Category Archives: Chuyện chính trị – xã hội

Ông Donald đó đó và người quyết định

Tác giả: Paul Krugman. Blog của bác (Lương tâm của một người theo chủ nghĩa tự do) ở đây còn Twitter của bác ở đây. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The Donald and the Decider” đăng trên The New York Times ngày 21/12/2015.

Khoảng sáu tháng đã trôi qua kể từ khi Donald Trump vượt qua Jeb Bush trong các trưng cầu của các cử tri Cộng hòa. Vào thời điểm đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng hiện tượng Trump chỉ là nhất thời và dự đoán rằng các cử tri sẽ sớm quay về với các ứng viên truyền thống hơn. Tuy nhiên, thay vào đó, sự dẫn đầu của ông này cứ ngày càng tách xa các đối thủ. Thậm chí đáng chú ý hơn thế, bộ ba chuyên nói linh tinh — ông Trump, Ben Carson, và Ted Cruz — giờ đây nhận được sự ủng hộ của khoảng 60% nhóm cử tri chính yếu.

Nhưng tại sao lại thế? Xét cho cùng thì các ứng viên phi truyền thống đang lấn lướt hiện nay, ngoài việc thiếu hiểu biết sâu sắc về chính sách, có một thói quen là đưa ra những tuyên bố sai lệch, rồi không thèm đính chính bao giờ. Tại sao các cử tri Cộng hòa dường như lại không quan tâm tới điều đó?

2015_NYT_politicians-lie

Biểu đồ do Bill Marsh làm từ dữ liệu của PolitiFact cho bài “Tất cả các chính trị gia đều nói dối. Một số nói dối nhiều hơn những người khác.” của tác giả Angie Holan đăng ngày 11/12/2015 trên The New York Times.

Chậc, một phần của câu trả lời hẳn là đảng này đã dạy họ là không cần phải quan tâm. Lấy khoác lác và hiếu chiến thay cho phân tích, thái độ khinh khỉnh thay cho trả lời có cân nhắc ở bất kỳ dạng nào, gạt đi những thực tế khó chịu mà “đám truyền thông mang tư tưởng tự do” đưa ra – tất cả những điều này không phải đột nhiên mới xuất hiện trên sân khấu của đảng Cộng hòa. Ngược lại, chúng đã từ lâu là những thành phần chính tạo nên thương hiệu của đảng này. Vậy làm thế nào các cử tri có thể biết được đâu là giới hạn?

Trước hết hãy nói về di sản của Kẻ Mà Chớ Gọi Tên Ra.

Tôi không biết bao nhiêu độc giả còn nhớ cuộc bầu cử năm 2000, nhưng trong suốt chiến dịch tranh cử các ứng viên Cộng hòa đã cố gắng – và thành công to – trong việc biến cuộc bầu cử trở thành câu chuyện ai dễ mến hơn ai, thay vì là câu chuyện chính sách. Kiểu: George W. Bush nên nhận được phiếu bầu của bạn bởi ông ta là người bạn sẽ thích ngồi uống bia cùng, không như cái gã Al Gore khô khan, tẻ nhạt suốt ngày cứ số liệu với chả thực tế.

Và khi ông Gore cố gắng nói chuyện về những khác biệt chính sách, ông Bush không trả lời vào phần chính mà bằng cách móc mỉa “bài toán khó nhằn” của đối thủ – một cụm từ mà những người ủng hộ ông bắt chước đem xài một cách thích thú. Các tập đoàn truyền thông bám theo ngay bài dìm hàng cố ý này: ông Gore được cho là đã thua trong các cuộc tranh luận, không phải vì ông ấy sai, mà bởi vì ông ấy, như các phóng viên cho biết, có vẻ kênh kiệu và trên cơ người khác, không giống như ngài W. thiếu trung thực nhưng theo kiểu dễ mến.

Sau đó thì xảy ra vụ 11/9, và ngài dễ mến biến thành một nhà lãnh đạo chiến tranh. Nhưng vụ biến hình này đã không bao giờ đi kèm với những tranh luận tử tế về chính sách đối ngoại. Thay vào đó, ông Bush và các cận thần chỉ thể hiện một sự huyênh hoang. Kiểu: ông ấy là người bạn có thể tin tưởng là sẽ đảm bảo an toàn cho chúng ta bởi vì ông ấy nói chuyện một cách cứng rắn và ông ấy có cách ăn mặc giống như một phi công chiến đấu. Ông ấy đã tự tin tuyên bố rằng ông ấy là “người quyết định” – và ông ấy ra quyết định dựa vào “trực giác.”

Ngụ ý là những người lãnh đạo thực sự không mất thời gian vào việc suy nghĩ quá nhiều, lắng nghe các chuyên gia chỉ là một dấu hiệu của sự yếu đuối, và quan trọng là cái thái độ. Và trong khi những thất bại của ông Bush ở Iraq và New Orleans cuối cùng cũng đặt dấu chấm hết cho niềm tin của người Mỹ vào trực giác của ông, sự tôn vinh thái độ cao hơn con số lại càng bùng lên trong đảng của ông, thể hiện rõ khi John McCain, người mà xưa kia đã từng có tiếng về sự độc lập về chính sách, đã chọn một Sarah Palin rõ ràng là không đủ năng lực để làm cánh tay phải của mình trong tranh cử.

Vì thế Donald Trump như một hiện tượng chính trị là một tiếp nối quá chuẩn của một dòng chảy từ ngài W. tới bà Palin, và trên nhiều khía cạnh ông là một đại diện tiêu biểu cho cốt lõi của đảng Cộng hòa. Ví dụ, bạn có sốc không khi ông Trump tiết lộ sự ngưỡng mộ của ổng dành cho Vladimir Putin? Ông ấy chỉ là đang nói ra một cảm xúc vốn đã tràn ngập trong đảng của ổng.

Trong khi đó, những ứng viên truyền thống có gì khác để show ra nào? Về mặt chính sách mà nói, chẳng có gì khác mấy. Hãy nhớ rằng, ở thời điểm mà Jeb Bush được xem là ứng viên hàng đầu, ông này đã tập hợp một nhóm “chuyên gia” chính sách đối ngoại là những người có bằng cấp hàn lâm và vị trí trong những nhóm think-tank cánh hữu. Nhưng đội ngũ này phần lớn là những người tân bảo thủ cứng rắn, những người mà bất chấp những sai lầm trong quá khứ vẫn trung thành với niềm tin rằng cứ gây sốc và gây khiếp 😀 (nguyên văn “shock and awe”, một chiến lược quân sự nổi tiếng của Mỹ – ND) là giải quyết được hết.

Nói cách khác, ông Bush không phải đã đưa ra một chính sách khác biệt gì đáng kể so với những gì mà giờ đây chúng ta nghe được từ Trump và các cộng sự; tất cả những gì ông ấy trưng ra là sự hiếu chiến có phết bên ngoài một lớp tư cách đáng kính. Marco Rubio, người tiếp sau ông được coi là ứng viên truyền thống được ưa chuộng, cũng giống hệt vậy, thêm một vài cuộc xâm lược nữa. Vì sao lại phải ngạc nhiên khi thấy điệu bộ [chính trị] này giờ đây được ngửa bài bởi sự hiếu chiến thẳng thừng của các ứng viên không truyền thống?

Trong trường hợp bạn có chút băn khoăn, những chuyện như thế này không xảy ra ở bên phe Dân chủ. Khi Hillary Clinton và Bernie Sanders tranh luận, ví dụ là về việc điều tiết tài chính đi, thì đó là một cuộc thảo luận thật sự, với cả hai ứng viên rõ ràng là nắm thông tin rất tốt về những vấn đề liên quan. Thảo luận chính trị ở Mỹ về tổng thể chưa hề chìm xuồng, nó chỉ là vấn đề của cánh bảo thủ mà thôi.

Trở lại với những người Cộng hòa, có phải điều này nghĩa là ông Trump sẽ thực sự là một ứng viên của họ? Tôi chịu. Nhưng điều quan trọng cần thấy là ông này không phải bỗng nhiên đột nhập vào nền chính trị Cộng hòa từ một thiên hà khác. Ông ấy, hoặc một ai đó như ông ấy, là nơi mà đảng này đã hướng tới từ lâu rồi.

Advertisements

Nói cho dễ hiểu về hội nghị thượng đỉnh khí hậu

Tác giả Cathy Alexander là nghiên cứu viên tại Viện Xã hội Bền vững Melbourne (Melbourne Sustainable Society Institute), Đại học Melbourne, Úc. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Plain-language explanation of the climate summit”.

Đang có chuyện gì?

Hàng năm Liên Hiệp Quốc (LHQ) tổ chức một hội nghị thượng đỉnh khí hậu. Hội nghị năm nay diễn ra tại Paris từ ngày 30/11 đến ngày 11/12. Người ta hy vọng hội nghị này sẽ chốt được một thỏa thuận mới về biến đổi khí hậu sẽ bắt đầu được thực hiện từ năm 2020.

Sao lại là Liên Hiệp Quốc?

Các quốc gia đã quyết định rằng LHQ sẽ là đầu tàu của quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc này tới nay vẫn luôn gặp khó khăn, và một số bên nghĩ rằng một giải pháp thực sự là nằm ngoài tầm tay.

Vậy nó toàn là về các quốc gia sao?

Phải. Hệ thống này nhìn vào các hành động ở tầm quốc gia, hơn là làm việc với các cá nhân, các khu vực hay các ngành.

