở quá nhiều nơi họ chỉ có đúng hai lựa chọn — SISI hay ISIS — quả đấm thép của các ông tướng, như Tổng thống Ai Cập Abdel Fatah al-Sisi, người đang cố gắng ngăn cản mọi sự bất đồng chính kiến, hay sự điên rồ mang tên ISIS với tuyên bố rằng con đường tiến lên duy nhất là phải lôi thế giới Ả Rập – Hồi giáo đi lùi lại.

May quá, còn một con đường thứ ba: các chế độ chuyên quyền, quân chủ và một vài nền dân chủ mong manh đã đầu tư vào con người và tạo ra những hòn đảo đáng sống — Tunisia, Jordan, Lebanon, Kurdistan, Kuwait, Morocco and the U.A.E. — nơi mà nhiều thanh niên Ả Rập và thanh niên Hồi giáo có thể nhận thức được tiềm năng của mình và xây dựng giá trị bản thân bằng việc gây chuyện với bọn lạc đà và đám taxi – chứ không phải gây chuyện ở Paris và Beirut.

Theo tôi, câu hỏi chiến lược lớn ở Iraq và Syria là: Phải làm gì để diệt trừ ISIS đến tận gốc rễ và tạo ra một hòn đảo Sunni đáng sống? Để bắt đầu, cần phải có một đánh giá trung thực xem thách thức này to như thế nào.

60 năm trước đây các nhà độc tài châu Á đại để là đã bảo với người dân của họ thế này, “Tôi sẽ lấy đi tự do của các anh chị – nhưng sẽ cho các anh chị sự giáo dục tốt nhất, nền kinh tế hướng vào xuất khẩu và cơ sở hạ tầng mà tiền mua được ấy – và trong vòng nửa thế kỷ các anh chị sẽ xây dựng được một tầng lớp trung lưu sẽ dần dần giúp các anh chị lấy lại tự do.” Trong thế giới Ả Rập thì 60 năm trước các nhà độc tài bảo với các thần dân của họ đại để là thế này, “Tôi sẽ lấy đi tự do của các anh chị và cho các anh chị sự xung đột Ả Rập – Israel, một thứ hấp dẫn để các anh chị khỏi phải bận tâm tới những trò tham nhũng và giết chóc của tôi.”

Sự khác biệt đó 60 năm sau đã tạo ra sự thần kỳ kinh tế của châu Á và sự sụp đổ/rối loạn của nền văn minh Ả Rập tại Yemen, Libya, Syria và Iraq.

Vì thế, tôi tin là chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực này nên theo hướng như vầy: Ở đâu có loạn lạc, hãy giúp tạo ra trật tự, bởi vì không có trật tự thì không thể có được điều gì tốt đẹp cả. Tôi sẽ chọn Sisi chứ không chọn tổ chức Huynh đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhood). Nhưng ở đâu có trật tự, chúng ta cần thúc đẩy nó trở nên tử tế và tiến bộ hơn. Đó là điểm mà Sisi đang hỏng: Tầm nhìn của ổng là trật tự chỉ để giữ trật tự, chả có tí tích cực nào cả. Ở đâu mà có trật tự ngon nghẻ rồi, như U.A.E., Jordan hay Kurdistan, thì khuyến khích họ dần dần trở nên cởi mở hơn và lập hiến nhiều hơn. Còn ở đâu đã có trật tự lập hiến rồi, như Tunisia, thì bảo vệ họ như một bông hoa quý hiếm.

Mosul, một người bạn Iraq có gia đình vẫn đang ở vùng bị ISIS kiểm soát, bảo tôi là việc Tổng thống Obama tăng cường ném bom và những hoạt động tác chiến đặc biệt với người Kurd đang gây tổn hại nhiều cho ISIS. Điều này phần nào dẫn tới việc ISIS gây ra chết chóc ở Paris. Nhưng những gã ISIS này rất thông minh và còn nguy hiểm lắm. Tôi sẽ ủng hộ việc tăng cường ném bom cũng như các hoạt động đặc nhiệm để làm suy yếu và kiềm tỏa chúng nhiều hơn.

Nhưng trước khi đi xa hơn, chúng ta cần đối diện thực tế này: Để đánh bại hoàn toàn đám Sunni theo ISIS xấu xa bạn cần những người Sunni không theo ISIS tử tế để tạo ra một hòn đảo đáng sống ở ngay trên đất của họ. Và ngay bây giờ, giời ạ, việc tìm ra và đầu tư vào những người Sunni không theo ISIS tử tế là ưu tiên hạng hai của mọi quốc gia ở đây.

