Category Archives: Chuyện đời thường

Bóng đá và tôi, sau 10 năm

Nói 10 năm cho tròn. Là thời gian mà tôi đã bỏ xem bóng đá. Một mặt nào đó cũng đúng là 10 năm thật, vì trận đấu lớn cuối cùng mà tôi xem là trận chung kết C1 năm 2008. Huế. Một đêm hè. Giữa đường lang thang du lịch một mình, tôi dừng chân tại Huế đúng lúc chuẩn bị có trận chung kết C1. Lúc đó tôi đã không còn xem bóng đá mấy. Nhưng khi nghe loáng thoáng có Man United và vô tình gặp một cậu bạn cũ ở Huế nói đêm đó sẽ ra quán xem, tôi bám càng theo. Cậu bạn ngày ấy còn đi xe đạp chở tôi ra quán. Mỗi đứa uống một cốc nước năm ngàn ngồi xem cả trận. Man United và Chelsea giằng co nhau tới loạt sút penalty. Ai đó bên Chelsea đá hỏng quả penalty quyết định. (Phải John Terry không nhỉ?) Man United vô địch C1 lần nữa. Lần trước đó cách những 9 năm. Tôi sung sướng đến rồ dại.

Nhưng đó chỉ là một trong những trận hiếm hoi tôi còn xem. Hứng thú của tôi với bóng đá đã giảm đi từ trước đó một vài năm. Khoảng năm 2003 hay 2004 gì đó, Man United thua AC Milan ở tứ kết hay bán kết gì đó ở C1. Tôi tắt TV, tắt đèn, rồi ngồi khóc một mình. Mấy năm liền Man cứ đá tới đó là bị loại. Lúc đó tôi cảm thấy đã quá sức chịu đựng của mình. Trận thua AC Milan năm ấy đánh dấu một sự sụp đổ trong lòng tôi. Một cái gì đó đã mất đi. Tôi nghĩ là về cơ bản mình đã bỏ xem bóng đá từ ngày đó.

Kể cả sau trận chung kết C1 năm 2008 mà tôi vô tình xem, tôi vẫn không thực sự quay lại với bóng đá. Euro 2008 tôi không nhớ mình xem tới đâu, nhưng nhớ rằng năm ấy Van der Sar là cầu thủ Man cuối cùng còn lại ở giải và rồi Hà Lan thua Nga trong trận knock out ngay sau vòng bảng thắng như chẻ tre. Chấm hết cho một thế hệ vàng của bóng đá Hà Lan. Có lẽ cũng chấm hết thực sự cho tôi với bóng đá. Tôi không chỉ bỏ xem mà cũng chẳng màng xem tin tức. Lần lượt các giải lớn đi qua trong sự thờ ơ của tôi.

Ngẫm lại, thật kỳ lạ là thời gian tôi cuồng nhiệt với bóng đá nhất lại là trước tuổi 20. Khoảng 10 năm, vì tôi xem bóng đá có lẽ từ năm lên 10. Nói kỳ lạ vì trước giờ tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ sôi động nhất là những năm tháng tuổi 20. Té ra thời teenage cũng rất nhiều màu sắc.

Hết phần đào mộ quá khứ, giờ tua đến hiện tại. Tại sao năm nay tôi lại trở lại với bóng đá? Tôi nghĩ là có hai lý do chính. Một là vì cuộc sống của tôi trở nên ổn định từ mấy năm nay. Một thời vật vã với những giấc mơ đã lùi lại phía sau. Tôi giờ đây đang có một việc làm ổn định, một cuộc sống đơn giản, không lo toan, không dằn vặt, không nặng những suy tư. Vì không còn vật vã với những chuyện to tát kiểu như “đánh thức tiềm lực quốc gia”, tôi chỉ tập trung vào cuộc sống cá nhân, dành nhiều thời gian vui chơi, nghỉ ngơi, thư giãn. Còn gì giải trí tốt hơn là một giải bóng đá lớn nhất hệ mặt trời?

Lý do thứ hai là niềm vui xem bóng đá của tôi sau nhiều năm bị chôn vùi đã được khai quật lên sau khi xem đội U23 Việt Nam đá giải U23 AFC hồi cuối năm ngoái. Như một nhân vật mất trí nhớ trong phim Hàn một ngày lấy lại ký ức, đột nhiên tôi nhớ được xem bóng đá có thể vui đến như nào.

Vậy bỏ xem bóng đá trong 10 năm rồi xem trở lại thì nó ra răng?

Trước hết là tôi hầu như không biết cầu thủ nào. Ronaldo thì đá ở Man thời tôi còn xem thì tôi biết. Messi thì cũng nghe danh suốt mà giờ mới nhìn mặt, xem chân. Nhiều đội tuyển nhìn vào không có lấy một cái tên tôi đã từng nghe, hoặc người duy nhất mà tôi biết là anh huấn luyện viên, vì ngày xưa tôi từng xem anh đấy đá! Những cái tên, những khuôn mặt quen thuộc nhất với tôi giờ đều ở trong các ban huấn luyện, hoặc làm khán giả trên khán đài, hoặc đang ngồi đâu đó bình luận bóng đá. Fernando Hierro. Gareth Southgate. Thierry Henry. Didier Deschamps. Aliou Cissé. Oliver Bierhoff. Đại để vậy. Nhìn các anh ngày xưa quần đùi áo số giờ đóng bộ đạo mạo cũng rất là xúc động.

Rồi không biết cầu thủ thì xem làm sao? Thì xem như ngày 10 tuổi lần đầu xem bóng đá thôi. Như anh gì hay nói đấy, bóng đá là một trò chơi đơn giản với 22 gã chạy theo một quả bóng để tìm cách ghi bàn. Tôi cứ coi các đội làm thế nào để ghi bàn và ngăn cho đối phương ghi bàn thôi. Ai chơi hay thì mình khắc biết, khắc để ý, khắc nhớ tên, khắc nhớ số áo, khắc nhớ người ta đá vị trí nào trên sân. Ai chơi dở thì mình chịu, làm sao mà nhớ mặt nhớ tên nhớ số được. Mà nhớ để làm gì.

Dĩ nhiên là chỉ chuyện biết mặt biết tên các cầu thủ là tôi ngang với một đứa trẻ con, còn những gì đã từng biết về bóng đá làm sao mất đi được. Ngày xưa hạnh phúc, hồi hộp, lo lắng, hy vọng, thất vọng như nào thì xem world cup lần này cũng thế.

Buồn và thất vọng nhất là khi Đức thua Hàn Quốc rồi bị loại. Tuy mười mươi là Đức đáng bị loại nhưng lý trí là lý trí, tình cảm vẫn là tình cảm. Sáng hôm sau ngủ dậy tôi vẫn nửa tỉnh nửa mê không biết có phải mình vừa nằm mơ Đức bị loại không. Giá như tất cả chỉ là một giấc mơ.

Đổi lại, vui nhất chắc là lúc Kr8s ghi bàn vào lưới Thụy Điển ở những giây cuối cùng. Trận đấu kết thúc lúc 3h mà người cứ lâng lâng, 5h mới ngủ lại được, sau khi đọc cho bằng hết những bài báo sớm.

Thật éo le.

Bàn thắng ấn tượng nhất đến thời điểm này, tức là hết vòng bảng, là của Messi ghi bàn vào lưới Nigeria. Hai lần chạm bóng, thêm vài bước chạy, rồi một cú sút vào góc xa khung thành vừa đủ loại cả hậu vệ theo kèm và thủ môn. Một pha ghi bàn hoàn hảo. Và làm tôi nhớ đến bàn thắng tôi mê nhất tại France 98, bàn thắng của Dennis Bergkamp.

Cầu thủ ấn tượng nhất đến thời điểm này là chưa có. Nhiều cầu thủ chơi khá, nhưng chưa thấy ai nổi bật hơn hẳn. Ronaldo thì biết lâu rồi nên cũng không thấy gì lạ.

Nhìn chung tôi cảm thấy hơi thiếu tiền đạo hay. Có thể do tôi vốn thích vị trí này hơn nên kỳ vọng nhiều hơn. Hoặc có thể bóng đá bây giờ các đội chơi phòng ngự tốt hơn trước nên “nghề” tiền đạo đang gặp khó khăn chăng? Đến giờ thì hàng công của Pháp làm tôi thiện cảm nhất, dù họ không phải những người ghi nhiều bàn nhất.

Có hai đội tuyển tôi thấy bất ngờ là Bỉ và Nhật Bản – mà hai đội này lại sắp gặp nhau ở vòng 1/8. Trước đây Bỉ chỉ là một đội thường thường, lần này sao lại đá khá thế không biết. Dĩ nhiên còn phải chờ xem những trận knock out xem có mạnh thật không hay chỉ “mạnh vòng ngoài”. Dù sao tôi cũng không cho là Nhật Bản có thể thắng Bỉ.

Nếu nghĩ về tuyển Nhật trước đây tôi chỉ nhớ đến Hidetoshi Nakata chứ không nhớ họ từng chơi như thế nào. Cũng có thể vì năm 2002 Hàn Quốc đã chơi quá ấn tượng nên lu mờ cả Nhật. Năm nay xem 2 trận đầu của Nhật tôi rất bất ngờ khi thấy họ chơi bóng rất khéo, nhanh, di chuyển thông minh, và đặc biệt tự tin. Tiếc là trận thứ ba lại không được như vậy.

Trận đấu làm tôi đau tim nhất chính là trận Nhật đá với Senegal. Trận ấy tôi cổ vũ Nhật dù Senegal đá cũng rất hay. Nhật thì rất mong manh giữa thắng và thua nên ngồi xem rất hồi hộp và xem xong thì đau cả dạ dày.

Rồi cảm tình dành cho Nhật bay mất tiêu chỉ vì vài phút câu giờ của họ cuối trận gặp Ba Lan. Quả thực trong ký ức của tôi chưa bao giờ tôi thấy một màn câu giờ thô thiển và khó chịu đến thế. Dĩ nhiên ai cũng hiểu vì sao họ làm vậy và tôi nghĩ nếu là tôi thì tôi cũng tìm cách bảo toàn tỷ số 0-1 như họ mà thôi. Nhưng phải có một cách đỡ thô hơn chứ!? Bản thân tôi cũng thích bóng đá tính toán thực dụng hơn là bóng đá bay bổng mà không hiệu quả, nhưng quả thực vài phút ngắn ngủi đó là một trong những khoảnh khắc khó chịu nhất mà tôi từng trải qua khi xem bóng đá từ xưa tới giờ. Như đã nói, lý trí là lý trí còn tình cảm vẫn là tình cảm.

Cuối cùng, kết thúc bài tâm sự dông dài hôm nay là một lời chúc tốt lành cho các cầu thủ Man đang chơi tại world cup lần này. 11 cầu thủ là một con số đẹp. Dù cũng như các cầu thủ khác, tôi đang bắt đầu phải học tên các cầu thủ Man của thời hiện tại. Nhưng thế giới bóng đá là một chốn kỳ lạ. Ở đó chẳng có người yêu nào là cũ 🙂

Advertisements

Nhà có hai thằng ku

Thằng thứ nhất gần 6 tuổi nên làm anh. Thằng thứ hai mới đẻ đầu năm nay nên làm em. Hiện giờ thằng em đã nặng hơn thằng anh. Cả hai thằng đều phát triển bình thường, trộm vía không ốm đau gì.

Cả hai thằng đều nói thứ ngôn ngữ chưa ai hiểu. Khi có nhu cầu chưa được đáp ứng, cả hai thằng đều biết gào lên. Thằng em thì hay khóc, thằng anh không khóc khi nào.

Trước đây thằng anh ở với mình, nhà chỉ có hai bác cháu. Hàng ngày bác đi làm thì nhốt thằng cháu ở nhà một mình, chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho tự lo liệu. Mỗi lần bác đi công tác xa nhà thì ông ngoại hàng ngày tạt qua với thằng cháu, chuẩn bị đồ ăn thức uống cho nó, chơi với nó một lúc, còn thì thằng cháu cứ quanh quẩn ở nhà một mình.

Gần đây có thêm thằng em cùng mẹ nó cùng bà ngoại nó dọn đến ở cùng hai bác cháu. Vì thằng em còn bé mà thằng anh thì nghịch không kiểm soát được, cùng một vài lý do nữa, nên thằng anh bị cách ly với thằng em. Nghĩa là giờ thằng anh chỉ được quanh quẩn trong một cái phòng ngủ cùng phòng tắm đi kèm, không được ra phòng khách và thoải mái đi lang thang khắp chốn trong nhà như trước nữa. Thằng em sẽ ở đây một năm nên mình động viên thằng anh chịu khó để mọi người còn chăm em bé. Mình cũng giúp chăm thằng bé, nhưng bất cứ khi nào có thể lại chui tọt vào với thằng anh cho nó đỡ buồn.