Ai sẽ tới hội nghị này?

Bạn cần có thẻ chính thức để vào bên trong. Một số nhà lãnh đạo thế giới sẽ có mặt, các bộ trưởng nữa. Nơi đó sẽ có đủ các nhà ngoại giao, quan chức, những nhà hoạt động xã hội và giới doanh nhân.

Điều gì sẽ diễn ra tại hội nghị?

Các quốc gia đã đồng ý với nhau rằng họ muốn giới hạn mức trái đất nóng lên tới 2oC thôi. Hầu hết các nước đều đã đưa ra cam kết của mình để kiểm soát được các phát thải khí nhà kính sau năm 2020. Về tổng thể thì chưa ổn; trái đất sẽ nóng lên quá 2oC. Hội nghị lần này hướng tới việc đạt được một thỏa thuận chính thức để chốt lại các mục tiêu này, và xây dựng một tiến trình để các quốc gia từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình.

Thế thì hội nghị này cầm chắc thất bại?

À thì nó sẽ không chốt được một thỏa thuận là giữ cho mức nóng lên là 2 độ – trừ phi các nhà lãnh đạo thế giới làm tất cả mọi người ngạc nhiên bằng cách đặt ra các mục tiêu cao hơn. Có lẽ là nó sẽ nằm đâu đó giữa ‘các thương lượng chưa ngã ngũ’ và ‘một bước tiến tốt’. Nếu đây như một tiền sảnh cao cấp nơi có thể khuyến khích các chính phủ làm nhiều hơn để giảm phát thải, thì cũng hữu ích.

Sao việc thông qua này lại khó thế?

Hầu hết các chính phủ đều có vẻ muốn vấn đề biến đổi khí hậu được xử lý, nhưng họ thường muốn người khác làm phần việc khó. Các chính phủ lo lắng rằng cắt giảm phát thải sẽ khiến họ mất tiền (và phiếu bầu), vì thế họ có xu hướng muốn người khác đi trước, còn họ tìm lý do lý trấu để đi tụt lại đằng sau (mặc dù có các dấu hiệu cho thấy những thái độ này đang thay đổi). Thêm vào đó, LHQ hoạt động dựa trên cơ chế đồng thuận – tất cả mọi người phải cùng đồng ý – nên dễ bị sa lầy.

Thế tôi có nên từ bỏ hy vọng không?

Không. Nếu mọi người trên toàn thế giới quyết định rằng vấn đề này cần được xử lý, các chính phủ sẽ đi nhanh hơn. Có rất nhiều nỗ lực tại các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp để cắt giảm phát thải. Và thay đổi, khi nó tới, có thể tới rất nhanh.

Các ứng viên tổng thống Mỹ 2016 làm bằng gì?

Tác giả David Wessel là giám đốc Trung tâm Chính sách Tài chính & Tiền tệ Hutchins thuộc Brookings Institution và là một cộng tác viên cho tờ The Wall Street Journal (WSJ). Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Jell-O, Steel, Play-Doh: What Voters Think 2016 Candidates Are Made Of” đăng trên WSJ ngày 18/11/2015, 1:11 pm ET.

Những người đặt câu hỏi thiệt hết sảy.

Tại một phần trong Hội nghị Hội đồng CEO Wall Street Journal tuần này, Peter D. Hart đã mô tả lại một thảo luận nhóm do ông dẫn dắt mới đây tại Ohio cho thấy một cách hiểu thú vị hơn về việc người Mỹ đang nghĩ gì, bên cạnh những con số ông cung cấp cho WSJ/NBC News.

Một chiến thuật là đề nghị một nhóm thảo luận mô tả các ứng viên tổng thống như một thành viên trong gia đình. Đây là những gì ông được nghe:

Donald Trump? “Những gì họ nói với tôi là, ‘Ông ấy là ông bác điên rồ. Ông ta là ông chú chuyên say xỉn. Ông ta là một đứa nhóc tuổi teen thích tỏ ra nguy hiểm.’”

Thế còn Hillary Clinton? “Bà ấy là bà dì ghẻ, luôn luôn phải chứng tỏ bản thân mình, người nữ gia chủ, luôn luôn cố gắng làm hài lòng người khác.”

Và Jeb Bush? “Ông ấy là một ông chú kỳ cục. Hoặc ông này là một đứa con riêng hoặc một người em trai.”

Ben Carson: “Ông ấy là một người ông, kiểu một người ông ngọt ngào, hoặc cũng có thể là người bố dượng. Chúng tôi chịu không thể hiểu hay nói chuyện được với ông ấy.”

Sau đó ông Hart, một người của đảng Dân chủ đã phối hợp với Bill McInturff của đảng Cộng hòa để chạy trưng cầu của WSJ/NBC News, đã đặt một câu hỏi mà ông đã hỏi về các ứng viên trong các kỳ tranh cử trước đây: “Họ được làm bằng gì?”

“Khi tôi nhìn vào Obama,” ông Hart nói, “không bao giờ có cảm giác là ông ấy có sức mạnh. Ông ấy là cao su cứng.”

Và đây là những gì ông được nghe từ những nhóm thảo luận ở Ohio mới đây về các ứng viên năm 2016:

Ông Trump: “Thép, sắt, vàng, mặt cỏ nhân tạo.”

Bà Clinton: “Thép, sắt, titan.”

Ông Carson: “Gỗ, xương khủng long.”

Ông Bush: “Thạch Jell-O, sợi, đất nặn, rơm, kẹo dẻo marshmallow.”

Taxi, lạc đà, hay ISIS?

Tác giả Thomas Friedman đã quá nổi tiếng khỏi giới thiệu nữa :D. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc đăng trên The New York Times ngày 18/11/2015.

DUBAI, UAE — Hôm nay, tôi sẽ nói về những vụ tấn công ở Paris, nhưng trước tiên tôi muốn chia sẻ hai tin tức, nhỡ chẳng may bạn đã bỏ lỡ: Con lạc đà đầu tiên được sinh ra bởi một con lạc đà nhân bản vô tính đã chào đời tại một trung tâm nghiên cứu ở Dubai và một sáng kiến khởi nghiệp kinh doanh taxi đang đưa Uber vào thế giới Ả Rập.

Bạn có thể nghĩ rằng những thứ start-up Ả Rập này – lạc đà được nhân bản vô tính và taxi – chẳng liên quan gì đến Paris cả, nhưng mà có đấy. Bạn cứ nghe tôi nói tiếp đi.

Một tờ báo ở đây, The National, dẫn lời TS. Ali Ridha Al Hashimi, giám đốc hành chính của Trung tâm Công nghệ sinh học về sinh sản ở Dubai, thông báo “rằng Injaz, con lạc đà được nhân bản vô tính đầu tiên trên thế giới, đã hạ sinh một cô lạc đà con khỏe mạnh nặng khoảng 38 kg vào ngày 02/11. Injaz, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘thành tựu’, được nhân bản vô tính vào năm 2009 từ những tế bào buồng trứng của một con lạc đà đã chết.” Trước đó, khi chuyện mang thai này được tiết lộ, TS. Nisar Wani, giám đốc khoa học của trung tâm, đã nói, “Điều này sẽ chứng minh rằng những con lạc đà được nhân bản vô tính có thể sinh sản giống như những con lạc đà được sinh ra bình thường.”

Cũng trong tuần trước, một dịch vụ mới về chia sẻ xe ở Ả Rập được nhiều người quan tâm, Careem.com, đã kêu gọi được thêm 60 triệu đô-la tiền đầu tư để đưa Uber vào thế giới Ả Rập, sử dụng công nghệ cho phép đặt xe trước thông qua ứng dụng di động – thật lý tưởng đối với Ả Rập Xê-út, nơi phụ nữ không được lái xe và cần có tài xế đưa họ cùng con cái tới những nơi họ muốn.

Thế là, khoảng 1.000 dặm về phía nam của start-up Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria — nơi các đồng chí jihad đang sử dụng công nghệ để làm loạn trên quy mô rộng — một nhóm người Hồi giáo (và phi Hồi giáo) khác tại một đất nước Ả Rập khác đang khuấy đảo thế giới của lạc đà và taxi.

Thông điệp? Môi trường để người Ả Rập và người Hồi giáo sống cuộc sống của họ là thực sự quan trọng. Và ở quá nhiều nơi họ chỉ có đúng hai lựa chọn — SISI hay ISIS — quả đấm thép của các ông tướng, như Tổng thống Ai Cập Abdel Fatah al-Sisi, người đang cố gắng ngăn cản mọi sự bất đồng chính kiến, hay sự điên rồ mang tên ISIS với tuyên bố rằng con đường tiến lên duy nhất là phải lôi thế giới Ả Rập – Hồi giáo đi lùi lại.

May quá, còn một con đường thứ ba: các chế độ chuyên quyền, quân chủ và một vài nền dân chủ mong manh đã đầu tư vào con người và tạo ra những hòn đảo đáng sống — Tunisia, Jordan, Lebanon, Kurdistan, Kuwait, Morocco and the U.A.E. — nơi mà nhiều thanh niên Ả Rập và thanh niên Hồi giáo có thể nhận thức được tiềm năng của mình và xây dựng giá trị bản thân bằng việc gây chuyện với bọn lạc đà và đám taxi – chứ không phải gây chuyện ở Paris và Beirut.

Theo tôi, câu hỏi chiến lược lớn ở Iraq và Syria là: Phải làm gì để diệt trừ ISIS đến tận gốc rễ và tạo ra một hòn đảo Sunni đáng sống? Để bắt đầu, cần phải có một đánh giá trung thực xem thách thức này to như thế nào.