Thổ Nhĩ Kỳ quan tâm nhiều hơn tới việc đánh bại người Kurd; Ả Rập Xê-út và những đồng minh ở Vịnh Ả Rập quan tâm nhiều hơn đến việc đánh bại Iran và những phe cánh của họ ở Iraq, Yemen và Syria; Qatar quan tâm nhiều hơn đến việc ủng hộ nhóm Huynh đệ Hồi giáo ở Syria và sinh sự với Ả Rập Xê-út; Iran quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ người Shiite ở Iraq và Syria – tất cả được đặt trước việc tạo ra một không gian cho những người Sunni tử tế phát triển. Và rất nhiều nhà hoạt động Sunni không theo ISIS ở Syria và Iraq thì vẫn là người Hồi giáo chứ – và họ cũng sẽ chẳng đi đâu cả. Làm thế nào dệt nên một tấm thảm đẹp từ những đám sợi này bây giờ?

Tôi không biết – và cho tới khi tôi biết thì tôi sẽ thận trọng trong việc đi xa hơn những gì chúng ta đã đang làm. Hôm nay Paris có thể hoàn toàn khác. Trung Đông thì không.

Thế giới bên bậc cửa nhà

Tác giả Tim Parks là tác giả và dịch giả của nhiều tác phẩm hư cấu và phi hư cấu, sinh ra tại Anh và hiện sống ở Ý. Ông là giáo sư văn học tại Đại học Truyền thông và Ngôn ngữ ở Milan (IULM). Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The migrants in our living room” đăng trên POLITICO, theo bản cập nhật lúc 8:02 AM CET ngày 05/09/2015. Tựa đề tiếng Việt được dịch theo slug của trang (The world on our doorstep), có thể là tựa đề ban đầu của bài báo.

Họ đến với chúng ta, do bị thu hút bởi những gì chúng ta nói và cách chúng ta sống. Và chúng ta thấy ngạc nhiên?

MILAN — Trong quá khứ người ta vượt biên đi tị nạn, rồi chờ đợi cơ hội để trở về. Họ muốn được trở về quê hương. Chúng ta có thể gửi viện trợ, hoặc là không. Chỉ có những người bị khủng bố thực sự hoặc những kẻ làm ăn bất chính mới tìm đường đến với những nền dân chủ cũ, những trung tâm thương mại thịnh vượng. Hiếm khi mới có một cuộc khủng hoảng đặc biệt mà có ai đó phải đứng ra nhận trách nhiệm: 27.000 người Uganda gốc Á tới Anh vào năm 1972; hơn một triệu người Việt Nam tới châu Âu khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Những sự kiện này không xảy ra thường xuyên; và có thể quản lý được.

Bây giờ tình hình đã khác. Giờ đây số người, không, số các dân tộc mới đúng, đang đổ bộ ồ ạt lên các bãi biển của chúng ta là nhiều vô kể. Cả biển người đã hạ đổ các hàng rào biên giới. Họ không tìm kiếm sự an toàn. Trái lại, họ đang chấp nhận nhiều rủi ro để di cư. Họ nhảy khỏi máy bay để tìm đến các thành phố của chúng ta. Họ chen chúc trong những chiếc công-ten-nơ tối tăm. Họ đi bộ nhiều dặm dọc theo các đường hầm xuyên biển. Phụ nữ sinh con trên những con tàu đang chìm dần. Trẻ con chết trên những bãi cát. Những điều đó không ngăn được họ lại. Hơn cả việc tìm một nơi trú ẩn, họ muốn có một cuộc sống. Họ muốn có ngay bây giờ. Và họ biết cuộc sống ấy có ở nơi nào: Đức, Pháp, Anh. Họ muốn có cuộc sống mà chúng ta đang có.

Và chúng ta ngạc nhiên trước điều đó.

*  *  *

Đã nhiều năm nay chúng ta hay nói về “một thế giới.” Chúng ta nói về nhân quyền phổ quát. Chúng ta xuất hiện ở mọi nơi để áp đặt ý thức hệ của chúng ta, tạo ra nhiều rối ren. Chúng ta có mạng toàn cầu. Phải có thông tin miễn phí, phải có tự do ngôn luận. Mỗi một người đều phải được tiếp cận. Mọi thứ phải có sẵn ngay và luôn ở khắp mọi nơi. Chúng ta mang phim truyền hình của mình đi chiếu khắp năm châu bốn bể, huyênh hoang về các quyền tự do của chúng ta. Chúng ta lôi kéo người ở khắp các hang cùng ngõ hẻm vào các môn thể thao và giải trí của chúng ta. Chúng ta mua những vận động viên giỏi nhất của họ. Những người giàu nhất của họ thì xúng xính trong những chiếc áo đấu của các đội bóng của chúng ta. Họ trả tiền cho những trò vui của chúng ta, rồi chúng ta bán lại cho họ qua vệ tinh.