Hồi đầu thằng anh rất ngoan, không có ý kiến gì, nhưng gần đây hình như bắt đầu thấy bí bách nên hay đập cửa đòi ra ngoài. Nhất là những lúc nó muốn ăn. Tuy trong phòng luôn để sẵn đồ ăn nhưng nó không muốn ngồi ăn một mình. Mình cũng cố gắng vào với nó những lúc nó ăn. (Tối thì hầu như tối nào cũng ngủ với nó, còn thỉnh thoảng nó phải ngủ một mình.) Có hôm nó đang ăn mà thấy mình đứng dậy là bỏ ăn chạy theo vì tưởng mình bỏ ra ngoài. Tội nghiệp lắm.

Bà ngoại thì rất phân biệt, chỉ cưng thằng em thôi. Đành rằng một thằng là cháu ruột, một thằng là cháu nuôi (thằng anh là trẻ đi lạc được em mình đưa về nuôi), nhưng mình thấy chúng nó đều là trẻ con đáng yêu thì đều phải được yêu thương chăm sóc chứ.

Nhưng nói vậy thôi, đâu phải mỗi mẹ mình phân biệt đối xử. Đa phần mọi người đều coi thằng ku anh này là sinh vật hạ đẳng chỉ vì nó không phải là người mà nó là mèo. Không biết ông nào ngày xưa lại có cái ý tưởng coi loài người là động vật cao cấp còn các loài khác là động vật thấp cấp ấy nhỉ. Chỉ biết là ngày xưa đi học được nghe cô giáo dạy như thế. Chắc bây giờ cũng vẫn dạy như thế thôi. Thật không khác gì những người da trắng cho rằng họ cao cấp hơn những người có màu da khác. Thôi, nói quàng nói xiên một lúc lại sang một đống chuyện khác.

Hôm nay là cuối tuần, mọi người đã ai về nhà nấy, nhà mình còn lại mình với thằng ku anh nhõng nhẽo. Rất yên bình. Sắp tới hai bác cháu sẽ có khoảng hai tháng yên bình với nhau thế này trước khi gia đình ku em chuyển đến ở cùng hai bác cháu một năm. Tuy nãy giờ cứ nói về ku anh nhưng không phải là mình không cưng thằng ku em. Sở dĩ sắp tới gia đình ku em chuyển đến ở cùng là vì mình đã xin nghỉ việc để ở nhà trông ku em khoảng một năm cho tới khi bố mẹ cháu có thể gửi cháu đi trường.

Thế là một giấc mơ nữa của mình sắp trở thành hiện thực, ấy là ở nhà làm nội trợ. Mấy năm nay mình đã muốn vậy nhưng vì không có ai nuôi nên vẫn phải đi làm để tự nuôi thân và nuôi thằng cháu. Thành thử khi trong nhà mọi người bắt đầu tính chuyện khi em mình đi làm lại sẽ thuê người trông trẻ như thế nào, thì mình đã nhận thấy đây là cơ hội của mình, và đã apply được cái job này.

Nhiều người có thể thấy lạ (bố mình tận hôm qua vẫn không tin là mình đã xin nghỉ việc và sẽ ở nhà một năm) nhưng mình thấy quyết định của mình rất logic với mong muốn về cuộc sống của mình ở thời điểm này. Sau những năm tuổi 20 “vật vã theo đuổi những giấc mơ”, mình bước sang tuổi 30 nhận ra rằng mình giờ đây không còn cần phải đuổi theo cái gì nữa. Từ ngày ấy mình sắp xếp cuộc sống dễ dàng hơn, chỉ cần bắt đầu bằng những gì mình đang có.

Và thế là vào một ngày đẹp giời khi một thằng nhóc nữa đã lăn tòm vào cuộc đời mình, mình đã chọn sẽ dành thời gian cho nó. Và nó đã có một thằng anh, dù giờ đã nhẹ cân hơn nó, đã (bị buộc phải) nhường nhịn cho nó nhiều mét vuông trong nhà cũng như thời gian của mình. Vậy nên, hai tháng nữa, mình sẽ chính thức viết tiếp một chương mới trong cuộc đời: Nhà có hai thằng ku.

 

Khi không viết thì làm gì?

Nghe oai quá, cứ như thể là bình thường mình chăm viết lắm ấy. Chẳng qua là hết năm cũng muốn bộc bạch một chút chuyện blog này năm rồi không viết lách gì mấy.

Bảo bận thì cũng không hẳn, nhưng quả là đầu óc bận rộn chuyện này chuyện nọ, không có thời gian suy ngẫm nhiều nên đâm ra cũng chẳng buồn viết.

Với cả, hình như là hết vốn để có thể viết như không cần phải nghĩ. Hồi hai mươi tuổi thì tung tẩy đi khám phá thế giới, nhìn thấy cái gì trải nghiệm cái gì cũng thích về viết ra kể chuyện cho cả thế giới nghe. Sang tới ba mươi đột nhiên thấy mình ngồi xó nhà đào mộ quá khứ lên viết lách. Viết một hồi thì thấy rất khó chịu, cứ như thể cuộc đời mình chẳng còn gì, chỉ còn một quá khứ đã lùi lại phía sau mà cứ tiếc nuối. (Có khi thế thật.) Cũng muốn lại được lao đầu vào cuộc sống như ngày nào, nhưng gì thì gì cũng không còn hai mươi tuổi nữa, muốn cũng chẳng biết lao đầu vào đâu.

Như đã kể ở post trước thì phải, tự dưng cuộc đời ném đến cho tôi một công việc, không phải những gì tôi đã từng theo đuổi, không như những gì tôi đã từng hình dung về một công việc mình sẽ làm, nhưng rốt cuộc lại là công việc khiến tôi thỏa mãn, chú tâm, và (gần như) không còn mơ tưởng đến một công việc khác hoặc phải nặn óc ra nghĩ ngợi xem bỏ việc rồi thì làm gì tiếp đây. Tôi cảm thấy mình bắt đầu biết mùi vị của sự ổn định.

Vậy nên không viết thì tôi sống làm các việc khác thôi.

Trước đây có những lúc lâu lâu không viết gì tôi sẽ cảm thấy bức bối lắm, cứ như cuộc sống của mình thiếu đi thứ gì đó. Nhưng dần dần tôi học được là cuộc sống không nhất thiết phải đóng khung cái gì cả. Hôm nay thế này, mai có thể thế khác. Tốt nhất là cứ theo tự nhiên mà sống, nghĩa là cuộc đời hôm nay có gì thì cứ theo đó mà tính. Nếu cảm thấy không có gì để viết thì thôi không viết đi làm việc khác. Việc này với những người không phải viết để kiếm sống thì cũng không khó lắm.

Nhưng còn một lý do khác nữa khiến tôi có thể ngừng viết mà không thấy muộn phiền gì, đó là, như đã nhắc ở trên, tôi cảm thấy mình đang thiếu vốn để viết lách. Bởi vậy, tạm ngừng viết để sống cũng là việc nên làm. Ngoài ra tôi cũng cố gắng dành thời gian đọc sách, hy vọng qua đó cũng cảm nhận thêm được một vài điều mà cuộc sống nhỏ bé của mình không thể mang đến cho mình.

Rốt cục thì dông dài rồi cũng nên trả lời chi tiết hơn một chút cái câu hỏi mà tôi đã đặt ra ở đây. Năm rồi không dành nhiều thời gian viết lách thì tôi làm gì?

Ngoài việc lao động kiếm sống thì chắc tôi dành nhiều thời gian cho vấn đề sức khỏe, cả cá nhân và gia đình. Đầu năm tôi dính ngay một chấn thương nhẹ, nên cả năm phải ưu tiên việc tập luyện cũng như thay đổi lối sống cho phù hợp hơn với sức khỏe của mình. Rồi giữa năm thì đau mắt, cuối năm thì đau răng, cũng lại tiếp tục thay đổi một vài thói quen sinh hoạt. Nhờ thế mà sau nhiều thập kỷ sống trong lười biếng, rốt cuộc cũng có ngày con sloth tôi đây ngày nào cũng chăm chỉ thể dục thể thao, uống nhiều nước, và tìm hoa quả để ăn. Thật là kỳ diệu.

Trong nhà thì rải đều từ đầu năm đến cuối năm nhiều người đi bệnh viện, nặng có nhẹ có, thành thử tôi cũng nhiều dịp được học làm người nhà bệnh nhân cũng như được tham quan nhiều bệnh viện khác nhau.

Ngoài ra thì cũng chỉ có đọc sách chứ cũng không có hoạt động nào đáng kể. (Vậy mà cũng đòi “không viết thì sống làm các việc khác” nghe như thể nhiều việc khác để làm lắm.) Năm ngoái tôi đọc được 40 quyển nên năm nay cũng mạo muội đặt mục tiêu đọc 36 quyển, nghĩa là trung bình một tháng ba quyển. Đến giờ này thì đang đọc quyển thứ 26 mà không biết có xong nổi trước khi sang năm mới không. Sang năm chắc giảm mục tiêu xuống còn 24 quyển thôi.

Quyển số 26 mà tôi đang đọc là Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1933-1934. Nếu trước thềm năm mới mà đọc xong quyển này thì tôi cũng đủ mãn nguyện cho cái sự đọc của mình năm nay. Chả là quyển này nó dài quá mà tôi còn trót mua cả quyển 1935 nữa kia. Năm nay đọc cho xong sang năm còn có động lực phấn đấu đọc quyển kia. Ngày trước đọc lõm bõm trên mạng vài bài của cụ Phan Khôi tôi thấy hâm mộ ông cụ lắm. Nhưng nhai một quyển tuyển tập dày gần 600 trang khổ 16×24 lại là một chuyện khác. Một món ăn ngon đến mấy mà ăn nhiều cũng thành bội thực. Nhưng sách đã trót mua những hai quyển, sống chết cũng phải đọc cho xong một quyển chứ.

À còn một việc nữa có lẽ cũng nên nhắc qua, ấy là shopping. Chuyện này nói ra cũng nhiều thứ để bàn lắm, nhưng nói gọn lại thì sau hai năm thắt lưng buộc bụng vì không có tiền, năm rồi tôi lại mua sắm hơi nhiều, từ nội thất cho tới gia dụng cho tới quần áo, giày dép. Gọi là nội thất cho oai, thực ra chỉ là một chiếc giường gấp ném uỳnh vào góc phòng khách sát cửa sổ để có chỗ nằm chơi cho sướng đời, mặc cho nó phá vỡ hết cả kiến trúc nội thất cái phòng khách. Nói nôm na là nó chẳng ăn nhập gì với tất cả các món đồ đã có trong phòng khách. Nhưng nhờ có nó mà cuộc đời bé nhỏ của tôi và của những người đến chơi thì đã được nâng lên một tầm cao mới. Chờ khi nào trúng Vietlot tôi sẽ mua một cái sofa góc thật đẹp để cải thiện mỹ quan.

Chuyện mua quần áo, giày dép thì là một câu chuyện dài về công cuộc tìm kiếm phong cách cũng như học cách tiêu tiền của phụ nữ, ở đây không có đất để kể ra. Còn trong đám “phụ kiện” mà năm rồi sắm sửa tôi ưng nhất là cái balo kéo của Samsonite. Nhờ có nó mà cuộc đời tôi tại các sân bay cũng đã được nâng lên một tầm cao mới, không còn phải lôi thôi lếch thếch đeo (hoặc kéo lê) mấy cái túi vải để giảm tải cho cái cột sống khốn khổ của tôi.

Một lời cuối không chỉ là chuyện lười viết lách năm rồi mà còn cả chuyện lười trả lời một số bạn đã nhắn tin hoặc gửi comment cho tôi, hầu hết là liên quan đến câu chuyện trầm cảm. Loạt bài viết và dịch liên quan đến trầm cảm trên blog này có vẻ được nhiều người tìm thấy khi đi tìm kiếm thông tin trên mạng. Một số người nhắn cho tôi nói rằng họ muốn tôi cho họ ít lời khuyên. Việc này khiến tôi thấy hơi bối rối, vì cơ bản những gì tôi nghĩ có thể hữu ích với những người trầm cảm tôi đã chia sẻ trên blog này rồi.