60 năm trước đây các nhà độc tài châu Á đại để là đã bảo với người dân của họ thế này, “Tôi sẽ lấy đi tự do của các anh chị – nhưng sẽ cho các anh chị sự giáo dục tốt nhất, nền kinh tế hướng vào xuất khẩu và cơ sở hạ tầng mà tiền mua được ấy – và trong vòng nửa thế kỷ các anh chị sẽ xây dựng được một tầng lớp trung lưu sẽ dần dần giúp các anh chị lấy lại tự do.” Trong thế giới Ả Rập thì 60 năm trước các nhà độc tài bảo với các thần dân của họ đại để là thế này, “Tôi sẽ lấy đi tự do của các anh chị và cho các anh chị sự xung đột Ả Rập – Israel, một thứ hấp dẫn để các anh chị khỏi phải bận tâm tới những trò tham nhũng và giết chóc của tôi.”

Sự khác biệt đó 60 năm sau đã tạo ra sự thần kỳ kinh tế của châu Á và sự sụp đổ/rối loạn của nền văn minh Ả Rập tại Yemen, Libya, Syria và Iraq.

Vì thế, tôi tin là chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực này nên theo hướng như vầy: Ở đâu có loạn lạc, hãy giúp tạo ra trật tự, bởi vì không có trật tự thì không thể có được điều gì tốt đẹp cả. Tôi sẽ chọn Sisi chứ không chọn tổ chức Huynh đệ Hồi giáo (Muslim Brotherhood). Nhưng ở đâu có trật tự, chúng ta cần thúc đẩy nó trở nên tử tế và tiến bộ hơn. Đó là điểm mà Sisi đang hỏng: Tầm nhìn của ổng là trật tự chỉ để giữ trật tự, chả có tí tích cực nào cả. Ở đâu mà có trật tự ngon nghẻ rồi, như U.A.E., Jordan hay Kurdistan, thì khuyến khích họ dần dần trở nên cởi mở hơn và lập hiến nhiều hơn. Còn ở đâu đã có trật tự lập hiến rồi, như Tunisia, thì bảo vệ họ như một bông hoa quý hiếm.

Mosul, một người bạn Iraq có gia đình vẫn đang ở vùng bị ISIS kiểm soát, bảo tôi là việc Tổng thống Obama tăng cường ném bom và những hoạt động tác chiến đặc biệt với người Kurd đang gây tổn hại nhiều cho ISIS. Điều này phần nào dẫn tới việc ISIS gây ra chết chóc ở Paris. Nhưng những gã ISIS này rất thông minh và còn nguy hiểm lắm. Tôi sẽ ủng hộ việc tăng cường ném bom cũng như các hoạt động đặc nhiệm để làm suy yếu và kiềm tỏa chúng nhiều hơn.

Nhưng trước khi đi xa hơn, chúng ta cần đối diện thực tế này: Để đánh bại hoàn toàn đám Sunni theo ISIS xấu xa bạn cần những người Sunni không theo ISIS tử tế để tạo ra một hòn đảo đáng sống ở ngay trên đất của họ. Và ngay bây giờ, giời ạ, việc tìm ra và đầu tư vào những người Sunni không theo ISIS tử tế là ưu tiên hạng hai của mọi quốc gia ở đây.

Thổ Nhĩ Kỳ quan tâm nhiều hơn tới việc đánh bại người Kurd; Ả Rập Xê-út và những đồng minh ở Vịnh Ả Rập quan tâm nhiều hơn đến việc đánh bại Iran và những phe cánh của họ ở Iraq, Yemen và Syria; Qatar quan tâm nhiều hơn đến việc ủng hộ nhóm Huynh đệ Hồi giáo ở Syria và sinh sự với Ả Rập Xê-út; Iran quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ người Shiite ở Iraq và Syria – tất cả được đặt trước việc tạo ra một không gian cho những người Sunni tử tế phát triển. Và rất nhiều nhà hoạt động Sunni không theo ISIS ở Syria và Iraq thì vẫn là người Hồi giáo chứ – và họ cũng sẽ chẳng đi đâu cả. Làm thế nào dệt nên một tấm thảm đẹp từ những đám sợi này bây giờ?

Tôi không biết – và cho tới khi tôi biết thì tôi sẽ thận trọng trong việc đi xa hơn những gì chúng ta đã đang làm. Hôm nay Paris có thể hoàn toàn khác. Trung Đông thì không.

Thế giới bên bậc cửa nhà

Tác giả Tim Parks là tác giả và dịch giả của nhiều tác phẩm hư cấu và phi hư cấu, sinh ra tại Anh và hiện sống ở Ý. Ông là giáo sư văn học tại Đại học Truyền thông và Ngôn ngữ ở Milan (IULM). Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The migrants in our living room” đăng trên POLITICO, theo bản cập nhật lúc 8:02 AM CET ngày 05/09/2015. Tựa đề tiếng Việt được dịch theo slug của trang (The world on our doorstep), có thể là tựa đề ban đầu của bài báo.

Họ đến với chúng ta, do bị thu hút bởi những gì chúng ta nói và cách chúng ta sống. Và chúng ta thấy ngạc nhiên?

MILAN — Trong quá khứ người ta vượt biên đi tị nạn, rồi chờ đợi cơ hội để trở về. Họ muốn được trở về quê hương. Chúng ta có thể gửi viện trợ, hoặc là không. Chỉ có những người bị khủng bố thực sự hoặc những kẻ làm ăn bất chính mới tìm đường đến với những nền dân chủ cũ, những trung tâm thương mại thịnh vượng. Hiếm khi mới có một cuộc khủng hoảng đặc biệt mà có ai đó phải đứng ra nhận trách nhiệm: 27.000 người Uganda gốc Á tới Anh vào năm 1972; hơn một triệu người Việt Nam tới châu Âu khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Những sự kiện này không xảy ra thường xuyên; và có thể quản lý được.

Bây giờ tình hình đã khác. Giờ đây số người, không, số các dân tộc mới đúng, đang đổ bộ ồ ạt lên các bãi biển của chúng ta là nhiều vô kể. Cả biển người đã hạ đổ các hàng rào biên giới. Họ không tìm kiếm sự an toàn. Trái lại, họ đang chấp nhận nhiều rủi ro để di cư. Họ nhảy khỏi máy bay để tìm đến các thành phố của chúng ta. Họ chen chúc trong những chiếc công-ten-nơ tối tăm. Họ đi bộ nhiều dặm dọc theo các đường hầm xuyên biển. Phụ nữ sinh con trên những con tàu đang chìm dần. Trẻ con chết trên những bãi cát. Những điều đó không ngăn được họ lại. Hơn cả việc tìm một nơi trú ẩn, họ muốn có một cuộc sống. Họ muốn có ngay bây giờ. Và họ biết cuộc sống ấy có ở nơi nào: Đức, Pháp, Anh. Họ muốn có cuộc sống mà chúng ta đang có.

Và chúng ta ngạc nhiên trước điều đó.

*  *  *

Đã nhiều năm nay chúng ta hay nói về “một thế giới.” Chúng ta nói về nhân quyền phổ quát. Chúng ta xuất hiện ở mọi nơi để áp đặt ý thức hệ của chúng ta, tạo ra nhiều rối ren. Chúng ta có mạng toàn cầu. Phải có thông tin miễn phí, phải có tự do ngôn luận. Mỗi một người đều phải được tiếp cận. Mọi thứ phải có sẵn ngay và luôn ở khắp mọi nơi. Chúng ta mang phim truyền hình của mình đi chiếu khắp năm châu bốn bể, huyênh hoang về các quyền tự do của chúng ta. Chúng ta lôi kéo người ở khắp các hang cùng ngõ hẻm vào các môn thể thao và giải trí của chúng ta. Chúng ta mua những vận động viên giỏi nhất của họ. Những người giàu nhất của họ thì xúng xính trong những chiếc áo đấu của các đội bóng của chúng ta. Họ trả tiền cho những trò vui của chúng ta, rồi chúng ta bán lại cho họ qua vệ tinh.

Và rồi chúng ta ngạc nhiên khi thấy tự dưng một ngày cả thế giới xuất hiện bên bậc cửa nhà mình.

Những người nghèo trên thế giới đâu còn ngu ngốc nữa. Họ đã hết ngây thơ rồi. Những tầng lớp trung lưu mệt mỏi ở Syria, Libya, Palestine, Iraq thì lại càng không. Họ đã thấy cuộc sống của chúng ta. Họ biết nhà tắm của chúng ta lát gạch gì và bếp của chúng ta có những đồ gì. Họ biết mọi ngôi sao của chúng ta và mọi chuyện ngớ ngẩn xung quanh. Họ theo dõi bầu cử ở Mỹ. Họ chơi bóng đá và cricket và bóng bầu dục với chúng ta. Họ đã ngồi cùng chúng ta trong phòng khách của chúng ta, hoặc có cảm giác như thế. Cũng như chúng ta, tâm trí họ giờ đây bị cuốn vào một không gian ảo nơi mọi thứ xuất hiện trên màn hình và tất cả mọi người cùng tụ tập trên mạng. Khác biệt giữa một người ngồi trước màn hình ở Chelsea và một người ngồi trước màn hình ở Damascus là gì? Tại sao người này lại có một cuộc sống tốt hơn người kia? Họ đã không còn quá gắn bó với quê hương, với quá khứ nữa. Họ là một phần của hệ thống mới, một lối tư duy toàn cầu. Khi mất đi sinh kế và điều kiện sống bị đe dọa, họ sẽ đột ngột tính toán rất nhanh và sẵn sàng xê dịch. Họ sẵn sàng cho bất kỳ điều gì có thể xảy ra. Họ muốn có tương lai và họ muốn có ngay bây giờ.