Và rồi chúng ta ngạc nhiên khi thấy tự dưng một ngày cả thế giới xuất hiện bên bậc cửa nhà mình.

Những người nghèo trên thế giới đâu còn ngu ngốc nữa. Họ đã hết ngây thơ rồi. Những tầng lớp trung lưu mệt mỏi ở Syria, Libya, Palestine, Iraq thì lại càng không. Họ đã thấy cuộc sống của chúng ta. Họ biết nhà tắm của chúng ta lát gạch gì và bếp của chúng ta có những đồ gì. Họ biết mọi ngôi sao của chúng ta và mọi chuyện ngớ ngẩn xung quanh. Họ theo dõi bầu cử ở Mỹ. Họ chơi bóng đá và cricket và bóng bầu dục với chúng ta. Họ đã ngồi cùng chúng ta trong phòng khách của chúng ta, hoặc có cảm giác như thế. Cũng như chúng ta, tâm trí họ giờ đây bị cuốn vào một không gian ảo nơi mọi thứ xuất hiện trên màn hình và tất cả mọi người cùng tụ tập trên mạng. Khác biệt giữa một người ngồi trước màn hình ở Chelsea và một người ngồi trước màn hình ở Damascus là gì? Tại sao người này lại có một cuộc sống tốt hơn người kia? Họ đã không còn quá gắn bó với quê hương, với quá khứ nữa. Họ là một phần của hệ thống mới, một lối tư duy toàn cầu. Khi mất đi sinh kế và điều kiện sống bị đe dọa, họ sẽ đột ngột tính toán rất nhanh và sẵn sàng xê dịch. Họ sẵn sàng cho bất kỳ điều gì có thể xảy ra. Họ muốn có tương lai và họ muốn có ngay bây giờ.

Trên tất cả, họ biết những gì chúng ta cho là tốt. Họ cảm nhận được sự thừa mứa của chúng ta.

*  *  *

Đã nhiều thế kỷ nay chúng ta vẫn tự bảo mình là giàu có và tử tế không có gì mâu thuẫn với nhau hết. Cuộc tranh luận đã bắt đầu từ thời Phục hưng. Hãy quên sự nghèo đói của đấng Ki-tô đi, hãy phát triển nhà thờ bằng sự giàu có của các thương gia và các ông chủ nhà băng, hãy nhớ tới hình ảnh ba vị vua mang vàng đến máng cỏ. Người giàu giờ là người bảo trợ cho nghệ thuật, nhà thờ, và các quỹ từ thiện. Sự giàu có của họ là chính đáng. No đủ và thanh lịch, họ được tự do tận hưởng những sự xa xỉ bậc nhất mà vẫn yên tâm rằng mình là người tốt nên chắc chắn sẽ được lên thiên đường. Tiền bạc và sự ngoan đạo mang lại bình an cho họ. Đây chính là phương Tây.

Ý nghĩ đó xuyên qua mọi tầng lớp xã hội. Tất cả chúng ta đều có thể cho những người tị nạn trên thế giới một chút gì đó trong khi vẫn sống an toàn trong những xã hội thịnh vượng. Chúng ta vừa tốt bụng vừa an tâm. Chúng ta xem những vở mê-lô về những gì mà Thế giới thứ ba đang phải gánh chịu, cảm thấy an toàn khi biết rằng cuộc sống của chúng ta sẽ không thay đổi. Điều này đang xảy ra ở Namibia, ở Bangladesh. Chúng ta quyên góp. Động lòng trắc ẩn làm ta thấy dễ chịu. Chúng ta Cứu trợ Trẻ em rồi ra ngoài ăn bít-tết. Chúng ta ổn.