Thực tế là tôi đã có gặp hoặc có trao đổi riêng với một vài người nhưng tôi không cảm thấy là mình có thể “khuyên” được gì nhiều hơn là những gì tôi đã từng viết ra trên đây. Bởi vì thực sự để có thể “khuyên” bạn một điều gì, ngoài chuyện lắng nghe những gì bạn nói, tôi sẽ gần như phải thực hành như một nhà tâm lý học lâm sàng, mà đó thực sự là một công việc cần có chuyên môn sâu và kinh nghiệm trong khi tôi không có cả hai thứ đó.

Tôi cũng không có hiểu biết về việc can thiệp, trị liệu tâm lý, và điều trị lâm sàng ở Việt Nam nên lại càng không dám đưa ra lời khuyên nào. Tôi chỉ dựa vào một ít trải nghiệm của mình, viết ra vài điều hy vọng những người trầm cảm đọc xong có thể hình dung rõ hơn một chút về chứng trầm cảm và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ để khi tìm kiếm sự giúp đỡ ở đâu họ cũng bớt mù mờ, có thêm chút niềm tin, hoặc có thể tỉnh táo hơn trong việc tìm kiếm đúng sự giúp đỡ mà mình cần hoặc hợp tác với người điều trị được tốt hơn. Hoặc làm một điều gì đó để giúp đỡ chính mình.

Trầm cảm không có nghĩa là bạn sẽ mất đi lý trí của mình. Cơ bản là bạn gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc của mình, và qua đó làm cho lý trí dường như rối loạn. Nhưng sẽ có những lúc cảm xúc hỗn loạn lắng xuống, bạn sẽ lắng nghe được lý trí của mình. Khi đó có thể đọc một vài bài viết của tôi sẽ hữu ích với bạn.

Dĩ nhiên tôi cũng hiểu đọc chỉ là một trong nhiều hình thức tiếp nhận thông tin và viết cũng chỉ là một trong nhiều hình thức chia sẻ. Nhưng ở một chừng mực nào đó, viết là cách tốt nhất tôi có thể chia sẻ.

Một bài dài để kết lại một năm yên ắng. Cảm ơn các bạn đã ghé chơi và hẹn gặp lại năm tới.

Nào thì nói chuyện “ế ẩm”

Hồi đầu tháng tôi đi ăn một đám cỗ cưới ở quê. Không phải quê tôi, mà ý muốn nói là ở một chốn không phải thị thành. Như thông lệ thì đàn ông hai họ uống rượu làm quen khề khà ầm ĩ, còn đám đàn bà con gái bên nhà tôi là khách nên không phải lo phục vụ bữa cỗ, tha hồ tập trung chuyên môn là ăn. Tàn cỗ, các ông thì lảo đảo, vài ông thì bắt đầu hát, đám đàn bà con gái nước chè chuyện phiếm chán thì kéo nhau đi chơi loanh quanh vì vẫn còn một ít thủ tục cần làm sau bữa cỗ, chưa về ngay được. Thiếu vắng mấy đứa em út nên chả có ai chơi cùng, tôi ngồi một chỗ nghịch điện thoại, và như thường lệ thỉnh thoảng vẫn đảo mắt quan sát tất tần tật mọi thứ xung quanh :D.

Một ông chú bên họ nhà gái đã say ngất ngất, ngồi phịch xuống bàn chỗ tôi ngồi, bắt đầu bắt chuyện với tôi. Ông hỏi: “Không biết là chị đã được mấy cháu rồi?” Chưa kịp nói gì thì ông cậu ruột tôi ngồi bên cạnh, cũng đã ngất ngất, cười bảo: “Nó được hai đứa rồi.” Thế là tôi nảy ra một trò vui, tôi trả lời:

– Cháu được một đứa thôi ạ.

– Trai hay gái?

– Trai ạ.

– Mấy tuổi rồi?

– Ba tuổi ạ.

Dĩ nhiên là tôi đang nói đến con mèo ở nhà. Nhưng ông này vẫn tiếp tục hỏi:

– Thế anh chị hiện giờ đang công tác ở đâu?

Ôi giời ạ, tôi thật không muốn tiếp tục cái trò này nữa. Nghĩ vậy, tôi bảo:

– Nãy giờ cháu đùa thôi. Cháu đã lấy chồng đâu.

– Hả? Thế chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

– Cháu gần bốn mươi rồi.

– Ôi thế làm sao mà lại chưa lấy chồng! Sao chị kén thế?

– Vâng, phải kén chứ ạ.

Rồi tôi kiếm cớ lượn, mặc kệ ông chú bên họ nhà gái vẫn mắt chữ O mồm chữ A, chắc đang băn khoăn không biết là có phải tôi tiếp tục bịa chuyện trêu chọc ổng nữa không. Mấy bà ngồi bàn bên cạnh cùng đoàn nhà giai, tuy không phải họ hàng với tôi nhưng cũng biết tỏng tôi là đứa nào đấy, nãy giờ ngồi nghe toàn bộ cuộc hội thoại thì bò lăn ra cười. Một bà hỏi tôi, sao mày bịa chuyện giỏi thế. Tôi trả lời, có mỗi một chuyện mà ai cũng hỏi, nói mãi một chuyện cháu cũng phát chán đi được.

Quả thực, vài năm gần đây tôi thường xuyên phải đối diện với đủ các thể loại hỏi han rồi khuyên nhủ rồi dạy bảo rằng thì là mà là sao chưa chịu lấy chồng rồi phải lấy chồng đi. Đa phần là từ những người có tuổi, nhưng đồng lứa tuổi cũng có một ít, và tôi thấy đáng kinh ngạc nhất là có một đứa nhóc tầm chín ích đời cuối đã thỏ thẻ hỏi tôi, sao chị chưa đi lấy chồng. Chả nhẽ tôi lại bảo nó là khi nào em lớn hơn tí nữa em sẽ hiểu thời buổi này làm ăn khó khăn như thế nào :D.

Dĩ nhiên không phải lúc nào tôi cũng vui vẻ mà bịa đặt ra những câu trả lời như kể chuyện ở trên. Có lúc nổi cáu, có lúc cười trừ, có lúc chả nói gì, có lúc bảo đang há miệng chờ sung, có lúc bảo vâng sắp rồi, có lúc lại bảo lấy chồng làm gì cho mệt xác. Tóm lại là rất tùy hứng, tùy tâm trạng, và tùy hoàn cảnh. Chắc vài bữa nữa là đủ tư liệu viết cẩm nang hướng dẫn trả lời những câu hỏi kiểu đó.

Nói chung câu chuyện độc thân hay kết hôn vừa là câu chuyện cá nhân vừa là câu chuyện xã hội. Là câu chuyện cá nhân thì đơn giản là không thân thì đừng có hỏi. Hay nói đúng hơn, lần sau trước khi đặt ra câu hỏi trăng sao ấy cho người khác, hãy tự hỏi chính mình xem mình trông đợi người ta sẽ trả lời mình như thế nào. Sẽ kể về một chứng bệnh có tên là sợ yêu đương sợ kết hôn? Hay là kể về chuyện tình trường trắc trở? Nghĩ một tí đi sẽ thấy câu hỏi của mình vô duyên vô nghĩa vô cùng.

Là câu chuyện xã hội thì ai thích thì tự đi kiếm các nghiên cứu xã hội học hoặc tâm lý học mà đọc. Làm ơn đừng có viết những bài chỉ dựa vào những suy diễn nhảm nhí và/hoặc một số quan sát/câu chuyện cá nhân ít ỏi.

Để kết lại bài này, mình lại kể một câu chuyện vui, mà hồi lâu lâu rồi nghe ai đó kể chẳng nhớ nữa. Chuyện là có một bạn Việt Nam nói chuyện với một bạn Canada rằng thì là mà hiện giờ ở Việt Nam đang bị mất cân bằng giới tính, số trẻ em trai với số trẻ em gái lệch nhau sao sao đó. Bạn Canada nghe xong bảo, chúng mày băn khoăn chuyện ấy làm gì, đằng nào thì sau này lớn lên chúng nó cũng có lấy nhau đâu :D.

Những niềm vui học hành

Những quãng đời đi học của tôi vui nhiều hơn buồn. Trừ trên giảng đường đại học là buồn nhiều hơn vui. Nhưng kể cả trong những năm đó thì cuộc đời tôi vẫn được cứu rỗi bởi môn tiếng Pháp.

Trong mười hai năm phổ thông, có hai môn học mà tôi tuyệt đối yêu thích, đó là Toán và Tiếng Anh. Với hai môn này chưa bao giờ tôi có cảm giác là mình phải học, cũng chưa bao giờ tôi phải băn khoăn về chuyện điểm số. Nói đơn giản là cứ học là vui rồi.

Nhưng tôi lại không có duyên với mấy lớp chuyên toán. Năm lớp 4 đã đứng trước một cơ hội “lịch sử” là vô một lớp chuyên toán, nhưng không có người đưa đi học mà cũng không được cho đi xe đạp một mình, nên là mất cơ hội lịch sử dù đã thi đậu. Mãi tới năm lớp 8 cuộc đời mới lại xô đẩy tôi vô một lớp chuyên toán khác. Của đáng tội, học được một năm thì nhà nước bãi bỏ chế độ trường chuyên lớp chọn. Dĩ nhiên là năm lớp 9 trường tôi vẫn, coi như là lén lút, dạy cho học sinh theo chương trình chuyên, vì khi ấy chương trình phổ thông hết cấp bình thường chúng tôi đã nuốt hết rồi, hổng lẽ bắt chúng tôi học lại những thứ với chúng tôi là dễ vô cùng ấy. Hai năm đó việc học toán đúng là như ở thiên đường. Vào cấp ba tôi thi vô trường chuyên trượt, lại về học trường làng.

Ngoài hai môn yêu thích tuyệt đối đó thì nói thật, hầu như môn nào tôi cũng thích hết, chắc chỉ trừ có môn thể dục với môn giáo dục con dâu là không thích tí nào. Nghĩ lại cũng buồn cười, chả hiểu học mấy môn Lịch sử, Địa lý ngày ấy tôi thích ở điểm nào khi mà rời trường cấp ba mới là lúc tôi thực sự tự học lại từ đầu các kiến thức lịch sử, địa lý cần thiết, bởi trước đó chủ yếu toàn học vẹt những cái lăng nhăng. Ký ức về hai môn này ở nhà trường thực ra chỉ còn lại mấy cái bản đồ. Với môn Địa lý thì rõ rồi, còn với môn Lịch sử tôi cũng thích những bài tập về nhà là vẽ lại một cái bản đồ đơn giản để nhìn vô đó mà kể chuyện quân ta quân địch oánh nhau như nào.

Nhắc tới vẽ, tổng kết lại mười hai năm phổ thông thực ra chỉ có một môn có thể làm tôi thức thâu đêm làm bài tập mà lại còn thấy khoái chí, ấy là môn vẽ kỹ thuật. Là vẽ hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh, hình chiếu bằng gì đó của mấy cái chi tiết máy móc ấy. Thiệt ra tôi chẳng hiểu bậc phổ thông học cái môn ấy làm chi, chắc định trang bị cho mọi công dân trẻ một nền tảng để sau này sẵn lòng xây dựng một nhà nước công nghiệp hóa. Kết quả thì ai cũng biết rồi, đến cái ốc vít “đạt chuẩn” cũng làm không xong lol. (Hình như ngày ấy còn phải học môn kỹ thuật nông nghiệp nữa, nhưng nếu tôi không nhầm thì chúng tôi cũng không phải học mấy vì bản thân các thầy cô giáo cũng ngán ngẩm nên thầy trò cùng nhau dạy và học cho xong chuyện.) Dù sao thì với tôi môn kỹ thuật công nghiệp ấy cũng như một thú giải trí vui vẻ.

Nhắc tới máy móc lại muốn nói quàng sang môn Vật lý. Thiệt tình tôi mê môn Vật lý chỉ sau có hai môn Toán với Tiếng Anh mà thôi. Cơ học, quang học, nhiệt học, năng lượng nguyên tử, vân vân, phần nào tôi cũng mê hết á. Nhưng rồi mọi thứ cũng chỉ dừng ở mức lấy việc giải bài tập vật lý làm nguồn vui, ôn thi đại học đỡ bị xì trét, chứ tôi cũng chẳng đi tới đâu nữa hay có kỷ niệm gì đặc biệt với môn này cả.