Trên tất cả, họ biết những gì chúng ta cho là tốt. Họ cảm nhận được sự thừa mứa của chúng ta.

*  *  *

Đã nhiều thế kỷ nay chúng ta vẫn tự bảo mình là giàu có và tử tế không có gì mâu thuẫn với nhau hết. Cuộc tranh luận đã bắt đầu từ thời Phục hưng. Hãy quên sự nghèo đói của đấng Ki-tô đi, hãy phát triển nhà thờ bằng sự giàu có của các thương gia và các ông chủ nhà băng, hãy nhớ tới hình ảnh ba vị vua mang vàng đến máng cỏ. Người giàu giờ là người bảo trợ cho nghệ thuật, nhà thờ, và các quỹ từ thiện. Sự giàu có của họ là chính đáng. No đủ và thanh lịch, họ được tự do tận hưởng những sự xa xỉ bậc nhất mà vẫn yên tâm rằng mình là người tốt nên chắc chắn sẽ được lên thiên đường. Tiền bạc và sự ngoan đạo mang lại bình an cho họ. Đây chính là phương Tây.

Ý nghĩ đó xuyên qua mọi tầng lớp xã hội. Tất cả chúng ta đều có thể cho những người tị nạn trên thế giới một chút gì đó trong khi vẫn sống an toàn trong những xã hội thịnh vượng. Chúng ta vừa tốt bụng vừa an tâm. Chúng ta xem những vở mê-lô về những gì mà Thế giới thứ ba đang phải gánh chịu, cảm thấy an toàn khi biết rằng cuộc sống của chúng ta sẽ không thay đổi. Điều này đang xảy ra ở Namibia, ở Bangladesh. Chúng ta quyên góp. Động lòng trắc ẩn làm ta thấy dễ chịu. Chúng ta Cứu trợ Trẻ em rồi ra ngoài ăn bít-tết. Chúng ta ổn.

Trên tất cả châu Âu thật tốt. Nó là một Cộng đồng. Các cộng đồng đều tốt. Nó được hình thành để các quốc gia của chúng ta có thể không bao giờ phải đi đánh nhau nữa. Thực vậy, nó dựa rất nhiều vào một chính sách nông nghiệp đã khiến châu Phi trở nên nghèo đói, nhưng lần cuối cùng có người thèm để ý đến chuyện đó là khi nào? Châu Âu cho phép mọi người đi lại tự do, bởi vì khi quyền đó được đưa ra có tương đối ít người muốn dịch chuyển. Nó cao giọng về sự cởi mở và bình đẳng. Chúng ta sẽ không cho phép các nền văn hóa khác đối xử tệ với phụ nữ của họ. Chúng ta sẽ không để họ gây hại cho con gái họ. Không phải chúng ta đáng ngưỡng mộ sao? Chúng ta tách rời tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng. Chúng ta không chấp nhận những kẻ điên cuồng. Châu Âu là một mô hình cho tương lai, phải vậy không? Chúng ta tin là như thế. Trung dung, hiểu biết, dễ thở. Dễ thở nhờ sự giàu có. Tự do động lòng trắc ẩn.

Miễn là tất cả bọn họ đừng có kéo đến đây.

*  *  *

Đây là một cuộc khủng hoảng về bản sắc. Người ta đang cố gắng tới chỗ chúng ta bằng đường biển. Rất nhiều người. Những cánh tay vươn dài. Họ khốn cùng và tuyệt vọng. Họ muốn sống trên đường phố của chúng ta, làm việc tại nơi chúng ta làm việc, mua sắm trong các siêu thị của chúng ta. Chúng ta muốn giữ lòng trắc ẩn. Chúng ta không thể chấp nhận được chính mình nếu chúng ta không thể nghĩ rằng ta là những người tốt. Chúng ta cũng không thể hình dung được một sự sụt giảm chất lượng sống đáng kể. Thật ra là bất cứ sự sụt giảm nào. Chúng ta không thể từ bỏ sự an toàn của chúng ta, sự giàu có của chúng ta, thu nhập của chúng ta, lương hưu của chúng ta, những khoản tiền vặt vãnh của chúng ta.

Chúng ta sẽ làm gì đây? Chúng ta sẽ trở thành ai đây? Các chính trị gia của chúng ta chỉ nghĩ tới cuộc bầu cử kế tiếp; mà nó thì chẳng bao giờ ở xa cả. Họ không thể lập những kế hoạch dài hạn. Họ không có tầm nhìn vượt quá những việc hàng ngày và việc tuyên truyền. Không có một vị lãnh đạo châu Âu nào ở thời điểm hiện tại có bất cứ tầm nhìn nào hay khí chất lãnh tụ cả. Họ lựa theo chiều gió. Một khảo sát cho biết các cử tri ghét vấn đề nhập cư và thế là họ đóng cửa các biên giới. Một khảo sát cho biết các cử trị bị xúc động mạnh bởi bức ảnh một đứa trẻ bị chết và thế là họ cho vài ngàn người vào. Không nhà lãnh đạo nào phải tiếp nhận nhiều người nhập cư hơn người khác. Không nhà lãnh đạo nào phải bị xem là kém nhân đạo hơn những người đồng cấp của mình.

Kết quả là mọi chuyện trở nên tệ nhất có thể. Dần dần những người nhập cư tràn vào bằng mọi giá, nhưng phải chịu theo mọi dạng vòng vo và phiền toái. Họ gần như bị đẩy vào thế sống trong hận thù cứ nhen lên mỗi ngày. Khi tôi tới Ý 30 năm trước, tôi chẳng nói được một từ tiếng Ý nào. Tôi chẳng biết mấy về đất nước này. Tôi cứ mày mò dần theo năm tháng. Ở Anh cô con dâu người Ma-rốc của tôi phải chịu đủ thứ yêu cầu hành chính ngu ngốc. Con bé bị bắt phải qua được một bài kiểm tra mà 90% công dân Anh sẽ trượt và phải qua được một bài kiểm tra ngôn ngữ mà rất nhiều người di cư thuộc Cộng đồng sẽ trượt. Ý cũng chẳng khác gì. Những người đi ngang dưới cửa sổ nhà tôi ở ngoại ô Milan chủ yếu nói tiếng Ả Rập và tiếng Trung. Mọi thứ ngôn ngữ của Ấn Độ. Để thuê một căn hộ hay để làm việc, họ phải theo những quy định hà khắc hơn rất nhiều những gì tôi và những người nhập cư Ru-ma-ni hay Ba Lan trải qua. Bởi thế chính chúng ta tạo ra những nguồn gốc của bạo lực cho những năm sau này.

Sẽ không có giải pháp nào đơn giản cho chuyện này. Nhưng chúng ta phải thừa nhận bản chất thực của tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Chúng ta phải quyết định xem chúng ta là ai. Chúng ta phải hành động bằng lương tâm và sẵn sàng với những hệ quả tiếp theo sau. Chúng ta phải làm quen với ý tưởng rằng cuộc đời có thể thay đổi thực sự, cuộc sống của chúng ta ấy, và rằng sự giàu có không phải là tiêu chuẩn duy nhất của hạnh phúc. Tay này cho đi rồi tay kia lại giật lại thì thật là lố bịch. Tin rằng chúng ta là người tốt và để cho người khác chết như rạ ở ngoài kia thật đáng xấu hổ. Chúng ta cần can đảm tới gặp họ. Chúng ta hãy sẵn lòng thay đổi.

Những người tị nạn Syria có làm tăng nguy cơ khủng bố?

Tác giả Daniel Byman là giáo sư tại Đại học Georgetown (Mỹ) và giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Chính sách Trung Đông thuộc Brookings Institution. Ông đã từng là thành viên của Ủy ban 11/9 và làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Do Syrian refugees pose a terrorism threat?” đăng trên Lawfare ngày 25/10/2015.

Những người Syria và Iraq đã tha hương bởi nội chiến từ nhiều năm nay, nhưng tháng trước cuộc khủng hoảng người tị nạn mới choán ngập truyền thông quốc tế khi làm rung chuyển cả châu Âu. Tại thời điểm tháng 09/2015 có hơn 500.000 người tị nạn Syria và hàng ngàn người Iraq đã tới châu Âu, và con số này được dự báo sẽ còn tăng vọt. Một số chính phủ châu Âu đã phản ứng gay gắt, ngăn cản người tị nạn nhập cư và hạn chế sự di chuyển của họ, trong khi một số khác, điển hình là Đức, đã mở rộng vòng tay với họ – ít nhất là tới thời điểm này.

Tranh cãi về vấn đề người tị nạn, cả ở châu Âu và Mỹ, thường xoay quanh các câu hỏi liên quan tới khủng bố: với các hành động cưỡng bức và chặt đầu của Nhà nước Hồi giáo diễn ra thường xuyên ở Iraq và Syria, điều lo ngại là việc tiếp nhận những người tị nạn từ khu vực này sẽ làm tăng khủng bố và bạo lực ở châu Âu. Những tiếng nói của phe bảo thủ ở châu Âu đã vẽ ra một viễn cảnh châu Âu sẽ đột ngột xuất hiện nửa triệu chiến binh của Nhà nước Hồi giáo, trong khi những người của phe nhân đạo bác bỏ những dự đoán về việc khủng bố sẽ lan rộng.