Trên tất cả châu Âu thật tốt. Nó là một Cộng đồng. Các cộng đồng đều tốt. Nó được hình thành để các quốc gia của chúng ta có thể không bao giờ phải đi đánh nhau nữa. Thực vậy, nó dựa rất nhiều vào một chính sách nông nghiệp đã khiến châu Phi trở nên nghèo đói, nhưng lần cuối cùng có người thèm để ý đến chuyện đó là khi nào? Châu Âu cho phép mọi người đi lại tự do, bởi vì khi quyền đó được đưa ra có tương đối ít người muốn dịch chuyển. Nó cao giọng về sự cởi mở và bình đẳng. Chúng ta sẽ không cho phép các nền văn hóa khác đối xử tệ với phụ nữ của họ. Chúng ta sẽ không để họ gây hại cho con gái họ. Không phải chúng ta đáng ngưỡng mộ sao? Chúng ta tách rời tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng. Chúng ta không chấp nhận những kẻ điên cuồng. Châu Âu là một mô hình cho tương lai, phải vậy không? Chúng ta tin là như thế. Trung dung, hiểu biết, dễ thở. Dễ thở nhờ sự giàu có. Tự do động lòng trắc ẩn.

Miễn là tất cả bọn họ đừng có kéo đến đây.

*  *  *

Đây là một cuộc khủng hoảng về bản sắc. Người ta đang cố gắng tới chỗ chúng ta bằng đường biển. Rất nhiều người. Những cánh tay vươn dài. Họ khốn cùng và tuyệt vọng. Họ muốn sống trên đường phố của chúng ta, làm việc tại nơi chúng ta làm việc, mua sắm trong các siêu thị của chúng ta. Chúng ta muốn giữ lòng trắc ẩn. Chúng ta không thể chấp nhận được chính mình nếu chúng ta không thể nghĩ rằng ta là những người tốt. Chúng ta cũng không thể hình dung được một sự sụt giảm chất lượng sống đáng kể. Thật ra là bất cứ sự sụt giảm nào. Chúng ta không thể từ bỏ sự an toàn của chúng ta, sự giàu có của chúng ta, thu nhập của chúng ta, lương hưu của chúng ta, những khoản tiền vặt vãnh của chúng ta.

Chúng ta sẽ làm gì đây? Chúng ta sẽ trở thành ai đây? Các chính trị gia của chúng ta chỉ nghĩ tới cuộc bầu cử kế tiếp; mà nó thì chẳng bao giờ ở xa cả. Họ không thể lập những kế hoạch dài hạn. Họ không có tầm nhìn vượt quá những việc hàng ngày và việc tuyên truyền. Không có một vị lãnh đạo châu Âu nào ở thời điểm hiện tại có bất cứ tầm nhìn nào hay khí chất lãnh tụ cả. Họ lựa theo chiều gió. Một khảo sát cho biết các cử tri ghét vấn đề nhập cư và thế là họ đóng cửa các biên giới. Một khảo sát cho biết các cử trị bị xúc động mạnh bởi bức ảnh một đứa trẻ bị chết và thế là họ cho vài ngàn người vào. Không nhà lãnh đạo nào phải tiếp nhận nhiều người nhập cư hơn người khác. Không nhà lãnh đạo nào phải bị xem là kém nhân đạo hơn những người đồng cấp của mình.

Kết quả là mọi chuyện trở nên tệ nhất có thể. Dần dần những người nhập cư tràn vào bằng mọi giá, nhưng phải chịu theo mọi dạng vòng vo và phiền toái. Họ gần như bị đẩy vào thế sống trong hận thù cứ nhen lên mỗi ngày. Khi tôi tới Ý 30 năm trước, tôi chẳng nói được một từ tiếng Ý nào. Tôi chẳng biết mấy về đất nước này. Tôi cứ mày mò dần theo năm tháng. Ở Anh cô con dâu người Ma-rốc của tôi phải chịu đủ thứ yêu cầu hành chính ngu ngốc. Con bé bị bắt phải qua được một bài kiểm tra mà 90% công dân Anh sẽ trượt và phải qua được một bài kiểm tra ngôn ngữ mà rất nhiều người di cư thuộc Cộng đồng sẽ trượt. Ý cũng chẳng khác gì. Những người đi ngang dưới cửa sổ nhà tôi ở ngoại ô Milan chủ yếu nói tiếng Ả Rập và tiếng Trung. Mọi thứ ngôn ngữ của Ấn Độ. Để thuê một căn hộ hay để làm việc, họ phải theo những quy định hà khắc hơn rất nhiều những gì tôi và những người nhập cư Ru-ma-ni hay Ba Lan trải qua. Bởi thế chính chúng ta tạo ra những nguồn gốc của bạo lực cho những năm sau này.