Nhắc tới vui thú học hành, thiệt không thể không nhắc tới các lớp học thêm. Trái với câu chuyện về mặt trái của việc dạy thêm học thêm trên mặt báo, tôi rất thích các lớp học thêm. Đơn giản là vì ở đó tôi… được học thêm. Tôi ngày ấy vốn là loại trẻ con ham học hơn ham chơi, nên thành thực mà nói học trên lớp là không đủ. Tôi bắt đầu đi học thêm từ rất sớm, ngay những năm cấp một luôn. Cũng một phần là vì năm nào cũng phải thi vào lớp chọn, nhưng tôi nghĩ phần nhiều hơn là vì mẹ tôi vốn cũng là người ham học nên rất thích con cái học cho nhiều, nên những ngày ấy mẹ tôi rất xăng xái đi tìm các lớp dạy thêm có tiếng của các thầy giáo giỏi rồi xin cho tôi vô học.

Ở mấy lớp đó tôi được học sâu hơn và nhiều hơn những gì được dạy trên lớp chính quy. Các thầy dạy có lẽ chủ yếu cũng vì mục đích mở mang thêm kiến thức cho học sinh chứ không phải là kiểu trò nhắm học thầy đó để thi vô trường chuyên lớp chọn mà thầy đó dạy hay để làm được bài kiểm tra trên lớp. Tôi nghĩ là ở mấy lớp đó các thầy được dạy thoải mái hơn, không bị ép theo chương trình khung nào, mà bọn học trò như tôi học cũng thấy khoái chí hơn. Dĩ nhiên hẳn là có những bạn bị bố mẹ bắt ngồi vô các lớp đó mà có khi không theo kịp mấy đứa nhanh nhẹn trong lớp thì hẳn câu chuyện học thêm của các bạn ấy đã là một câu chuyện khác, không vui vẻ như câu chuyện của tôi.

Sau này sang tới Mỹ dĩ nhiên tôi cũng có những niềm vui học hành, nhưng thành thực mà nói những niềm vui ấy không còn được tự do và đơn giản như thời niên thiếu cắp sách tới lớp nữa. Tôi cứ bị giằng co giữa “học tập vị học tập” hay “học tập vị nhân sinh”. Mấy đứa bạn học đã từng đi làm rồi trở lại trường để học cao học như tôi cũng cảm thấy cuộc sống của một sinh viên sau đại học rõ ràng cứ thiếu đi một cái gì đó. Nhưng bọn họ rất dứt khoát trong việc hoàn thành chương trình cao học rồi trở lại làm việc như một practitioner. Có bạn còn lựa chọn ngay từ đầu chỉ học coursework, không làm nghiên cứu. Tôi cứ như con cá vàng lửng lơ giữa hai dòng nước, chẳng chọn được dòng nào mà mặc cho dòng đời xô đẩy.

Ngoài ba mươi tuổi, tôi và những người bạn đồng trang lứa không ít người cảm thấy bế tắc và chán nản, nhiều người xác định giờ chỉ muốn “sống cho qua ngày”. Vài tuần trước ngồi nói chuyện với một người bạn trong đám ấy, bạn tiết lộ tuy nói là nói vậy nhưng bạn vẫn mong chừng một vài năm nữa, cuộc sống ổn định hơn, bạn sẽ đăng ký học một chương trình thạc sĩ liên kết tại đây. Bất chợt nhớ về một lần than thở với bạn khoảng hai năm trước, rằng học xong mà thấy cũng chẳng dùng được gì nhiều trong công việc. Bạn bảo, nhưng những gì mình học được thì sẽ mãi mãi là của mình.

Chuyện trợ giảng

Vài năm trước, tôi may mắn kiếm được một chân trợ giảng tại một trường đại học ở Mỹ, nơi tôi theo học cao học. Thời gian đầu tôi chưa được lên giảng ngay mà chỉ làm những việc như giải đáp thắc mắc cho sinh viên ngoài giờ học (cả thắc mắc liên quan đến môn học lẫn những việc khác liên quan tới lớp học, thi cử), giảng lại bài cho những sinh viên nghỉ học có nhu cầu được nghe giảng lại, ôn tập cho những sinh viên có nhu cầu được ôn tập trước những bài kiểm tra hay những kỳ thi, chấm điểm, nhập vào hệ thống các dữ liệu của lớp học, cơ bản là vậy. Và buổi nào có lớp thì theo chân giáo sư lên lớp nghe ông giảng và hỗ trợ vài việc vặt trong lớp. Trước mỗi bài kiểm tra, tôi hay ghé qua văn phòng giáo sư xem ông có cần giúp gì không, dù ông không bao giờ yêu cầu. Nói chung làm trợ giảng đúng là kiểu theo sư phụ để học nghề.

Rồi tôi bắt đầu được giao cho công việc thỉnh giảng. Đầu tiên là giảng một bài theo bài giảng sẵn của giáo sư, rồi tự mình chuẩn bị một bài giảng kiểu khách mời (tức là nói chuyện bên ngoài để minh họa cho một chủ đề trong chương trình), rồi được cho giảng một vài chủ đề khác nhau trong chương trình (được chọn phần mà mình thích). Vài lần đầu thì giáo sư ngồi dưới xem tôi giảng và góp ý, sau đó thì ông có thể đến có thể không. Nhưng kể cả ngay từ những lần đầu tiên cũng không có chuyện “duyệt trước” xem bài giảng thế nào. Giáo sư chỉ bảo là mày có thể dùng bài giảng đã soạn sẵn của tao hoặc tự soạn bài giảng, tùy, nếu muốn tao xem cho thì mang đến đây, cũng tùy nốt. Có khi tự do hơn làm giáo sư ở Việt Nam lol.

Vậy “buông lỏng quản lý” như vậy có phải là dễ dãi quá? Tôi thực tình cũng không dám nói chắc điều gì. Nhưng về cơ bản tôi thấy hệ thống của họ chủ yếu quản lý và đánh giá dựa vào kết quả chứ không can thiệp nhiều vào tiến trình, không có kiểu quản lý vi mô tủn mủn, nên chắc nhiều giáo sư cũng áp dụng tư duy quản lý ấy cho các trợ giảng của mình.

Dựa vào kết quả là thế nào? Cuối mỗi kỳ cả giáo sư lẫn trợ giảng đều bị/được sinh viên đánh giá. Cách làm hay phết. Một là việc đánh giá bao giờ cũng phải thực hiện trước bài kiểm tra cuối cùng, trước khi sinh viên có điểm số cuối cùng, để tránh tình trạng điểm kém thì quay ra đánh giá xấu người dạy. Hai là sau khi phát phiếu đánh giá cho sinh viên những người bị/được đánh giá không được có mặt trong lớp khi sinh viên điền vào phiếu ấy, để sinh viên được thoải mái khi cho ý kiến. Rồi một sinh viên sẽ tình nguyện gom tất cả phiếu đánh giá ấy cho vào một cái phong bì (dĩ nhiên giáo sư và trợ giảng phải chuẩn bị cái phong bì ấy) rồi mang trực tiếp tới văn phòng khoa. Tại đây, văn phòng sẽ cho người đánh máy lại các kết quả đánh giá này, trong đó thường gồm cả những lời nhận xét của sinh viên bên cạnh việc chấm điểm, để người bị đánh giá khỏi nhìn chữ mà biết sinh viên nào nhận xét gì.

Tôi chưa bao giờ gặp rắc rối với các kết quả đánh giá nên cũng không rõ nó có trở thành sức ép với những người khác không. Ví dụ có một giáo sư hay bị sinh viên đánh điểm thấp mà quả tình nhiều người chúng tôi không hiểu là tại làm sao. (Tôi có một buổi đi trợ giảng thay cho trợ giảng của lớp chị giáo sư ấy, và tôi thấy mọi thứ cơ bản ổn.) Dĩ nhiên, đánh giá kiểu này chỉ là một cách để nhà trường quản lý kết quả. Và những người quản lý hay những người “bị quản lý” đều hiểu những hạn chế của nó, ví dụ những giáo sư cho điểm thoáng thì dễ được nhiều sinh viên chấm cho điểm cao.

Về mặt tích cực của hệ thống đánh giá này, khỏi phải nói, là giúp cho người dạy biết được sinh viên nghĩ gì về việc giảng dạy của mình. Như trường tôi ngày ấy thì giáo viên được tự chế ra những mẫu phiếu đánh giá ấy, dựa vào việc họ muốn biết cụ thể phản hồi của sinh viên về những vấn đề gì. Từ giáo trình cho đến lượng bài tập cho đến bài kiểm tra cho đến việc giảng viên có nhiệt tình không. Rồi như mấy lớp tôi trợ giảng bao giờ chúng tôi cũng hỏi sinh viên một điểm mà họ thích ở người giáo sư/trợ giảng của lớp và một điểm mà họ nghĩ là người này cần cải thiện. Những ý kiến đánh giá kiểu như vậy giúp cho người dạy biết được mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu.

À dĩ nhiên bao giờ cũng có những nhận xét không liên quan lắm, kiểu như trợ giảng này hot thật (không phải tui nha) hay trợ giảng này cute ghê (là tui đó lol). Và dĩ nhiên nữa là kiểu gì cũng bị những lời nhận xét xấu. Như tôi đã từng bị một sinh viên chê là rude (thô lỗ) :”>. Giáo sư tôi bảo chắc tại tính tôi khá blunt, có đứa không thích. Còn đứa bạn làm cùng thì an ủi tôi là lần đầu nó làm trợ giảng còn bị một sinh viên viết nhận xét là sau này tôi sẽ không bao giờ học cái lớp nào có cô này làm trợ giảng nữa. Thật ra tôi chả bị dằn vặt gì bởi lời nhận xét ấy, nhưng sau thì cũng cố gắng thận trọng hơn mỗi lần lên lớp :P.

Nhìn chung là trợ giảng người nước ngoài, nhất là dân châu Á, có một hạn chế là ngôn ngữ. Các sinh viên nước ngoài muốn làm trợ giảng ở trường tôi (ngày ấy, và chắc giờ cũng vậy) được yêu cầu phải qua một bài kiểm tra nói tiếng Anh. Ai không qua sẽ được mời ngồi vô một hoặc hai lớp không chỉ dạy nói tiếng Mỹ cho chuẩn mà còn dạy cả văn hóa dạy học ở một lớp học ở Mỹ, rồi cuối cùng thi bằng cách giảng thử chứ không chỉ là kiểm tra âm ngữ nữa. Xét về một khía cạnh nào đó, rào cản này cũng tựa như những rào cản đối với người nhập cư như Tim Parks kể chuyện ở đây, hơi bất công ở chỗ bởi các trợ giảng người Mỹ chẳng bị kiểm tra tí gì về nghiệp vụ sư phạm hết. Có lẽ người ta cho rằng sinh viên Mỹ lớn lên ở môi trường giáo dục Mỹ là họ nghiễm nhiên biết cách dạy học kiểu Mỹ!?

Với sinh viên nước ngoài thì dĩ nhiên là có học có hơn, nhưng ngồi vô một lớp như vậy với nhiều người có nghĩa hợp đồng trợ giảng bị treo đó, kể cả khi giáo sư đã nhận, nghĩa là không có nguồn học bổng nào thì móc tiền túi (của mình hoặc của thầy u) ra trả tiền học và sinh hoạt phí (làm trợ giảng thì được miễn tiền học, ngoài ra được trả lương). Chưa kể là ngồi vô lớp đó thì hiển nhiên quỹ thời gian dành cho các lớp chuyên ngành, công việc nghiên cứu, rồi giao lưu hò hẹn bên ngoài bị nhỏ đi, nên nhìn chung ai cũng hậm hực ít nhiều, nhất là những đứa không chịu tin là tiếng Anh nói của mình có vấn đề (như tôi chẳng hạn :D).

Tôi trượt bài thi nói hai lần lận, bị mất điểm chủ yếu bởi phần phát âm (pronunciation) rất đậm đà bản sắc dân tộc, ví dụ như hay nuốt âm, nhất là cái chữ “r” trong các từ đó. Kiểu phát âm “perfect” thành pơ-phếch ấy (purrrr-phếch-t nha bà con lol). Rồi, trượt hai lần lận cùng với việc đã nghe theo lời xúi bẩy của đám bạn Tây vác xác lên khoa tiếng Anh đề nghị các thầy cô giải thích cụ thể lý do trượt, tôi rốt cục cũng chấp nhận một thực tế cay đắng là tiếng Anh của mình có vấn đề thật, nên cũng vác xác ngồi vô lớp nói tiếng Anh dành cho đám trợ giảng-to-be. (Trong khi thật ra vẫn làm trợ giảng bởi khoa tôi không có khắt khe quá nên cũng mắt nhắm mắt mở cho tôi đi làm.) Có điều, như đã nói ở trên, lớp học được thiết kế cho đám trợ giảng-to-be này thực ra tập trung nhiều hơn vào việc truyền bá văn hóa dạy học của Mỹ chứ không phải để khắc phục nguyên nhân mà đám này đã trượt bài thi nói tiếng Mỹ. Thực tế là tôi đã phải cày theo bác này để sửa cho hết những lỗi đậm đà bản sắc dân tộc mà mình đã mắc phải (theo một phần mềm đầy đủ, dĩ nhiên được dân Việt lén lút chia sẻ với nhau).