Cả hai phe đều có phần sai. Những lo ngại về khủng bố và người tị nạn cũng là chính đáng, nhưng những nỗi sợ hãi và lo ngại đang được dấy lên thường đi sai bản chất của vấn đề.

Khủng bố và người tị nạn có cùng một lịch sử dài và nhiều đau thương. Những nhóm khủng bố đáng chú ý như Fatah, Hamas, và Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine (PFLP) đã được hình thành từ khủng hoảng người tị nạn Palestinian năm 1948. Sau đó nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, những người tị nạn nhiều bức xúc và bị chính trị hóa, với rất ít cơ hội để hòa nhập vào các xã hội đã tiếp nhận họ, đã dần dần gia nhập các nhóm quân sự hứa hẹn sẽ mang tới cho họ một cơ hội được giải phóng. Cộng đồng người tị nạn Afghanistan tại Pakistan đã tạo ra Taliban. Những người tị nạn Somali đã hỗ trợ nhóm khủng bố al-Shabaab. Danh sách này còn dài.

Do những người tị nạn đến từ Syria và Iraq, nơi đặt đại bản doanh của Nhà nước Hồi giáo, rất dễ nảy sinh một nỗi sợ hãi rằng nhóm jihad sẽ cài người vào dòng người tị nạn để tới các nước khác và làm loạn ở đó. Nhưng Nhà nước Hồi giáo không vận hành kiểu đó. Trên tạp chí điện tử Dabiq và các phương tiện tuyên truyền khác của mình, họ nhấn mạnh việc quy tụ những người Hồi giáo, tuy cũng có lúc thúc giục những người Hồi giáo tại các nước khác “tấn công, sát hại, và khủng bố những kẻ hợm hĩnh (crusader) ngay trên đường phố và tại nhà của chúng.”

Tuy nhiên, Nhà nước Hồi giáo kêu gọi “những người Hồi giáo ngoan đạo” (good Muslims) nên tới Iraq and Syria để chiến đấu nhân danh Nhà nước Hồi giáo chống lại những kẻ thù ở ngay đó, chứ không phải ngược lại. (Trái lại, Inspire, tạp chí điện tử bằng tiếng Anh của al-Qaida ở Bán đảo A Rập, tập trung kêu gọi những ai có thể hãy tấn công khủng bố ngay tại quốc gia mình đang sinh sống.) Nhà nước Hồi giáo có thể kêu gọi tấn công tại phương Tây, nhưng trước đến nay họ vẫn tập trung tiền bạc, binh lính, và những kẻ đánh bom tự sát để chống lại các kẻ thù ở Trung Đông. Bản thân những người tị nạn đang trốn chạy khỏi chiến tranh và chủ nghĩa cực đoan không phải là những người ủng hộ mạnh mẽ của các nhóm bạo lực nhất: nếu không họ đã ở lại Iraq hoặc Syria.

Nhưng châu Âu vốn đã có vấn đề về khủng bố và đe dọa lớn nhất là những người Hồi giáo đã cực đoan hóa ở châu Âu sẽ biến cộng đồng người tị nạn Syria dần dần trở nên bạo lực hơn. Hàng ngàn người châu Âu đã tới tham chiến cùng Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria, và al-Qaida cũng có mặt ở châu Âu đã lâu. Những tình nguyện viên này luôn xuất hiện bởi luôn có các nhà truyền giáo lên án các giá trị của châu Âu và ủng hộ ý tưởng người Hồi giáo phải vùng lên. Thêm vào đó, nhiều người Âu Hồi giáo tách rời khỏi chính phủ và xã hội nơi họ sinh sống bởi họ tin rằng là người Hồi giáo họ sẽ không bao giờ thực sự, hoặc cũng không nên, thuộc về các cộng đồng này.

Nếu những người tị nạn bị coi như một vấn nạn nhân đạo ngắn hạn thay vì được xem như một thách thức dài hạn để đưa họ hòa nhập vào những xã hội mới, thì có lẽ chúng ta sẽ được chứng kiến tình hình ngày càng tồi tệ. Những phần tử cực đoan sẽ là một trong những nhóm cung cấp các hỗ trợ về xã hội, giáo dục, và tôn giáo cho những người tị nạn – điều này sẽ trở thành vấn đề ở những nơi họ là những nhóm hỗ trợ duy nhất. Những người tị nạn thực sự cần những hỗ trợ đầy đủ, đồng bộ, và dài hạn trong đó bao gồm quyền chính trị, hỗ trợ giáo dục, và hỗ trợ về kinh tế cũng như những cứu trợ nhân đạo trước mắt, đặc biệt là nếu họ được tiếp nhận vào với số lượng lớn. Nếu họ không thể hòa nhập được vào các cộng đồng địa phương, thì có nguy cơ những căng thẳng giữa các cộng đồng Hồi giáo và các cộng đồng khác ở châu Âu sẽ tiếp tục dai dẳng, hoặc thậm chí còn gia tăng. Mặc dù hiện nay những người tị nạn chỉ đơn giản là tìm kiếm một nơi trú ẩn ở châu Âu, nhưng theo thời gian có thể họ sẽ bị mất dần các quyền và trở thành cách biệt. Chúng ta đã từng được chứng kiến kịch bản này, ở nơi giận dữ và bất bình nhen dần lên, tạo ra “những cộng đồng hoài nghi” (suspect communities) không tuân theo luật pháp, không hợp tác với các cơ quan an ninh, và trở thành nơi những kẻ khủng bố tha hồ tuyển quân và hoạt động mà hầu như không có ai can thiệp.

Các rủi ro về an ninh hiện tại trên thực tế đang ở mức thấp, nhưng những nguy cơ tiềm tàng là đáng kể nếu cuộc khủng hoảng tị nạn không được xử lý tốt. Việc giữ gìn an ninh trật tự, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, và quản trị nhà nước cấp cơ sở nhìn chung cần được đảm bảo về dài hạn. Điều tệ nhất các nước châu Âu có thể làm là giang tay với hàng trăm ngàn người tị nạn bằng một thái độ cảm thông và rồi mất dần sự quan tâm hoặc trở nên khó chịu với họ, để mặc họ tự xoay xở mà không có trợ giúp và luôn yếu thế về mặt chính trị, nghĩa là tự viết nên một lời tiên tri cho chính mình rồi biến nó thành hiện thực.

Năm điều cần biết về vụ tấn công Paris

Tác giả Daniel Byman là giáo sư tại Đại học Georgetown (Mỹ) và giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Chính sách Trung Đông thuộc Brookings Institution. Ông đã từng là thành viên của Ủy ban 11/9 và làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài đăng trên Slate ngày 14/11/2015.

Vụ tấn công Paris cho ta biết gì về ISIS — và liệu Mỹ có phải mục tiêu tiếp theo?

Một bức tranh hoàn chỉnh hơn về cuộc thảm sát kinh hoàng tại Paris đang dần được hé lộ khi các nhà chức trách, cảnh sát, và các nhân chứng bổ sung dần các chi tiết về chuỗi các vụ tấn công đã làm ít nhất 120 người chết và hàng trăm người khác bị thương. ISIS đã nhận trách nhiệm – và các nhà chức trách ở Pháp và các nước khác có vẻ cũng có cùng kết luận. Nếu điều này là đúng, vụ tấn công đặt ra rất nhiều câu hỏi về việc chuyển hướng của nhóm này cũng như các nguy cơ đối với Mỹ và châu Âu.

Vụ tấn công Paris cho chúng ta biết gì về ISIS? ISIS đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi từ Syria lan sang khắp Iraq vào năm 2014, chiếm được nhiều vùng rộng lớn trên đất nước này. Nhưng thực tế nhóm này đã xuất hiện từ khoảng năm 2004, nếu không phải sớm hơn, trong rất nhiều vỏ bọc khác nhau (al-Qaida ở Iraq, Nhà nước Hồi giáo Iraq, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Syria, v.v.). Trong hơn một thập kỷ qua họ đã tập trung ưu tiên hàng đầu cho vùng hoạt động, trả lương cho quân du kích và gây chiến với các chính phủ Iraq và Syria, lực lượng đối lập ôn hòa ở Syria, các nhóm người Kurd địa phương, và đặc biệt là các nhóm Hồi giáo địa phương mà họ coi như kẻ thù, dù đó là các nhóm tôn giáo thiểu số hay các cá nhân bị nghi ngờ câu kết với các chính phủ thù địch. Họ đặc biệt căm ghét người Hồi giáo Shia, và các đồng minh của Tổng thống Syria Bashar Assad như lực lượng Hezbollah người Li-băng và chính phủ Iran thường xuyên bị hạ nhục. Họ thường tiến hành tấn công khủng bố, nhưng thường trong bối cảnh của một cuộc chiến trên diện rộng hơn, như tấn công các đồn cảnh sát. Họ cũng phát động các cuộc tấn công nhằm vào Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê-út, và các quốc gia láng giềng khác để trừng phạt việc các nước này hỗ trợ phe kẻ thù của ISIS và để kích thích những người ủng hộ tiềm năng đã bị thu hút bởi những thông điệp về tôn giáo và phong trào jihad mà nhóm này đưa ra. Mặc dù tuyên bố chống lại phương Tây rất kinh, trên thực tế ISIS chỉ cố gắng kích động “những con sói đơn độc” (“Lone Wolves”, ý chỉ những kẻ khủng bố lẻ – ND) trong khi tập trung các nguồn lực ở những chỗ khác.