Sẽ không có giải pháp nào đơn giản cho chuyện này. Nhưng chúng ta phải thừa nhận bản chất thực của tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Chúng ta phải quyết định xem chúng ta là ai. Chúng ta phải hành động bằng lương tâm và sẵn sàng với những hệ quả tiếp theo sau. Chúng ta phải làm quen với ý tưởng rằng cuộc đời có thể thay đổi thực sự, cuộc sống của chúng ta ấy, và rằng sự giàu có không phải là tiêu chuẩn duy nhất của hạnh phúc. Tay này cho đi rồi tay kia lại giật lại thì thật là lố bịch. Tin rằng chúng ta là người tốt và để cho người khác chết như rạ ở ngoài kia thật đáng xấu hổ. Chúng ta cần can đảm tới gặp họ. Chúng ta hãy sẵn lòng thay đổi.

Những người tị nạn Syria có làm tăng nguy cơ khủng bố?

Tác giả Daniel Byman là giáo sư tại Đại học Georgetown (Mỹ) và giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Chính sách Trung Đông thuộc Brookings Institution. Ông đã từng là thành viên của Ủy ban 11/9 và làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Do Syrian refugees pose a terrorism threat?” đăng trên Lawfare ngày 25/10/2015.

Những người Syria và Iraq đã tha hương bởi nội chiến từ nhiều năm nay, nhưng tháng trước cuộc khủng hoảng người tị nạn mới choán ngập truyền thông quốc tế khi làm rung chuyển cả châu Âu. Tại thời điểm tháng 09/2015 có hơn 500.000 người tị nạn Syria và hàng ngàn người Iraq đã tới châu Âu, và con số này được dự báo sẽ còn tăng vọt. Một số chính phủ châu Âu đã phản ứng gay gắt, ngăn cản người tị nạn nhập cư và hạn chế sự di chuyển của họ, trong khi một số khác, điển hình là Đức, đã mở rộng vòng tay với họ – ít nhất là tới thời điểm này.

Tranh cãi về vấn đề người tị nạn, cả ở châu Âu và Mỹ, thường xoay quanh các câu hỏi liên quan tới khủng bố: với các hành động cưỡng bức và chặt đầu của Nhà nước Hồi giáo diễn ra thường xuyên ở Iraq và Syria, điều lo ngại là việc tiếp nhận những người tị nạn từ khu vực này sẽ làm tăng khủng bố và bạo lực ở châu Âu. Những tiếng nói của phe bảo thủ ở châu Âu đã vẽ ra một viễn cảnh châu Âu sẽ đột ngột xuất hiện nửa triệu chiến binh của Nhà nước Hồi giáo, trong khi những người của phe nhân đạo bác bỏ những dự đoán về việc khủng bố sẽ lan rộng.

Cả hai phe đều có phần sai. Những lo ngại về khủng bố và người tị nạn cũng là chính đáng, nhưng những nỗi sợ hãi và lo ngại đang được dấy lên thường đi sai bản chất của vấn đề.

Khủng bố và người tị nạn có cùng một lịch sử dài và nhiều đau thương. Những nhóm khủng bố đáng chú ý như Fatah, Hamas, và Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine (PFLP) đã được hình thành từ khủng hoảng người tị nạn Palestinian năm 1948. Sau đó nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, những người tị nạn nhiều bức xúc và bị chính trị hóa, với rất ít cơ hội để hòa nhập vào các xã hội đã tiếp nhận họ, đã dần dần gia nhập các nhóm quân sự hứa hẹn sẽ mang tới cho họ một cơ hội được giải phóng. Cộng đồng người tị nạn Afghanistan tại Pakistan đã tạo ra Taliban. Những người tị nạn Somali đã hỗ trợ nhóm khủng bố al-Shabaab. Danh sách này còn dài.

Do những người tị nạn đến từ Syria và Iraq, nơi đặt đại bản doanh của Nhà nước Hồi giáo, rất dễ nảy sinh một nỗi sợ hãi rằng nhóm jihad sẽ cài người vào dòng người tị nạn để tới các nước khác và làm loạn ở đó. Nhưng Nhà nước Hồi giáo không vận hành kiểu đó. Trên tạp chí điện tử Dabiq và các phương tiện tuyên truyền khác của mình, họ nhấn mạnh việc quy tụ những người Hồi giáo, tuy cũng có lúc thúc giục những người Hồi giáo tại các nước khác “tấn công, sát hại, và khủng bố những kẻ hợm hĩnh (crusader) ngay trên đường phố và tại nhà của chúng.”