Giờ nói chuyện có học có hơn, ấy là học cách dạy học kiểu Mỹ. Nôm na là phải học cách tương tác với sinh viên ở trên lớp. Học những thứ rất cụ thể, như là vô lớp thì tự giới thiệu như thế nào (chào mừng các bạn đến với lớp X., tên, không cần tuổi, thời gian và địa điểm có thể tiếp sinh viên ngoài giờ học, phương thức để sinh viên liên lạc, đại khái vậy), giới thiệu về chương trình học và các chính sách, nội quy của lớp học ra sao, rồi khi giảng thì phải đặt câu hỏi cho sinh viên, rồi dĩ nhiên sinh viên hỏi thì phải trả lời, trả lời xong thì phải hỏi lại sinh viên là trả lời thế họ có hiểu không, rồi không trả lời được thì phải làm sao, rồi hết giờ mà sinh viên vẫn còn câu hỏi hay chưa giảng hết bài thì phải nói với sinh viên như thế nào. Tóm lại là lúc nào cũng phải đối thoại với sinh viên. Và rất phải tôn trọng cái chuyện hết giờ, chuông reo là phải tha cho sinh viên liền, thường là không cố dạy nốt cái gì cả, vì đôi khi sinh viên họ phải chạy sô qua lớp khác ở đầu kia của campus chẳng hạn. Nói chung là toàn thứ bổ ích cả.

Tôi cho là văn hóa dạy và học trên lớp học ở Mỹ, theo những gì tôi biết, thể hiện một thứ văn hóa dân chủ. Dân chủ không có nghĩa là không có thứ bậc, học trò trèo lên cổ thẩy cô giáo, mà nó là minh bạch và đối thoại, không sử dụng quyền lực để “giữ trật tự”. Thực ra thì trong lớp học bao giờ giáo viên cũng là người có quyền lực hơn, vì người giáo viên được quyền thiết kế luật chơi và học sinh buộc phải theo. Nhưng giữa giáo viên với học sinh đôi khi sẽ nảy sinh những bất đồng ý kiến. Nghĩa là có những thứ giáo viên làm hay giáo viên đưa ra có những học trò không phục. Thường gặp nhất là chuyện đề bài thi và chuyện chấm điểm, vì nó ảnh hưởng tới quyền lợi sát sườn của học sinh.

Nguyên tắc và lý thuyết là vậy, nhưng để làm được cần có thực hành và trải nghiệm. Một lần, tôi ra đề thi, điểm của đám sinh viên tụt hẳn xuống so với bình thường. Xem lại bài của sinh viên để xem những câu nào các bạn làm sai nhiều nhất, tôi cảm thấy những câu đó có vẻ như hơi lắt léo so với các câu hỏi thường gặp kiểu Mỹ. Nghĩ cũng áy náy, tôi quyết định nâng điểm cho cả lớp. Khi trả bài, tôi thông báo câu chuyện với đám sinh viên như vậy, chấm hết. Nghĩa là tự làm, tự kiểm điểm, rồi tự sửa sai. Ấy vậy mà đám sinh viên vẫn tỏ vẻ không phục, có bạn còn nhất định đòi gặp riêng tôi để “trình bày hoàn cảnh” và đòi nâng điểm nữa, lằng nhằng tới tận cuối học kỳ.

Thật ra chuyện ra đề rồi chấm điểm không thỏa đáng giảng viên nào cũng có thể mắc phải. Khác nhau là ở chỗ xử lý vấn đề thôi. Sau này tôi được chứng kiến hai bạn cùng làm cũng bị chuyện như vậy, có điều họ xử lý khác tôi (và giống nhau). Đó là họ trao đổi với sinh viên trên lớp, cho sinh viên trình bày hết những câu hỏi nào sinh viên cảm thấy không phục, rồi họ giải thích cho sinh viên tại sao họ đặt câu hỏi như vậy, và cuối cùng sau “phiên chất vấn” họ ra quyết định ngay trên lớp rằng sẽ tính lại điểm và không tính lại điểm cho những câu nào. Câu chuyện chấm dứt ở đó, không có sinh viên nào đòi gặp riêng và mặc cả riêng hết. Sau những chuyện như vậy, tôi rất thấm thía rằng từ dân chủ giáo điều tới dân chủ thực tế là cả một quãng đường, nếu không đi thì sẽ không thể tới được.

Giờ thì tôi chẳng làm trợ giảng, cũng chẳng giảng dạy gì. Nhưng những trải nghiệm ngày trước với công việc dạy học giúp tôi hiểu nhiều hơn về nghề giáo, một nghề thực ra đã là mơ ước nghề nghiệp đầu tiên trong cuộc đời tôi, mà vì nhiều lý do khác nhau, tôi đã luôn quay lưng lại với nó. Một trong những lý do ấy là tôi luôn cảm thấy tôi là một kẻ thất bại và tôi không muốn đứng trước đám học trò và nói với họ rằng học cái này đi, học cái kia đi, trong khi tôi đã học tất cả những thứ đó và rốt cục hầu như chẳng làm được gì đáng kể. Dĩ nhiên đó chỉ là kiểu suy nghĩ cực đoan và một dạng vấn đề tâm lý cá nhân, còn người giáo viên không phải là người cần phải chỉ ra cho học sinh là họ học xong thì ra đời làm gì. Nói rộng ra thì không ai nên đóng cái vai chỉ bảo ấy cả, vì cuộc đời của mỗi người cơ bản là do người ấy lựa chọn và quyết định làm gì và làm như thế nào.

Người giáo viên chỉ đơn giản là người truyền đạt lại một số kiến thức, giới thiệu một vài phương pháp tư duy và tự học để người học sau này biết cách tự tìm hiểu, tự nghiên cứu khi cần. Dĩ nhiên ngoài khía cạnh kỹ thuật ấy của nghề giáo thì người giáo viên có thể trở thành những người truyền cảm hứng cho người học hay làm được nhiều điều vĩ đại khác, thật ra giống như bất cứ một nghề nào khác trong xã hội.

Còn nói đơn giản như người giáo sư mà tôi đã may mắn được theo trợ giảng cho ông, hãy cho học trò một trải nghiệm tốt.

“Cứu một mạng người như thế nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ blog takingthemaskoff.

Tôi tỉnh dậy. Mọi thứ cứ lờ mờ. Tôi đang ở trong một căn phòng với một đám máy móc đã tắt. Có một cái rèm. Nó màu xanh. Có mọi người đang nói chuyện. Tôi có thể nhìn thấy họ nói chuyện. Tôi nhìn sang phải. Thấy mẹ. Bà đang khóc. Không chỉ là khóc mà là đang nức nở. Có nhiều người mặc áo màu xanh. Họ đang nói chuyện. Chẳng có ai nói chuyện với tôi.

Một lúc sau thì tôi ngồi dậy. Giờ thì tôi nhớ rồi. Tôi phải chết. Sao tôi lại ở đây nhỉ? Tôi chết rồi phải không? Đây có phải thật không vậy?

Tôi còn sống. Đêm trước tôi đã cố tự sát bằng việc uống tất cả các loại thuốc tìm thấy trong nhà; ngày hôm sau tôi bị bắt uống than hoạt tính và đã nôn trong nhiều giờ liền.

Nhưng tại sao các bác sĩ lại ở hết trong phòng tôi vào lúc nửa đêm thế này?

Tôi sau đó được biết là mình bị nghẽn nhĩ-thất độ 3 vào giữa đêm.

Nghẽn nhĩ-thất độ 3 ngăn không cho tim đẩy máu đến các cơ quan trong cơ thể. Dạng nghẽn nhĩ-thất này có thể gây ra mệt mỏi, chóng mặt, và ngất xỉu. Nghẽn nhĩ-thất độ 3 cần phải có can thiệp tức thì bởi nó có thể gây tử vong.

Tôi mười bảy tuổi. Tôi đang nhớ lại và tôi tức giận vì mình vẫn còn sống. Tôi hét lên với mẹ, vì đó là việc tôi vẫn làm. Bà chỉ biết yêu; nhận lấy tất cả sự giận dữ và cơn đau của tôi và tôi vẫn coi bà như một chỗ xả giận. Cuộc đời bà xưa giờ vẫn thế, và bây giờ nó lại tiếp tục như thế. Bởi vậy tôi đã hét lên, “Mẹ đi ra khỏi đây đi!!”

Bà lại khóc nhiều hơn nữa, và nhận lấy cơn giận dữ, như mọi khi. Bà luôn đổi lại bằng một tình yêu.

Tôi lại ngất đi lần nữa.

Tôi tỉnh dậy vào ngày kế tiếp. Có một gã đi vào. Gã mặc áo màu xanh. Tóc gã màu nâu, dài bình thường, và gã để râu. Tôi nhìn theo gã và tự nghĩ, “Đừng có mà nói gì không là tôi đấm cho đấy.”

“Xin chào, anh là Tom. Anh sẽ là y tá làm việc với em ngày hôm nay.”

Vậy đó, tôi phải nện gã này thôi. Tôi chẳng nói lời nào.

“Anh sẽ ở đây nếu em cần gì nhé. Anh có một cái thực đơn ở đây nếu em muốn gọi đồ ăn.”

Tôi sẽ không ăn gì cả; tôi ném cái thực đơn đi.

Thức ăn được mang đến hàng ngày và tôi không ăn. Tôi đã nghĩ là do tôi tức giận, nhưng giờ tôi biết là không phải.

Ngày nào gã kia cũng nói, “Xin chào, em có khỏe không? Anh có thể giúp gì được không?” Anh ta làm việc của anh ta và tôi mặc kệ. Mẹ tôi vẫn ở bên tôi hàng ngày và tôi vẫn luôn gây chuyện. Tom không phán xét gì chuyện tôi la hét với mẹ. Anh không nói nửa lời về chuyện đó. Anh nói chuyện với mẹ tôi vì bà cũng là y tá và bà có hỏi anh một số câu hỏi. Tôi chẳng quan tâm. Tôi chỉ muốn cho cả hai người ăn đấm.

Tôi vẫn hét lên với mẹ, nhưng quả tình tôi chẳng muốn bà rời khỏi căn phòng. Mẹ chẳng bao giờ bỏ đi. Đó là cách của bà. Một thứ tình cảm mà không ai khác, không ở đâu có, và nó được dành cho tôi. Tôi có thể có những giai đoạn khó khăn, nhưng tôi có điều đó. Tôi có mẹ. Tôi có thứ tình yêu mà ai cũng nên có. Nó là điều giúp tôi vượt qua được mọi chuyện. Tôi sẽ không đổi nó lấy thứ gì khác.

Từ bữa đó tới nay là bốn ngày. Mẹ mang cho tôi một chiếc áo nỉ. Áo của đội Minnesota Twins, đội mà tôi thích. Tôi yêu bóng chày và tôi yêu cái áo nỉ đó. Mẹ tôi biết điều này. Tôi đã định bảo mẹ mang cho tôi cái áo đó, nhưng nó đã ở đây rồi. Mỗi khi tôi đưa mắt nhìn, tôi lại thấy mẹ. Mẹ khóc, nhưng mẹ ở đó.

Tôi mặc chiếc áo đó vào. Gã Tom này lại đi vào. Anh ta cũng sẽ chẳng đi đâu. Tôi đoán đó là công việc của anh ta. Nhưng nó cũng là công việc của nhiều người khác nữa. Nhưng họ chẳng ngu ngốc tới mức ngày nào cũng hỏi tôi xem tôi thấy thế nào. Sự giận dữ của tôi đẩy họ ra xa như là tôi mong muốn. Chỉ có gã Tom ngu ngốc này là dường như không hiểu điều đó.

“Ồ em thích bóng chày à? Anh cũng thích. Đội Twins này cũng là đội mà anh thích đấy. Thế em bảo năm 1991 với năm 1987 thì năm nào họ chơi hay hơn?” (Đó là hai năm họ vô địch giải World Series.) Khi đó tôi 11 và 15 tuổi và đó là những khoảnh khắc tôi luôn luôn ghi nhớ.