Vụ tấn công Paris không đi theo thông lệ này. Mặc dù từ trước tới giờ các cá nhân hành động dưới tên ISIS đã cố gắng tiến hành các cuộc tấn công khác nhau ở châu Âu, rất ít người có liên hệ thực sự với tổ chức này. Hiện còn quá sớm để nói rằng vụ tấn công vừa rồi nhận được lệnh từ trên, nhưng tính chất có tổ chức và tương đối tinh vi của nó gợi ý rằng đây không chỉ là vài con sói đơn độc. Nếu như vậy, đây có lẽ là lần đầu tiên ISIS dành những nguồn lực đáng kể cho một vụ tấn công tàn sát quy mô ở châu Âu.

Có rất nhiều điều đang xảy ra với Nhà nước Hồi giáo này. Chúng ta phải nghĩ thế nào về vụ tấn công vừa rồi trên nền tảng những hành động trước đó? Trong vài tuần gần đây ISIS đã mất mát khá nhiều, trong đó có việc mất đi thành phố Sinjar quan trọng ở Iraq về tay những lực lượng người Kurd. Tuy nhiên còn có những vụ tấn công tự sát lớn ở Beirut đã giết chết 40 người và có thể đã làm rơi chiếc máy bay của Nga ở bán đảo Sinai, giết chết toàn bộ 224 người ở nước ngoài. Vụ tấn công Li-băng đi theo lối cũ: những kẻ tấn công đánh vào những khu vực đông người Shia ở Beirut, nơi đặt tổng hành dinh của lực lượng Hezbollah Li-băng, đối thủ truyền kiếp của ISIS. Nhưng kể cả như vậy thì tính chất của vụ tấn công trên diện rộng vừa rồi cho thấy một sự leo thang.

Những vụ tấn công ở Sinai cho thấy một bước ngoặt rõ rệt hơn nhiều và có thể là một sự châm ngòi cho những vụ tấn công ở Paris. Sinai cho thấy Nhà nước Hồi giáo hoặc các tổ chức liên quan đang mở rộng hoạt động ra ngoài khu vực truyền thống để nhắm tới các mục tiêu quốc tế – đặc biệt là những kẻ thù đáng gờm như Nga. Mặc dù hàng không dân dụng đã từ lâu luôn nằm trong tầm ngắm của các nhóm khủng bố, trước vụ Sinai ISIS đã sử dụng những phương thức khác để tấn công kẻ thù của mình.

Vụ tấn công ở Paris là một đòn đau nhưng là bước đi logic. Li-băng nằm sát sạt vùng hoạt động chính của nhóm này; Sinai ở ngay trong khu vực nhưng nằm xa căn cứ chính hơn và vụ này nhằm vào một mục tiêu quốc tế; và Pháp thậm chí còn xa hơn nữa và không có sự có mặt chính thức của ISIS. Nếu đầu não của ISIS thực sự đứng sau những vụ này, họ đã cho thấy họ muốn gây chiến với kẻ thù ở khắp mọi nơi, chứ không phải chỉ ở nơi mà nhóm này có lợi thế “sân nhà”.

Vì sao nước Pháp bị căm ghét đến vậy? Người Mỹ thường có cái nhìn lỗi thời về việc chống khủng bố của nước Pháp như còn ở thập niên 1980, khi Pháp thường khá ôn hòa với các nhóm khủng bố. Điều này đã thay đổi đột ngột vào những năm 1990, khi các nhóm người Algeria bắt đầu thực hiện hàng loạt các cuộc tấn công ở Paris, khiến Pháp phải trở nên cứng rắn hơn. Từ đó trở đi Pháp trở thành một tay chống jihad gay gắt và sừng sỏ trên thế giới.

Nhưng lòng căm hận Pháp không chỉ bởi sự xông xáo chống khủng bố của nước này. Pháp còn là một nhân vật tích cực ở Trung Đông khi theo Mỹ tham gia ném bom ISIS và còn tự mình thực hiện các can thiệp khác. Ở Mali, Pháp đã đánh tan các nhóm jihad địa phương đã từng chiếm giữ được nhiều phần trên đất nước này. Ở trong nước, Pháp cũng mạnh tay với các vấn đề tôn giáo. Ví dụ, họ đã từng đưa ra những chính sách ngăn cấm một số thực hành tôn giáo ở nơi công cộng như cấm phụ nữ đeo mạng che mặt, và những tạp chí châm biếm như Charlie Hebdo thường xuyên chế giễu tôn giáo, trong đó có Hồi giáo. Sự pha trộn của việc sẵn sàng tham chiến, tự do phê phán, và mạnh tay với tôn giáo đã khiến Pháp trở thành một đối tượng bị căm hận đặc biệt của Nhà nước Hồi giáo cùng nhiều phần tử jihad khác.

Vụ việc này nói lên điều gì về những người tị nạn Syria ở châu Âu? Hiển nhiên là các đảng cánh hữu sẽ lên tiếng rằng việc tiếp nhận người tị nạn Syria tới châu Âu cũng đồng nghĩa với việc rước các sát thủ về nhà. Và dĩ nhiên những kẻ quá khích sẽ dùng những vụ tấn công này để gây hấn với những người Hồi giáo.

Tuy nhiên, đóng cửa châu Âu sẽ là một sai lầm. ISIS muốn những người ủng hộ tới tham chiến ở Iraq và Syria: Họ sẽ không gửi người ra nước ngoài bằng cách đóng giả làm người tị nạn. Trên thực tế, họ coi những người đang bỏ chạy khỏi tổ quốc cũng như kẻ thù: Những người này sẽ bỏ phiếu chống lại việc phải sống dưới đế chế (caliphate) của ISIS, họ thà sống với những người không theo đạo còn hơn. ISIS đã gọi việc chạy tị nạn của những người này là “một tội tày trời.” Đe dọa khủng bố thực sự là khi những người tị nạn bị bỏ mặc hoặc được tiếp nhận trong sự cảm thông nhưng sau đó lại bị đàn áp. Điều đó sẽ biến những người tị nạn từ một bi kịch nhân đạo thành một đe dọa an ninh.

Liệu Mỹ sẽ là mục tiêu kế tiếp? Đoán xem những kẻ khủng bố sẽ tấn công vào đâu tiếp theo thường là một trò chơi ngu ngốc: Những kẻ khủng bố có những toan tính lớn, nhưng cũng rất biết chớp thời cơ, và còn tùy thuộc nhiều vào năng lực tình báo cũng như các hoạt động an ninh của đối phương. Các vụ tấn công vào London, Madrid, và các nơi khác một thập kỷ trước đã đi kèm với những đe dọa sẽ nhấn chìm cả châu Âu, nhưng điều đó đã không thành hiện thực. Mỹ chỉ gặp vài vụ tấn công sau sự kiện 11/9. Một phần là bởi Mỹ đã đầu tư mạnh vào hoạt động chống khủng bố, và FBI cùng các hoạt động tình báo đã tập trung vào Nhà nước Hồi giáo kể từ khi họ tự xưng với thế giới. Có thể nói điều tương tự về nước Pháp – việc những phần tử jihad muốn tấn công Pháp không có gì ngạc nhiên, và tình báo Pháp đã được cảnh báo – bởi vậy chỉ hiểu biết và chuẩn bị thì chưa phải một giải pháp trọn vẹn. Nhưng trái ngược với Pháp, Mỹ chưa bao giờ có một cộng đồng Hồi giáo lớn thù ghét chính phủ. Thêm vào đó, Pháp có nhiều người Hồi giáo đã từng tham chiến ở Syria hơn Mỹ rất nhiều. Bởi vậy tuy cả hai quốc gia đều có vấn đề, vấn đề của Mỹ ít phức tạp hơn, và sẽ là một sai lầm nếu từ vụ việc ở Pháp lại suy đoán một kịch bản tương tự cho nước Mỹ.

Sự cảnh giác đã được tăng cường. Những đánh giá và phân tích ở trên về vụ tấn công nhìn chung chắc chắn sẽ thay đổi khi các chi tiết vụ việc trở nên rõ ràng hơn. Nhưng chúng ta cần bắt đầu học những bài học của Paris khi suy nghĩ về việc làm thế nào để đối phó với vấn nạn chết chóc đang ngày càng tiến triển này.

ISIS có thực sự đứng đằng sau những vụ tấn công Paris?

Zack Beauchamp phỏng vấn Will McCants, giám đốc Dự án US relations with the Islamic world (tạm dịch: Quan hệ của Mỹ với thế giới Hồi giáo) của Brookings Institution và tác giả của The ISIS Apocalypse (2015). Nguyễn Hồng Anh dịch từ VOX. Tựa đề tiếng Việt do người dịch đặt.

Theo bản cập nhật của Zack Beauchamp ngày 14/11/2015, 3:10 p.m. ET

Zack Beauchamp: Nếu vụ tấn công Paris là do ISIS thực hiện, có vẻ như vậy, thì việc này cho chúng ta biết gì về chiến lược của họ?

Will McCants: Nếu vậy nó sẽ cho chúng ta biết rằng họ sẵn sàng tấn công những kẻ thù chính ngay tại nước ngoài, nơi mà họ yếu nhất, và hãy lưu ý là cả ba cuộc tấn công gần đây [Paris, Beirut, máy bay của Nga] đều không nhằm vào các cơ quan chính phủ. Chúng đều nhằm vào dân thường, đều phức tạp, và đều mang tính sát thương nghiêm trọng.