Tuy nhiên, Nhà nước Hồi giáo kêu gọi “những người Hồi giáo ngoan đạo” (good Muslims) nên tới Iraq and Syria để chiến đấu nhân danh Nhà nước Hồi giáo chống lại những kẻ thù ở ngay đó, chứ không phải ngược lại. (Trái lại, Inspire, tạp chí điện tử bằng tiếng Anh của al-Qaida ở Bán đảo A Rập, tập trung kêu gọi những ai có thể hãy tấn công khủng bố ngay tại quốc gia mình đang sinh sống.) Nhà nước Hồi giáo có thể kêu gọi tấn công tại phương Tây, nhưng trước đến nay họ vẫn tập trung tiền bạc, binh lính, và những kẻ đánh bom tự sát để chống lại các kẻ thù ở Trung Đông. Bản thân những người tị nạn đang trốn chạy khỏi chiến tranh và chủ nghĩa cực đoan không phải là những người ủng hộ mạnh mẽ của các nhóm bạo lực nhất: nếu không họ đã ở lại Iraq hoặc Syria.

Nhưng châu Âu vốn đã có vấn đề về khủng bố và đe dọa lớn nhất là những người Hồi giáo đã cực đoan hóa ở châu Âu sẽ biến cộng đồng người tị nạn Syria dần dần trở nên bạo lực hơn. Hàng ngàn người châu Âu đã tới tham chiến cùng Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria, và al-Qaida cũng có mặt ở châu Âu đã lâu. Những tình nguyện viên này luôn xuất hiện bởi luôn có các nhà truyền giáo lên án các giá trị của châu Âu và ủng hộ ý tưởng người Hồi giáo phải vùng lên. Thêm vào đó, nhiều người Âu Hồi giáo tách rời khỏi chính phủ và xã hội nơi họ sinh sống bởi họ tin rằng là người Hồi giáo họ sẽ không bao giờ thực sự, hoặc cũng không nên, thuộc về các cộng đồng này.

Nếu những người tị nạn bị coi như một vấn nạn nhân đạo ngắn hạn thay vì được xem như một thách thức dài hạn để đưa họ hòa nhập vào những xã hội mới, thì có lẽ chúng ta sẽ được chứng kiến tình hình ngày càng tồi tệ. Những phần tử cực đoan sẽ là một trong những nhóm cung cấp các hỗ trợ về xã hội, giáo dục, và tôn giáo cho những người tị nạn – điều này sẽ trở thành vấn đề ở những nơi họ là những nhóm hỗ trợ duy nhất. Những người tị nạn thực sự cần những hỗ trợ đầy đủ, đồng bộ, và dài hạn trong đó bao gồm quyền chính trị, hỗ trợ giáo dục, và hỗ trợ về kinh tế cũng như những cứu trợ nhân đạo trước mắt, đặc biệt là nếu họ được tiếp nhận vào với số lượng lớn. Nếu họ không thể hòa nhập được vào các cộng đồng địa phương, thì có nguy cơ những căng thẳng giữa các cộng đồng Hồi giáo và các cộng đồng khác ở châu Âu sẽ tiếp tục dai dẳng, hoặc thậm chí còn gia tăng. Mặc dù hiện nay những người tị nạn chỉ đơn giản là tìm kiếm một nơi trú ẩn ở châu Âu, nhưng theo thời gian có thể họ sẽ bị mất dần các quyền và trở thành cách biệt. Chúng ta đã từng được chứng kiến kịch bản này, ở nơi giận dữ và bất bình nhen dần lên, tạo ra “những cộng đồng hoài nghi” (suspect communities) không tuân theo luật pháp, không hợp tác với các cơ quan an ninh, và trở thành nơi những kẻ khủng bố tha hồ tuyển quân và hoạt động mà hầu như không có ai can thiệp.

Các rủi ro về an ninh hiện tại trên thực tế đang ở mức thấp, nhưng những nguy cơ tiềm tàng là đáng kể nếu cuộc khủng hoảng tị nạn không được xử lý tốt. Việc giữ gìn an ninh trật tự, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, và quản trị nhà nước cấp cơ sở nhìn chung cần được đảm bảo về dài hạn. Điều tệ nhất các nước châu Âu có thể làm là giang tay với hàng trăm ngàn người tị nạn bằng một thái độ cảm thông và rồi mất dần sự quan tâm hoặc trở nên khó chịu với họ, để mặc họ tự xoay xở mà không có trợ giúp và luôn yếu thế về mặt chính trị, nghĩa là tự viết nên một lời tiên tri cho chính mình rồi biến nó thành hiện thực.