Tôi nói. Tôi không thể bỏ qua được. “Ừa em thích bóng chày. Em nghĩ là năm 1991 họ chơi hay hơn.”

Tom bắt đầu nói chuyện với tôi về bóng chày, mọi thứ về môn thể thao này. Tôi bắt đầu trả lời bằng một từ, rồi hai ba từ. Rồi thì bằng cả câu.

Sau đó Tom nói, “Anh biết là em chẳng ăn gì mấy, và mẹ em bảo em là người khó ăn. Em có nghĩ là anh có thể cho em gọi món đặc biệt không? Anh biết là bác sĩ bảo em chưa thể ăn burger được, nhưng anh nghĩ là anh sẽ kiếm được cho em nếu em chịu ăn.”

“OK,” là câu trả lời của tôi.

Tôi ăn cái burger đó.

Ngày hôm sau. Tôi đã chờ Tom tới. Một chị nào đó khác đi vào phòng. Tôi cứ nghĩ, “Cái gã ngốc vẫn hay nói chuyện với mình đâu rồi? Quái quỷ thật. Ngu ngốc thật. Cái gã vớ vẩn ấy đâu rồi nhỉ?”

Tôi hỏi mẹ, “Tom đâu rồi?”

Anh ta nghỉ phép.

“Sao cũng được, anh ta cũng chỉ là một tên ngốc mà thôi,” tôi nói.

Sau hai ngày nghỉ phép thì Tom trở lại. Tôi không muốn thừa nhận, nhưng tôi đã rất vui khi thấy anh ấy và tôi đã mong anh ấy trở lại.

“Này, em đã bắt đầu cảm thấy khá hơn thì có vẻ như là bọn anh có thể tháo bớt một số máy móc ra khỏi người em được rồi đấy.”

Tôi đang ăn và Tom giúp tôi điền vào thực đơn và giúp tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Bác sĩ tâm lý (psychiatrist) của bệnh viện tới và tôi từ chối nói chuyện. Sau đó thì Tom bước vào.

“Anh nghe nói là em không chịu nói chuyện với bác sĩ. Việc đó là rất quan trọng để các bác sĩ biết là họ có thể làm gì để giúp em.”

Tôi đã học được cách tin tưởng gã ngốc này. Tôi nghĩ là anh ấy hiểu tôi. Anh ấy ở phe tôi. Anh ấy kiếm cho tôi một cái burger, anh ấy thích bóng chày, anh thấy thực sự để ý đến tôi và việc tôi thích gì. Anh ấy dành thời gian và quan tâm tới tôi. TỚI TÔI. Anh ấy dường như thực sự quan tâm tới tôi cho dù tôi có coi anh ấy như một gã ngốc vớ vẩn. Anh ấy ở phe tôi. Bởi vậy tôi đồng ý nói chuyện với bác sĩ.

Sau đó tôi được biết là họ muốn chuyển tôi tới tầng điều trị tâm lý trong bệnh viện. Không đời nào tôi nghe theo. Tôi sẽ phải dậy và rời đi á? Không không không không không.

Sau đó Tom lại tới nói chuyện với tôi. “Anh cần phải nói chuyện với em về việc này. Em biết đấy, nếu em không tự nguyện đi họ có thể buộc em phải đi mà em chẳng làm gì được. Em có thể bị ở lại đây lâu hơn theo cách đó. Em đã bảo là em ghét ở nhà mà. Em hãy nghĩ là mình đang đi nghỉ đi. Em cứ đi nói chuyện với mọi người, chơi các trò chơi. Họ có bàn bóng bàn đấy, em bảo là em thích chơi bóng bàn mà.”

Tom biết là tôi thích chơi bóng bàn và chẳng ai khác biết cả vì nào có ai hỏi. Chả có ai khác để ý tới cái áo tôi mặc, nói chuyện về bóng chày, hay là biết tôi thích ăn hamburger. Chẳng có ai khác vi phạm quy định của bệnh viện và kiếm cho tôi một cái burger. Chẳng có ai khác nói chuyện với tôi như một con người. Vì vậy, nếu anh ấy bảo chuyển đi là ok thì tôi tin. Tôi nói, “Ok em sẽ đi.”

Anh nói, “Tuyệt, anh sẽ đi lên đó với em. Nhưng trước tiên anh có một điều bất ngờ.”

Rồi Tony Oliva, một ngôi sao đã nghỉ hưu của đội Twins (người mà đã thiếu đúng một phiếu để được vào ngôi nhà danh vọng vào năm 2014), bước vào với một cây gậy bóng chày từ giải world series. Ông nói chuyện về bóng chày với tôi và Tom cả tiếng đồng hồ. Ông ký tên lên chiếc gậy rồi tặng nó cho tôi.

Tom bắt gặp ông đi thăm ai đó trong bệnh viện và đã tiếp cận và làm phiền ông nhiều lần cho tới khi ông đồng ý tới gặp tôi. Tom đã làm việc này vào các giờ nghỉ và ngày nghỉ.

Tôi, một fan cuồng 17 tuổi của đội Twins, cứ ngỡ như mình ở thiên đường. Bóng chày là môn thể thao mà tôi ưa thích. Đó là một điều tuyệt chưa từng có. Tôi đã cười. Mẹ tôi bảo, “Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy thằng bé cười trong suốt nhiều tháng,” rồi lại khóc nức nở. Cứ như là mẹ tôi biết là kể từ thời điểm ấy tôi sẽ ổn.

Tôi đi cùng với Tom lên khu vực điều trị tâm lý cho người thành niên. Tôi cầm theo chiếc gậy trong tay mình. Khi tôi mở những cánh cửa đó ra cuộc sống mới của tôi bắt đầu. Nó không phải một sự kết thúc, mà là một sự khởi đầu cho tôi.

Tôi đã có một ý tưởng đúng. Tôi cần phải giết chết chính mình, nhưng không phải theo nghĩa đen. Tôi cần phải giết chết cái tôi giả (false self) của mình. Đó là cách mà bạn hàn gắn.

Tôi đã bước qua những cánh cửa đó. Những cánh cửa đã mở ra và đó là bắt đầu của một hành trình dài đầy đau khổ. Đó là sự mở ra cho một sự khởi đầu mới. Tom giống như một người chăn cừu. Tôi chính là chú cừu đi lạc.

Tôi đã không tài nào có thể bước qua được những cánh cửa đó nếu không có Tom.

Tất cả bắt đầu bằng việc anh ấy xuất hiện và nói xin chào. Anh ấy để ý mọi thứ, gây dựng mối quan hệ, làm nhiều hơn những gì cần làm, và không phải lúc nào cũng đi theo các nguyên tắc. Anh ấy đã có vợ và con cái và một cuộc sống riêng nhưng ở trong bệnh viện đó anh ấy dành ưu tiên cho tôi. Thời gian mà tôi ở trong căn phòng đó, có anh ấy, có những lúc tôi đã là thứ quan trọng nhất trên đời. Khi anh ấy rời khỏi đó, tôi chắc là anh vẫn sống cuộc sống bình thường của mình. Nhưng khi anh ấy ở đó với tôi, anh ấy chỉ hoàn toàn tập trung vào tôi. Anh ấy không bị xao lãng bởi những điều khác. Anh ấy đã hoàn toàn ở đó với tôi. Trước đó anh ấy chỉ đơn giản là ở đó. Nói xin chào.

Tôi nghe mọi người nói là Tony Oliva đã khiến tôi chịu chuyển lên đó, rằng ông ấy đã cứu sống tôi. Tuy rằng điều đó thật tuyệt, và ngày hôm đó thật đáng nhớ, nhưng sự thật là Tom đã giúp tôi lên đó. Anh ấy là người đã cứu sống tôi. Những chuyện xảy ra sau những cánh cửa đó lại là một câu chuyện khác để kể vào một hôm khác.

Bạn thường nghĩ là bạn cứu sống một người theo cách bạn thấy trên TV thế này:

Ai đó đang bị kẹt trong một đám cháy tại một tòa nhà cao tầng. Người lính cứu hỏa lao vào để cứu anh ta. Người lính cứu hỏa có đủ mọi trang bị cần thiết và đã được đào tạo cẩn thận. Anh ta đã sẵn sàng với nhiệm vụ này và đưa được người kia ra khỏi tòa nhà.

Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như thế. Đôi khi người ta bị cháy và chết dần ở trong lòng. Chúng ta chẳng làm gì cả. Chúng ta để cho họ cháy. Tất cả chúng ta đều thế. Chúng ta quá bận rộn với cuộc sống của chính mình.

Bạn không cứu một mạng người bằng cách lao vào một tòa nhà đang cháy. Bạn cứu một mạng người bằng cách nói xin chào.

Hy vọng tất cả các bạn đều là Tom của một ai đó hôm nay.

“Một con mèo đã làm bạn trai tôi bớt trầm cảm như nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc tiếng Anh của Hannah Louis Poston đăng trên The New York Times ngày 13/08/2015. Đọc như truyện ngắn lol.

Khi bệnh trầm cảm của bạn trai tôi Joe (nguyên văn là partner – ND) trở nên tệ nhất, anh ấy tỉnh dậy vào buổi sáng chìm đắm trong trạng thái lơ mơ dễ nhận thấy tới mức đôi khi tôi cũng choàng tỉnh theo, như thể là tôi ngửi thấy mùi gì cháy.

Trong suốt những năm đầu bên nhau, tôi thường ước là buổi sáng anh ấy sẽ quay sang nói “Chào buổi sáng!” một cách vui vẻ và hôn tôi thay vì trượt ra khỏi giường một cách trống rỗng, như một cái xác chết di động, đi kiếm cà phê.

Tôi cuối cùng cũng hiểu rằng nằm một mình trên giường và mơ tưởng về một Joe không trầm cảm là một ý tưởng tệ hại. Nó làm tôi trở nên cáu bẳn, và rồi cả hai chúng tôi đều có một ngày tệ hại.

Bởi vậy, thay vào đó tôi mặc áo choàng ngủ vào và xỏ chân vào đôi ủng cao su, trong tâm trạng vui vẻ hết mức có thể, rồi đi lấy đám trứng xanh xinh đẹp từ bọn gà Aracuna của bạn cùng nhà của chúng tôi.

Khi tôi tới, sàn của chuồng gà đầy cỏ khô và lông rơi xuống lả tả bởi lũ chuột khi ấy mới vội rút về ổ của chúng đằng sau thùng compost. Bọn chuột luôn phá chúng tôi, và mong chúng biến mất đi cũng chẳng khác nào mong cho Joe hết trầm cảm.

“Chúng ta cần một con mèo,” gần như sáng nào tôi cũng tuyên bố như thế khi sắp xếp đám trứng còn ấm vào trong rổ ở bên bàn bếp. Tôi vận động mãi, giải thích rằng kể cả khi nó không phải là loại biết bắt chuột thì có một con mèo trong nhà cũng sẽ giảm bớt được sự hoành hành của bọn chuột.

Joe thì không chắc lắm về con mèo. Anh ấy luôn nghi ngờ những ý tưởng có vẻ như là vội vàng – chậm chấp nhận những thứ mới, chậm thay đổi.

“Em đã nghĩ là tại sao em lại muốn có một con mèo chưa?” một tối anh ấy hỏi tôi như thế.

“Ý anh là gì, tại sao là thế nào?” tôi cảm thấy bị xúc phạm. Anh ấy như kiểu đang ám chỉ là ngoài chuyện bọn chuột tôi có những lý do không chính đáng khi muốn có một con mèo. “Tại sao lại ai cũng muốn có một con mèo? Nó là con mèo thôi.”

“Chỉ là việc này có lẽ sẽ tốn của chúng ta nhiều năng lượng,” anh nói.

Joe và tôi khi ấy đã ở bên nhau được gần ba năm tròn, thời điểm mà, theo một nghiên cứu chỉ ra, nhiều cặp đôi rất dễ tan vỡ.

Các đợt trầm cảm của anh ấy bắt đầu trở lại thường xuyên hơn, mỗi lần kéo dài nhiều ngày. Trong những ngày này, nếu tôi có mua một pint kem sô-cô-la bạc hà về (loại anh ấy thích), thường anh ấy cũng chẳng hào hứng và thậm chí còn chẳng thèm ăn.