Nếu ISIS chỉ huy vụ tấn công này ở Paris, nó cũng cho thấy một sự chuyển biến về trọng tâm vận hành và khả năng của họ. Trước sự kiện này, họ hài lòng với việc cố gắng khuyến khích các cuộc tấn công. Nhưng với bất cứ ai có năng lực mà đang ở nước ngoài, họ chủ yếu tìm cách thu hút những người này tới Syria và Iraq để xây dựng nhà nước. Vụ tấn công vừa rồi nếu do họ thực hiện thì nó gợi ý rằng họ đã thay đổi trọng tâm và sẵn sàng chỉ huy các nguồn lực hành động ở nước ngoài.

Zack Beauchamp: Tại sao ISIS lại bắt đầu hướng các nguồn lực tới thực hiện khủng bố quốc tế ở thời điểm này, trong khi trước đây họ vẫn tập trung nhiều hơn vào việc chiếm và giữ lãnh thổ ở Syria và Iraq?

Will McCants: Chúng ta không thể biết chắc điều gì. Tôi có thể đưa ra một vài nguyên nhân để giải thích, nhưng đây hoàn toàn là phỏng đoán.

Một cách lý giải là điều này chủ yếu liên quan tới việc tuyển quân và giữ lửa cho phong trào. Cũng có thể nói rằng đây là một phần của một nỗ lực lớn hơn để thay thế al-Qaeda trở thành người dẫn đầu phong trào jihad toàn cầu — hãy xem nó như một phần của việc cạnh tranh tuyển quân. Họ cũng đang mất dần vùng lãnh thổ, và đang cố gắng giảm bớt các mất mát này bằng cách hướng sự chú ý của mọi người ra nước ngoài với mục đích thu hút thêm người gia nhập.

Một cách giải thích khác là họ muốn đẩy lùi các hành động quân sự chống lại mình ở Syria và Iraq, do đó họ tấn công một số kẻ thù chính.

Hoặc cũng có thể nói là từ trước tới giờ họ vẫn luôn có ý định tiến hành khủng bố quốc tế, nhưng đã chưa có đủ lực hoặc cơ hội để thực hiện.

Phỏng đoán nào trong số những giả thuyết vừa nêu cũng có thể đúng, bởi vậy thách thức đối với chúng ta là cố gắng hiểu mọi chuyện từ bên ngoài. Chúng ta không biết điều gì đang diễn ra trong nội bộ của họ, và có thể chúng ta còn không biết trong nhiều năm nữa. Nếu nhìn vào biến cố 11/9, thực tế là trong nhiều năm chúng ta đã không biết chính xác tại sao các cuộc tấn công đó đã được thực hiện.

Zack Beauchamp: Trong những cách giải thích ông vừa đưa ra, cách nào theo ông có khả năng gần với thực tế nhất?

Will McCants: Tôi đoán nếu đây chỉ là một cuộc tấn công ở châu Âu thì nó có thể là một đòn trả đũa những cuộc tấn công tại Syria và Iraq. Tôi thấy đây không nhất thiết là một phần của một nỗ lực tuyên truyền hay cuộc cạnh tranh với al-Qaeda, bởi vì họ vốn đã thành công trong việc thu hút được rất rất nhiều người gia nhập.

Với mục tiêu nhằm vào kẻ thù chính ở châu Âu, trong bối cảnh vừa có các cuộc tấn công nhằm vào thường dân Nga và quân đồng minh Iran tại Li-băng, tôi cảm giác rằng sự kiện này có liên quan tới cuộc chiến nhằm mở rộng lãnh thổ ở Syria và Iraq. Nó đang lưu ý các đối thủ chính rằng nếu họ tiếp tục ngăn cản việc lập quốc thì họ sẽ phải trả giá.

Zack Beauchamp: ISIS gần đây đã để mất một phần tương đối lãnh thổ ở Iraq và Syria. Nếu sự chuyển hướng chiến lược này là thực, liệu có phải nó bắt nguồn từ sự yếu thế không?

Will McCants: Tôi không biết ta có thể gọi đó là sự yếu thế không vì họ vẫn còn khá mạnh. Nhưng họ đã mất đi khoảng 25% phần lãnh thổ đã chiếm giữ.

Tôi nghĩ rằng họ đã tính toán rằng họ không còn có thể theo đuổi chiến lược mở rộng lãnh thổ tại Syria và Iraq mà không thay đổi những tính toán của đối phương hiện đang ngăn chặn sự mở rộng của họ. Những cuộc tấn công này có thể là một cách để gia tăng chi phí cho đối phương.

Zack Beauchamp: Liệu tính toán này ở phía họ có thể hợp lý đến đâu? Tinh thần trong tuyên bố của tổng thống Pháp François Hollande đưa ra sau vụ tấn công cho thấy là dường như Pháp sẽ sẵn sàng tăng cường tấn công bằng bom tại Syria và Iraq thay vì hạ nhiệt.

Will McCants: Đúng thế. Tôi nghĩ là những cuộc tấn công như thế này sẽ cho Pháp, Iran, Nga, và Mỹ một nguyên cớ chung để ngăn chặn bước tiến của ISIS. Đặc biệt nếu những kịch bản này thực sự xuất phát từ đầu não của ISIS — nếu họ có những bộ sậu được huấn luyện và tài trợ từ tổng hành dinh ở Raqqa.

Tôi nghĩ rằng các chính phủ sẽ quyết định đây là giọt nước làm tràn ly. Họ đã có những ưu tiên khác trong việc phá hủy ISIS, và sự kiện vừa rồi có thể thay đổi những tính toán của họ. Nếu dự kiến của ISIS là ngăn chặn đối phương tăng thêm các hành động quân sự thì tôi đoán là họ sẽ thất bại vì chúng ta sẽ thấy các hành động quân sự chống lại ISIS sẽ được tăng cường rất nhiều.

Zack Beauchamp: Ông sẽ muốn các chính phủ Pháp và Mỹ cân nhắc về phản ứng quân sự đáp trả vụ tấn công này như thế nào?

Will McCants: Thách thức đối với các chính phủ trong việc đáp trả những sự việc kiểu như thế này là phải đợi cho tới khi biết chính xác là kẻ thù của mình đang cố gắng khiêu khích mình làm gì. Nếu chúng ta không biết tại sao ISIS làm những điều này, chúng ta sẽ có nguy cơ tạo ra những sai lầm nghiêm trọng có lợi cho họ.

Hãy nghĩ về vụ 11/9. Al-Qaeda đã nói một cách mập mờ trong tuyên bố với chúng ta, “Các người là những kẻ thập tự chinh (crusader), và chúng ta muốn các người vác xác đến đây.” Nhưng chiến lược thực sự sau những cuộc tấn công phải vài năm sau mới được hé lộ, và chúng đến từ những ghi chép nội bộ của al-Qaeda mà sau này chúng ta có được. Sau những vụ tấn công ngày 11/9, chúng ta đã không hiểu rằng Al-Qaeda đã rất hy vọng vào việc sử dụng quân sự trên diện rộng để nhấn chìm chúng ta và giành chiến thắng trong cuộc chiến ý thức hệ đó.

Ban đầu chúng ta đã có một quyết định đúng đắn – chống lại al-Qaeda — bằng cách can thiệp vào Afghanistan. Nhưng chúng ta đã có một quyết định khác ở Iraq, và điều đó lại có lợi cho đối phương. Có một sự lo ngại tương tự như vậy ở đây, và khi không biết được chính xác tại sao ISIS lại tiến hành các cuộc tấn công này, chúng ta có nguy cơ bị cuốn vào nước cờ của họ.

Zack Beauchamp: Ông đã nói rằng vụ tấn công vừa rồi chưa rõ có phải được lên kế hoạch từ tổng hành dinh của ISIS hay không. Vụ này có vẻ như một vụ tấn công rất tinh vi. Ông đánh giá khả năng nó đã xuất phát từ đầu não ISIS so với khả năng nó được những kẻ ủng hộ ISIS ở trong và quanh Paris tự lên kế hoạch và thực hiện như thế nào?

Will McCants: Do vụ này rất phức tạp, cả về thời gian tiến hành lẫn việc điều phối, nó không giống như chỉ là một vài tên tự dưng quyết định cầm vũ khí lên và tiến hành khủng bố. Nó cho thấy nhiều khả năng đã phải có những huấn luyện từ bên ngoài, ít nhất là từ một vài thành viên ISIS, nếu không phải có sự chỉ đạo trực tiếp.

Tôi cũng ý thức rất rõ, Zack, là việc này xảy ra trong vòng hai tuần cùng với hai vụ tấn công khác ở cấp cao, mang tính sát thương cao, và phức tạp nhằm vào máy bay Nga và nhằm vào Hezbollah ở Beirut. Một tên ở Beirut đã thất bại trong việc đánh bom tự sát đã cho biết hắn được ISIS trực tiếp gửi tới. Những sự kiện đó — tất cả, và giờ cùng với sự phức tạp của những vụ tấn công ở Paris — khiến tôi nghĩ rằng đầu não của ISIS có nhúng tay trong vụ này.

Nhưng tất cả những điều này có thể đều sai hết. Chỉ có những hoạt động tình báo cẩn thận mới có thể tìm ra sự thực là gì. Nhưng nếu chúng ta vẫn phải làm một việc như xem bã trà thế này, thì những điều vừa nói là phỏng đoán của tôi.