Không, anh ấy chẳng muốn đi xem phim cũng chẳng muốn đi nhảy cũng chẳng màng đến sex. Mọi lời đề nghị, cả bản thân tôi nữa, cũng đều bị tống xuống một cái hố sâu xám xịt, khiến tôi cảm thấy rất bất lực và tủi thân. Tôi đã học được rằng cách tốt nhất để yêu Joe trong những thời gian này là để anh ấy được ở một mình.

“Em không thể chữa trầm cảm được đâu,” một lần Joe bảo tôi thế. “Em chỉ có thể học sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Tôi đã khá hơn trong việc sống chung với nó; tôi bắt đầu mua loại kem mà tôi thích thay vì loại mà anh ấy thích. Và khi cuối cùng tôi cũng lái xe đi hết Portland để tới chỗ Oregon Humane Society (tạm dịch, Hội Nhân đạo Oregon) vào một ngày tháng Tám, tôi đã làm việc đó một cách bí mật, nổi loạn, và hoàn toàn vì những lý do cá nhân mà tôi không nói ra.

Trước đó là một tuần đặc biệt khó khăn. Chiến lược đã được mài giũa cẩn thận của tôi để yêu một người trầm cảm là giúp đỡ chính mình thay vì cố gắng giúp đỡ anh ấy. “Và hôm nay,” tôi đã nghĩ khi tôi đỗ xe trong bãi đỗ của hội nhân đạo, “tôi sẽ giúp chính mình kiếm một con mèo.”

Khi Joe về tới nhà vào tối hôm đó, con mèo – chỉ là một nhúm lông vằn – nhảy ra từ dưới gầm giường. Tôi hít một hơi thật dài, chuẩn bị bảo vệ quyết định của mình.

Nhưng sau đó tôi nhìn thấy đôi mắt màu lục của con mèo gặp đôi mắt đẹp mà buồn của anh, khi đó như thể là có pháo hoa và cực quang xuất hiện vậy. Khi con mèo cố gắng đi một cách duyên dáng, đồng thời cũng rẽ ngang rẽ dọc trên đường nó đi, thành thử trông bước chân hơi liêu xiêu, tôi nghĩ là trong mắt Joe đã xuất hiện hai trái tim màu hồng thay cho đồng tử.

Sáng hôm sau khi chúng tôi thức dậy, điều đầu tiên mà Joe nói là, “Con mèo đâu rồi?” Và phản ứng đầu tiên của con mèo, khi nó nghe tiếng anh, là trèo lên trên chăn rồi nhảy vào mặt anh.

Cũng mùa hè năm ấy, Joe có đủ sức để tạo ra những thay đổi lớn trong đời: Anh bỏ hút thuốc, và anh nghe theo lời khuyên của chuyên gia trị liệu là thử Wellbutrin, một loại thuốc chống trầm cảm thường được kê như một hỗ trợ sau khi bỏ thuốc lá.

Sadie hóa ra lại biết bắt chuột rất tài tình. Đến lúc nó đủ lớn để bắt chuột, nó đã đuổi theo hết con này đến con khác theo những kẽ hở trong tường và hầu như tối nào cũng tha về một con.

Nó sẽ thả con mồi ra để chơi và chúng tôi sẽ thấy con chuột lủi vào sau tủ hoặc dưới giường. Sau đó Joe sẽ dùng một cái gắp salad cũ, trông như một cái lao, để cùng Sadie săn chuột.

Còn tôi sẽ nằm trên giường, hạnh phúc ngắm nhìn gã người yêu gầy gò, ngái ngủ, và trần trùng trục của mình hấp tấp dồn con chuột vào góc trong ánh sáng lờ mờ lúc ba giờ sáng, xem anh ấy vui đùa, cười, và thì thầm với Sadie, còn nó thì sẽ meo lên và quẩn quanh dụi đầu vào chân anh.

Điệp khúc buổi sáng “Con mèo đâu rồi?” trong bốn năm qua đã dần chuyển thành “Chào buổi sáng, Đậu Phộng,” và một cái hôn lên má tôi. Đôi khi tôi còn được ôm ấp một tí trước khi uống cà phê.

Joe vẫn có những ngày tệ hại. Nhưng kể cả trong những ngày tệ nhất, khi Joe chìm trong u ám còn tôi thì chuẩn bị rút về một góc riêng của mình ở trong nhà, Sadie vẫn sẽ nhẹ nhàng lẻn vào phòng, như xà phòng giữa đám dầu mỡ, như ánh sáng giữa sương mù.

“A, Sadie! Lại đây nào, quả sồi con này,” Joe sẽ gọi nó. “Hôm nay em thế nào? Đến trường có vui không? Có bị ai bắt nạt không?” Sau đó anh ấy sẽ tự bật cười vì mấy câu đùa của mình và tóm lấy con mèo rồi ôm nó như ôm một đứa trẻ, xoay về hướng tôi.

“Coi Sadie nè,” anh sẽ nói, lấy mấy ngón tay gãi gãi vào giữa hai tai nó cho lông dựng hết lên, cỡ một inch. “Mày đang gừ gừ à, mặt cá? Mày đang gừ gừ đúng không?” Rồi anh áp sát con mèo vào tai mình như một cái hộp nhạc. “Nó đang gừ gừ đấy,” anh hớn hở bảo tôi.

Khi tôi hỏi Joe là anh ấy có nghĩ Sadie đã chữa khỏi bệnh trầm cảm cho anh ấy không, gương mặt anh trông rất bối rối.

“Dĩ nhiên là không,” anh nói. “Em phải nhớ là trầm cảm là không thể chữa được.”

“Em biết,” tôi nói. “Ta chỉ có thể sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Giống như những buổi săn chuột vào đêm muộn, sự khỏe mạnh của Joe là một nỗ lực có sự hỗ trợ. Mặc dù có sự giúp đỡ của Sadie, rốt cục Joe vẫn là người tóm lấy đuôi con chuột bằng cái gắp salad cũ, và mang con chuột đang giãy dụa ra cửa xử lý. Nhưng Sadie đã giúp đỡ nhiều tới mức đôi khi khó mà nói được đâu là nơi những lựa chọn của chúng tôi ngừng lại và sự tồn tại của nó bắt đầu.

Khi bắt đầu thấy những dấu hiệu buồn chán từ Joe, tôi lại đi tìm Sadie và mang nó đến đặt vào lòng anh, như một lời xoa dịu. Kể cả trong những trận cãi vã tồi tệ nhất của chúng tôi, cuối cùng một trong hai sẽ bế Sadie lên và mang tới chỗ người kia, nhấc lên hạ xuống con mèo một lúc khiến nó phải giãy lên và đưa mắt lườm rất đáng yêu.

Khi chúng tôi quá tức giận không ai muốn động vào ai thì chúng tôi vẫn có thể cùng vuốt ve Sadie, và kết cục là chúng tôi như đứng giữa cuộc chiến của hai quốc gia, cùng bám lấy chiếc cầu bắc ngang qua biển cả giữa hai người, rồi lặng lẽ gửi đi những thông điệp ngừng bắn: những ngón tay sẽ gặp nhau giữa đám lông mèo.

Một buổi chiều mùa thu vừa rồi, Sadie mang về một con sẻ chết. Đó là bi kịch của một con chim bị mèo tóm; một thứ đã từng là khó nắm bắt nay chỉ còn là một nắm tơ và nằm hy sinh trên sàn bếp của chúng tôi.

Sau khi Sadie biết chắc là chúng tôi đã nhìn thấy thành tích của nó, nó ăn sạch con chim đó: móng vuốt, mỏ, xương, và cả những chiếc lông cuối cùng. Chưa đầy một phút. Khi chúng tôi vừa mới quen với việc nhìn nó ăn con chim thì nó đã ăn xong và bỏ đi, trên sàn chỉ còn lại vài chấm máu.

Sadie là hạnh phúc của chúng tôi, khó kiếm và hư hỏng. Hạnh phúc của chúng tôi ngoác miệng cười và liếm sạch máu ở cằm. Hạnh phúc của chúng tôi chỉ tình cảm khi nào nó thích, và vì nó là họ nhà mèo, “khi nào” của nó phải lâu lâu mới có.

Nhưng ít nhất thì hiện giờ nó đang sống trong nhà chúng tôi. Nắng sớm trải trên mái tóc đen của Joe, ba chúng tôi quấn lấy nhau trong chăn, chiếc giường như một con thuyền đơn sơ, và chúng tôi lái nó tới, nếu những ngày này có ý nghĩa gì, một ngày tương đối tốt lành.

Tác giả Hannah Louis Poston đang học thạc sĩ (M.F.A.) chuyên ngành thi ca tại Helen Zell Writers’ Program, University of Michigan.

Linh tinh chuyện cắt tóc

Tôi sinh ra với một mái tóc đen, thẳng như đa số gái Việt. Nếu mà tóc tôi nó cứ chịu như vậy thì tôi hẳn đã không phải tốn nhiều nơ-ron thần kinh để suy nghĩ về nó, tôi sẽ để tóc tém hoặc cắt một cái đầu vuông cả đời, không bao giờ uốn nhuộm gì hết trơn. Nhưng đến một cái việc cỏn con như vậy cũng vuột ra ngoài tầm tay của tôi!

Khi tôi học lớp 7-8 gì đó, tóc tôi bắt đầu xoăn lên thấy rõ. Dĩ nhiên không phải là một ngày ngủ dậy tóc tôi từ thẳng thành xoăn, mà nó bắt đầu xoăn dần từ lúc nào đó, chỉ biết là nhìn vào những bức ảnh cũ thì quanh cái khoảng thời gian năm tôi học lớp 7-8 có thể thấy tóc tôi bông xù ra rõ rệt. Chỗ này phải giải thích một tẹo là các bạn đừng nghĩ đến mấy cái đầu bông xù xinh đẹp trên ti vi và báo chí. Cá với các bạn là mấy mái tóc bông xù xinh đẹp phải 80-90% là tóc làm đó, không có tóc xù tự nhiên nào đẹp được như thế đâu :D. Thực ra tại mấy đứa bạn gọi tôi là Santa tóc xù chứ tôi chẳng biết dùng từ nào để mô tả cho chính xác. Khi tôi dùng curly thì các bạn Tây ai nấy đều bĩu môi bảo tóc tôi không đủ tiêu chuẩn để gọi là curly. Các bạn bảo chỉ hơi wavy thôi, nhưng quả thực cả đời tôi chưa được thấy sóng nào lại trông kỳ cục như tóc mình nên cũng không dám dùng từ ấy.

Một thời gian tôi nghĩ là chắc là do đến tuổi dậy thì trong người có nhiều biến đổi nên tóc tôi nó cũng biến đổi. Trừ những người biết tôi từ nhỏ, còn sau này ai gặp tôi cũng đinh ninh là tôi đã được sinh ra với một mái tóc như thế. Dạo ấy tôi đã phải nghĩ ngay ra một cái gốc gác cho cái đầu của mình. Nghĩa là nếu có ai hỏi, tôi sẽ giải thích là ngày xửa ngày xưa có một lần tôi ngủ dậy lười gội đầu bèn tháo đầu mình ra cho vào máy giặt :D. (Bạn nào đã đọc bộ truyện tranh Tiến sĩ Slump hẳn là nhớ trò này của bạn người máy Arale tinh quái.)

Cho tới tận năm ngoái (nghĩa là 2014), một lần chuyện phiếm với bạn cắt tóc quen, tôi mới có một giả thuyết mới. Bạn cắt tóc của tôi quả quyết rằng đó là hệ quả của vụ tiêm vắc-xin phòng dại của tôi. Dĩ nhiên không phải ai cũng phản ứng với vắc-xin ấy như tôi, nhưng bạn ấy biết có hai người sau khi tiêm vắc-xin phòng dại thì tóc đang thẳng thành xoăn như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ đi tìm hiểu thêm về vấn đề này, nhưng tôi thấy giả thuyết ấy cũng thật thú vị. Trước khi năm học lớp 7 bắt đầu, tôi bị một con chó cắn cho tơi tả thật, và sau đó phải đi tiêm vắc-xin suốt một tuần hay sao ấy. Chỉ nhớ là dạo ấy ngày nào đi tiêm cũng được bố cho qua ăn quán cháo lừng danh đất Hà Nội ở Trần Nhân Tông, ngon bá cháy :D.

Tóm lại là dù nguyên nhân gì đi nữa thì từ đó tôi cũng bắt đầu phải mệt công suy nghĩ về mái tóc của mình. Trước đó thì rất đơn giản, mẹ tôi cắt tóc cho tôi, chỉ cần cắt bằng ngang tai, với một cái mái bằng là xong chuyện. Ngoài mẹ tôi ra tôi cũng không thích ai khác động vào đầu mình. Từ năm lớp 7-8 đó thì tôi nuôi tóc dài rồi cột túm lên, vì không còn để tóc ngắn như trước được nữa. Đến khi vào đại học, tôi bắt đầu nản với mái tóc dài, bèn giao đầu mình cho một ông cắt tóc, bảo là cắt cho tôi một cái đầu ngắn. Ông này cắt cho tôi một cái đầu thảm họa khiến tôi muốn khóc thét!

Sau đó, hình như là cùng năm, vì cái đầu thảm họa mà tôi đồng ý cho người ta đổ thuốc ép tóc lên đầu, chứ tôi ghét phải fake bất cứ thứ gì về mình. Thế là tôi lại có một mái tóc thẳng mượt, ngang tai, và dẹp lép vì thời ấy chưa có công nghệ ép phồng như bây giờ. Nhiều người khen xinh. Trừ bố tôi và ông nội tôi là bảo thích cái đầu xù của tôi hơn, nhưng bị mọi người gạt đi, bảo là ý kiến của hai ông già không quan trọng bằng ý kiến của các giai trẻ :D. Tôi thì chịu không thể chấp nhận cái mái tóc xinh đẹp ấy là của tôi được. Tôi không thích mái tóc cũ, nhưng tôi còn ghét mái tóc fake mới nhiều hơn vì mỗi lần nhìn vào trong gương tôi lại cảm thấy như tôi đã bị biến thành một ai đó khác chứ không còn là mình nữa. Chưa kể, tôi cũng ghét cái ý nghĩ là cứ sau mỗi sáu tháng một năm tôi lại phải tiếp tục đổ thuốc lên đầu để duy trì một cái đẹp giả tạo mà không khiến tôi cảm thấy bất cứ điều gì tốt đẹp hơn về bản thân mình.

Sau vụ ấy, tôi lại nuôi tóc dài, buộc lên, tết lại, xấu một tí cũng được, nhưng dễ chịu hơn rất nhiều. Nên là có một thời gian dài tôi có mái tóc dài ngang lưng. Bà ngoại tôi thì ưng lắm vì thấy phụ nữ trong nhà cứ đua nhau đi cắt ngắn hết cả, mà không biết rằng trong lòng tôi ngày đêm cũng chỉ mơ được cắt ngắn như thế :D. Sau này khi tôi cuối cùng cũng cắt phăng mái tóc dài đi, bà tôi tiếc mãi.

Sang tới Mỹ, tôi quyết định cắt ngắn. Nói gì thì nói Mỹ là một đất nước tự do, tôn trọng và khuyến khích tính cá nhân hơn Việt Nam rất nhiều. Chưa kể bạn là người nước ngoài thì dân Mỹ lại càng ít xét nét (như là các bạn Tây ở (các thành phố lớn ở) Việt Nam chính lại ít bị xét nét hơn người Việt). Thời gian sống ở Mỹ tôi đã giải phóng được rất nhiều cái tôi của mình, trong đó có chuyện tóc tai. Ngày ở Việt Nam trước đó, cứ mỗi khi tôi theo ai đó ra hàng cắt tóc để thăm dò chuyện cắt tóc của thiên hạ là y như rằng người thợ cắt tóc bảo với tôi một câu: cái đầu này phải ép đi! WTF!!! Thậm chí đa phần còn không nói được với tôi một câu tử tế, đừng nói là có ai hỏi tôi có muốn ép tóc không và vì sao tôi không muốn ép tóc. Họ nói với tôi kiểu muốn chữa bệnh cho tôi không bằng. (Mà tôi thì tính tự ái cao đừng hỏi 😀 .)

Bởi thế nên khi lần đầu bước vào tiệm cắt tóc ở gần nhà tại Mỹ, tôi thấy như đây mới là home town của mình: khi tôi bảo tôi muốn cắt tóc ngắn, người cắt tóc hỏi lại là tôi muốn cắt ngắn đến đâu. Period. Nhưng tôi lại chỉ cần có thế! Trong suốt nhiều năm tôi đã chỉ cần một người hỏi tôi một câu đơn giản có vậy thôi! Chừng nào còn chưa có người biết nói với tôi một câu như thế thì tôi còn tiếp tục tẩy chay các tiệm cắt tóc và tiếp tục nuôi tóc mình dài đến gót chân và người duy nhất sẽ “được” giúp tôi cắt đuôi tóc xấu chỉ có thể là mẹ tôi mà thôi! (Yeah tôi cực đoan vậy đó, đừng hỏi tại sao giờ này vẫn độc thân và lắm thời gian viết blog đến vậy :D.)

Sau này thì cũng có người giúp tôi hiểu ra là tôi không cần phải quá cực đoan đến vậy. Xưa giờ chỉ có những lời nói (và hành động) ngọt ngào mới có thể làm cái đầu cứng hơn đá của tôi tan chảy, còn ngoài ra không có phương thuốc nào khác 😀 – và lần đó cũng không phải ngoại lệ. (Chỗ này phải mở ngoặc tí là tôi cũng rất thích những lời phê bình mang tính xây dựng và chuyện này thì không mâu thuẫn gì với sự “hảo ngọt” của tôi hết.) Người đã ngọt ngào với tôi về chuyện tóc tai như vậy là một chị cắt tóc của tiệm đó mà tôi đã chẳng còn nhớ tên. Nhiều người cắt tóc khác ở tiệm đó không nói chuyện với tôi mấy mà tôi thì cũng không hay bắt chuyện ở những chốn như vậy (dù hay chủ động bắt chuyện ở những chốn khác, như WordPress chẳng hạn lol). Chị ấy đại khái đã hỏi chuyện tôi về tóc của tôi, và thay vì bảo tôi phải làm thế này, phải làm thế nọ thì đơn giản là đã nói với tôi một câu là em nên làm gì đó với tóc của mình, và giới thiệu cho tôi một vài sản phẩm dưỡng tóc đơn giản. Khỏi phải nói, tôi đã đồng ý mua một lọ moisturizer bán ở tiệm. Từ đó đến giờ tôi cũng thường xuyên dùng dạng sản phẩm này.

Sau đó thì tôi bắt đầu bớt định kiến với các tiệm cắt tóc hơn, và sau khi ở Mỹ về Việt Nam được chừng một năm thì tôi có được một bạn cắt tóc ưng ý ở cái Hà Nội này, sau khi cũng đã “qua tay” vài ba người và đều một đi không trở lại :D. Không phải vì bạn ấy cắt quá đẹp mà đơn giản là vì bạn ấy biết nói chuyện với tôi và dĩ nhiên là cắt tóc cũng ổn. Lần đầu tiên tôi tới làm tóc ở đó (khi ấy tóc lại đã dài), tôi đã đồng ý cho bạn ấy ép phồng phần mái và uốn lọn phần đuôi. Sau này tôi mới để ý là cái đầu ấy ở Hà Nội nhan nhản luôn, chắc là kiểu đầu phổ biến thợ làm tóc nào cũng làm được. Tôi cũng không ưng kiểu ấy lắm vì nó không hợp với tính cách của tôi, nhưng cũng không cảm thấy khó chịu. Nhưng tôi biết là tôi ưng bạn cắt tóc này. Sau lần ấy, bạn ấy hiểu tính tôi hơn, hiểu tóc tôi hơn, và bắt đầu cắt cho tôi những cái đầu ngắn ưng ý. Có ép tóc đâu một hai lần thì phải. Có lần bạn ấy than thở là làm ăn mà khó quá chắc phải dẹp tiệm về quê với vợ; tôi bảo, em mà về thì chị chỉ có nước nuôi tóc dài trở lại :D.

Thế mà tôi vẫn lười đóng góp vào kinh tế của tiệm :”>. Hiện tóc đã dài và xấu đến độ ra đường cũng bắt đầu tự cảm thấy xấu hổ, mà vẫn lười chưa ra cắt tóc (trong khi không ngại ở nhà lảm nhảm linh tinh về chuyện đầu tóc thế này). Tháng Chín vậy! 😛

 

Một lớp học nhớ đời

Khoảng một tuần trước hạn nộp bài cho lớp ấy, tôi phát hiện ra mình đi sai hướng. Đúng hơn là chọn sai dữ liệu. Chẳng hiểu đầu óc tôi để đâu mà cả cái lớp ấy chỉ toàn học và nói về các dữ liệu vi mô – nghĩa là cấp cá nhân hoặc hộ gia đình – cũng là yêu cầu chọn dữ liệu cho bài paper cả kỳ thì tôi đã chọn dữ liệu tận cấp hạt. Tôi cuống cuồng đọc lại đề bài, đọc đi đọc lại các hướng dẫn, xem lại câu hỏi nghiên cứu của mình, và lục lọi tìm các nguồn dữ liệu vi mô phù hợp. Đấy là một tuần khổ ải chưa từng có trong toàn bộ cuộc đời cắp sách tới trường của tôi. Nhưng vì anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi, tôi không thể bỏ cuộc được, không thì tôi còn mặt mũi nào mà nhìn vào khuôn mặt đẹp trai ấy nữa.

Ngày nào tôi cũng thức nguyên đêm trong văn phòng của bác giáo sư – người đã tốt bụng cho tôi mượn để sử dụng – rồi trở về nhà vào chuyến xe bus sớm nhất lúc 7h sáng, ăn ngủ nhì nhằng gì đó để rồi chiều lại vác xác đến văn phòng tiếp tục lao động khổ sai để còn có đường mà nhìn mặt anh thầy giáo. Ngày kỷ lục tôi làm việc liên tục khoảng 16 tiếng đồng hồ, người như sống dở chết dở. Vào buổi chiều thứ sáu của tuần học cuối cùng, tôi ôm hai ổ bánh mì ngồi chờ xe bus để tiếp tục đến trường chiến đấu và nhìn những người khác đã tung tăng chuẩn bị cho kỳ nghỉ đông vì đã hoàn thành xong nhiệm vụ cho các lớp học, trong lòng tự hỏi liệu có lúc nào đời tôi đã từng nhục như thế này chưa.

Cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành bài paper vào tối chủ nhật, sau khi đã phải xin phép anh thầy giáo cho nộp muộn một chút so với deadline. Viết xong những dòng cuối cùng của bài paper, tôi chỉ muốn đập đầu vào tường vì cảm thấy mình đã trả lời câu hỏi nghiên cứu một cách rất vô thưởng vô phạt. Nhưng còn gì khác nữa đâu, tôi đành phải gửi bài đi. Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng hình dung ra sẽ nhận được thư của anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi mắng tôi thế này: HA, tôi rất thất vọng về em. Tôi đã tận tâm tận lực để truyền đạt cho các em bao nhiêu như thế trên lớp, đã ép các em làm bài tập như thế để mà cuối cùng em gửi cho tôi một bài paper đáng thất vọng như thế này ư?

Nhưng mãi mà chả thấy anh thầy trả lời gì. Tôi cũng không biết là thầy đã nhận được bài của tôi chưa ấy, nên cuối cùng cũng mạo muội hỏi thầy ơi thầy nhận được bài của em chưa ạ. Anh thầy trả lời lạnh lùng, tôi nhận được rồi nhưng vì em nộp muộn nên giờ tôi chưa thể chấm bài cho em ngay được. Tôi im thin thít không dám nói năng gì nữa, rồi ngày nào cũng hồi hộp lo lắng.

Vài tuần sau, đúng sáng ngày đầu năm mới, tôi nhận được kết quả chấm bài và điểm cả kỳ cùng với nhận xét của anh thầy giáo: bài paper của em gần như chính xác là những gì mà tôi trông đợi ở lớp học này blah blah blah… Đọc xong câu ấy chân tôi không còn chạm đất nữa nên không còn biết đoạn sau anh thầy viết gì. Cuộc đời này sao mà lại khó lường đến thế!

Mặc dù đến giờ tôi cũng đã quên gần hết những gì đã học được từ lớp học ấy, nhưng nó vẫn là lớp học mà tôi cảm thấy đã học được nhiều nhất. Cũng là lớp học khốn khổ nhất mà tôi đã từng đi qua, kể cả không có cái tuần kinh khủng vì bài paper ấy, vì anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi của tôi tôn thờ chân lý “không đau khổ thì chả nên cơm cháo gì” (aka no pain no gain). Đôi lúc nhìn lại, tôi vẫn tự hỏi, nếu không phải là anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi đứng lớp mà là một ông giáo già mặt khó đăm đăm thì liệu tôi có đủ động lực để vượt qua cái bài paper kỳ ảo ấy không. Chắc là không :D.