Zack Beauchamp: Điều làm tôi thấy ngạc nhiên là trước đây không có vẻ như ISIS có đủ năng lực để lên kế hoạch cho một vụ tấn công quốc tế kiểu như thế này. Nếu vụ tấn công thực sự đã xuất phát từ tổng hành dinh của ISIS, nó cho chúng ta biết gì về những khả năng của ISIS mà trước đây chúng ta đã không hình dung được?

Will McCants: Đúng thế. Ý tôi là, nếu nó thực sự từ đầu não ISIS đi ra, nó gợi ý rằng họ đang chuyển hướng sang phát triển những hoạt động ở nước ngoài. Tôi nhớ là cách đây vài tháng có một bài báo dẫn lời một nguồn tin tình báo giấu tên cho biết họ đang nghĩ tới một sự chuyển hướng như vậy, nhưng khi đó chúng ta đã không nhìn thấy điều đó trong các chiến lược lựa chọn mục tiêu hay tấn công của ISIS. Cũng có thể họ đã phát triển theo hướng này được một thời gian rồi và chỉ tới bây giờ mới bộc lộ ra.

Kể cả khi vụ tấn công đã không xuất phát từ đầu não ISIS thì thế vẫn rất tệ. Nếu họ thậm chí không cần phải điều phối những sự việc kiểu như thế này mà những kẻ ủng hộ hay hâm mộ họ vẫn có thể tự tiến hành được, thì quả thực là rất rắc rối.

Nhưng nếu vụ tấn công Paris đã được chỉ đạo từ đầu não của ISIS thì tình hình còn tệ hơn. ISIS là một nhà nước có hàng triệu đô-la dành cho những hành động kiểu như vậy.

Chúng ta không đang nói về al-Qaeda đang lẩn trốn ở Pakistan. Chúng ta đang nói về một chính phủ thực sự, có tiền để hành động và có những thành viên rất máu lửa, nhiều người trong số đó còn có cả hộ chiếu châu Âu có thể giúp họ đi lại. Sẽ là một vấn đề thực sự đối với công tác an ninh chống khủng bố nếu ISIS thực sự đã chuyển hướng mục tiêu hay chiến lược. Điều đầu tiên cần xác định rõ là: Có thực là đầu não của ISIS đã thực hiện vụ vừa rồi không? Có thực là họ đã thực hiện cả ba vụ vừa rồi không?

Paris, nỗi kinh hoàng được báo trước

Tác giả: Adam Kirsch. Nguyễn Hồng Anh dịch từ “Paris, an atrocity foretold” trên POLITICO.

11/14/15, 4:44 AM CET

Hôm nay thủ đô của Pháp đã bị tấn công. Tất cả chúng ta là mục tiêu tiếp theo.

NEW YORK — Tin tức về những vụ tấn công khủng bố ở Paris bay tới New York vào lúc hoàng hôn, khi mọi người đang trên đường trở về nhà trên xe bus hoặc tàu điện ngầm, và bắt đầu tràn vào các quán bar và nhà hàng. Nhưng ngày nay sự lan truyền tin tức không còn mang tính cộng đồng nữa – chúng ta không còn phải tụ tập quanh một bảng tin điện tử ở Quảng trường Thời đại nữa, thậm chí cũng chẳng cần một chiếc TV đang mở kênh CNN, như nhiều người Mỹ còn nhớ mình đã làm vào ngày 11/9.

Ngày nay, từng người trong chúng ta biết đến những thảm họa trước tiên là từ điện thoại di động cá nhân. Cách tốt nhất để theo dõi các câu chuyện nóng là trên Twitter, nơi mà các nhà báo ở Mỹ tweet lại những cập nhật của các nhân chứng từ Paris. Trên Facebook, những người dân New York có bạn ở Paris check in để xem họ có được an toàn không.

Có sự tiếc thương, và kinh hoàng, và sợ hãi – chắc chắn chỉ là vấn đề thời gian trước khi những vụ tấn công khủng bố có tổ chức kiểu này xảy đến với New York và cả Washington nữa, như chúng đã từng làm rúng động Madrid và London, Mumbai và Paris. Một điều đã mất đi trong các vụ việc này – và đây chính là một phần của thảm kịch – là cảm giác bàng hoàng.

Nếu đã xuất hiện một nỗi kinh hoàng được báo trước, đó chính là các vụ thảm sát ở Paris, theo sau các vụ Charlie Hebdo và Hyper Cacher vào đầu năm nay.

Trên thực tế, có một dạng tam đoạn luận về khủng bố ở đây: một phong trào bắt đầu bằng việc nhằm vào người Do Thái và các nhà văn sẽ kết thúc bằng việc nhằm vào toàn bộ phương Tây. Những người đã xem nhẹ các vụ tấn công trước đây khi cho rằng nguyên nhân là do các chính sách của Israel hoặc sự khiêu khích của các họa sĩ vẽ hoạt hình giờ đây có thể nhận ra rằng khủng bố không phải là một phản ứng chỉ trích, mà là tấn công. Đa nguyên tôn giáo và tự do ngôn luận là những vinh quang của chủ nghĩa tự do, và bởi thế đó là những gì kẻ thù của chủ nghĩa tự do tấn công đầu tiên.

* * *

Tiếp đó, với quyết định nhằm vào một sân vận động bóng đá và một nhà hát, phe khủng bố đã thể hiện rõ ràng một lòng căm ghét thâm căn đối với các thú giải trí của phương Tây – cũng tương tự như những tên khủng bố đã làm nổ tung sàn nhảy Dolphinarium ở Tel Aviv năm 2001, và một câu lạc bộ ban đêm ở Bali vào năm kế tiếp. Về khía cạnh này, những vụ tấn công ở Paris dường như gây chấn động đặc biệt, bởi đối với người Mỹ, thủ đô nước Pháp đã từ lâu là đỉnh cao của vui thú hội hè – những vui thú của nền văn minh, của chủ nghĩa toàn cầu, của sự tao nhã. Paris, như Oscar Wilde đã nói, là thiên đường của người Mỹ, và đối với nhiều người Mỹ một vụ tấn công Paris chính là tấn công vào một vùng đất tâm linh và lý tưởng.

Đây không chỉ là vấn đề tình cảm, mà là một diễn giải chân thực về những ý định của phe khủng bố. Khi khủng bố tấn công vào những nơi hội hè như thế thay vì những căn cứ quân sự hay các sở cảnh sát, lý do một phần là cơ hội tấn công số đông nhưng nó cũng đồng thời gửi đi một thông điệp: những vui thú của chúng ta, chứ không chỉ là sức mạnh của chúng ta, khiến chúng cảm thấy khó chịu.

* * *

Còn quá sớm để nói nhóm nào đứng sau những vụ tấn công ở Paris, mặc dù một số tin ban đầu cho rằng những kẻ giết người nổi giận với chính sách của Pháp ở Syria. Đã có những gợi ý rằng phản ứng hợp lý trước những thảm sát này là Pháp và cả phương Tây cần từ chối người tị nạn Syria.

Nhưng đó sẽ chính xác là một bước lùi: bạo lực mà nước Pháp đã trải qua đêm nay chỉ là một phần nhỏ của những gì mà người dân Syria và Iraq đã phải chung sống suốt nhiều năm. Paris, hy vọng là, có thể tự bảo vệ mình trước những cuộc tấn công tương tự trong tương lai; Raqqa và Homs thì không thể, và những người bỏ chạy khỏi những nơi như thế không phải là kẻ thù của chúng ta mà là những nạn nhân đồng cảnh ngộ như chúng ta. Chính sách cấm hoặc hạn chế nhập cư của phương Tây đã để Iraq và Syria rơi vào tình trạng bạo lực gia tăng có những chi phí mà cả chúng ta và cả bọn họ phải gánh chịu.

Mười bốn năm trước, sau vụ tấn công 11/9, nước Pháp đã cùng toàn thế giới tuyên bố “Chúng ta đều là người Mỹ;” nếu bây giờ người Mỹ nói “Chúng ta đều là người Paris,” thì đó không chỉ là sự cảm thông hay đồng lòng, mà đơn giản là xác nhận một thực tế.

Những đêm như đêm nay cũng là tương lai của chúng ta.

Adam Kirsch là một nhà thơ và nhà phê bình sống ở thành phố New York.

Dân chủ có phải một giá trị toàn cầu không?

Một comment rất hay phản bác lại bài báo “Democracy is not a mystifying western plot – it is a universal value” của tờ The Guardian, được featured trong một newsletter của tờ này mà tôi đăng ký nhận:

“I live in China. It’s not a democracy, and most people have no particularly strong desire that it should be one. The present system of government is working well for them, the economy is still growing at an extraordinary rate. People’s lives are better than their parents’, and far better than their grandparents’. That is what is important to them. Should the economy go South, then I imagine there might be a revived interest in democracy, but that would be as a means to an end (prosperity) rather than as a goal in itself.

So – no, democracy is not a ‘universal value’, and it is highly dangerous to treat it as such. Trying to impose democracy on people who have no desire for it leads to chaos, bloodshed, and racial and ethnic strife, as many recent examples (Iraq, Sudan, Afghanistan, Libya … ) unfortunately prove.”

Link đến comment ở đây.

Tự dưng tôi lại nhớ đến công việc “cứu thế giới” của mình. Nhớ đến đảng cộng hòa của nước Mỹ nữa. Và cũng nghĩ là ở VN mà có đảng cộng hòa thì hẳn cũng phải đông đảng viên lắm đây. 😀