Category Archives: Chuyện đời thường

Nào thì nói chuyện “ế ẩm”

Hồi đầu tháng tôi đi ăn một đám cỗ cưới ở quê. Không phải quê tôi, mà ý muốn nói là ở một chốn không phải thị thành. Như thông lệ thì đàn ông hai họ uống rượu làm quen khề khà ầm ĩ, còn đám đàn bà con gái bên nhà tôi là khách nên không phải lo phục vụ bữa cỗ, tha hồ tập trung chuyên môn là ăn. Tàn cỗ, các ông thì lảo đảo, vài ông thì bắt đầu hát, đám đàn bà con gái nước chè chuyện phiếm chán thì kéo nhau đi chơi loanh quanh vì vẫn còn một ít thủ tục cần làm sau bữa cỗ, chưa về ngay được. Thiếu vắng mấy đứa em út nên chả có ai chơi cùng, tôi ngồi một chỗ nghịch điện thoại, và như thường lệ thỉnh thoảng vẫn đảo mắt quan sát tất tần tật mọi thứ xung quanh :D.

Một ông chú bên họ nhà gái đã say ngất ngất, ngồi phịch xuống bàn chỗ tôi ngồi, bắt đầu bắt chuyện với tôi. Ông hỏi: “Không biết là chị đã được mấy cháu rồi?” Chưa kịp nói gì thì ông cậu ruột tôi ngồi bên cạnh, cũng đã ngất ngất, cười bảo: “Nó được hai đứa rồi.” Thế là tôi nảy ra một trò vui, tôi trả lời:

– Cháu được một đứa thôi ạ.

– Trai hay gái?

– Trai ạ.

– Mấy tuổi rồi?

– Ba tuổi ạ.

Dĩ nhiên là tôi đang nói đến con mèo ở nhà. Nhưng ông này vẫn tiếp tục hỏi:

– Thế anh chị hiện giờ đang công tác ở đâu?

Ôi giời ạ, tôi thật không muốn tiếp tục cái trò này nữa. Nghĩ vậy, tôi bảo:

– Nãy giờ cháu đùa thôi. Cháu đã lấy chồng đâu.

– Hả? Thế chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

– Cháu gần bốn mươi rồi.

– Ôi thế làm sao mà lại chưa lấy chồng! Sao chị kén thế?

– Vâng, phải kén chứ ạ.

Rồi tôi kiếm cớ lượn, mặc kệ ông chú bên họ nhà gái vẫn mắt chữ O mồm chữ A, chắc đang băn khoăn không biết là có phải tôi tiếp tục bịa chuyện trêu chọc ổng nữa không. Mấy bà ngồi bàn bên cạnh cùng đoàn nhà giai, tuy không phải họ hàng với tôi nhưng cũng biết tỏng tôi là đứa nào đấy, nãy giờ ngồi nghe toàn bộ cuộc hội thoại thì bò lăn ra cười. Một bà hỏi tôi, sao mày bịa chuyện giỏi thế. Tôi trả lời, có mỗi một chuyện mà ai cũng hỏi, nói mãi một chuyện cháu cũng phát chán đi được.

Quả thực, vài năm gần đây tôi thường xuyên phải đối diện với đủ các thể loại hỏi han rồi khuyên nhủ rồi dạy bảo rằng thì là mà là sao chưa chịu lấy chồng rồi phải lấy chồng đi. Đa phần là từ những người có tuổi, nhưng đồng lứa tuổi cũng có một ít, và tôi thấy đáng kinh ngạc nhất là có một đứa nhóc tầm chín ích đời cuối đã thỏ thẻ hỏi tôi, sao chị chưa đi lấy chồng. Chả nhẽ tôi lại bảo nó là khi nào em lớn hơn tí nữa em sẽ hiểu thời buổi này làm ăn khó khăn như thế nào :D.

Dĩ nhiên không phải lúc nào tôi cũng vui vẻ mà bịa đặt ra những câu trả lời như kể chuyện ở trên. Có lúc nổi cáu, có lúc cười trừ, có lúc chả nói gì, có lúc bảo đang há miệng chờ sung, có lúc bảo vâng sắp rồi, có lúc lại bảo lấy chồng làm gì cho mệt xác. Tóm lại là rất tùy hứng, tùy tâm trạng, và tùy hoàn cảnh. Chắc vài bữa nữa là đủ tư liệu viết cẩm nang hướng dẫn trả lời những câu hỏi kiểu đó.

Nói chung câu chuyện độc thân hay kết hôn vừa là câu chuyện cá nhân vừa là câu chuyện xã hội. Là câu chuyện cá nhân thì đơn giản là không thân thì đừng có hỏi. Hay nói đúng hơn, lần sau trước khi đặt ra câu hỏi trăng sao ấy cho người khác, hãy tự hỏi chính mình xem mình trông đợi người ta sẽ trả lời mình như thế nào. Sẽ kể về một chứng bệnh có tên là sợ yêu đương sợ kết hôn? Hay là kể về chuyện tình trường trắc trở? Nghĩ một tí đi sẽ thấy câu hỏi của mình vô duyên vô nghĩa vô cùng.

Là câu chuyện xã hội thì ai thích thì tự đi kiếm các nghiên cứu xã hội học hoặc tâm lý học mà đọc. Làm ơn đừng có viết những bài chỉ dựa vào những suy diễn nhảm nhí và/hoặc một số quan sát/câu chuyện cá nhân ít ỏi.

Để kết lại bài này, mình lại kể một câu chuyện vui, mà hồi lâu lâu rồi nghe ai đó kể chẳng nhớ nữa. Chuyện là có một bạn Việt Nam nói chuyện với một bạn Canada rằng thì là mà hiện giờ ở Việt Nam đang bị mất cân bằng giới tính, số trẻ em trai với số trẻ em gái lệch nhau sao sao đó. Bạn Canada nghe xong bảo, chúng mày băn khoăn chuyện ấy làm gì, đằng nào thì sau này lớn lên chúng nó cũng có lấy nhau đâu :D.

Những niềm vui học hành

Những quãng đời đi học của tôi vui nhiều hơn buồn. Trừ trên giảng đường đại học là buồn nhiều hơn vui. Nhưng kể cả trong những năm đó thì cuộc đời tôi vẫn được cứu rỗi bởi môn tiếng Pháp.

Trong mười hai năm phổ thông, có hai môn học mà tôi tuyệt đối yêu thích, đó là Toán và Tiếng Anh. Với hai môn này chưa bao giờ tôi có cảm giác là mình phải học, cũng chưa bao giờ tôi phải băn khoăn về chuyện điểm số. Nói đơn giản là cứ học là vui rồi.

Nhưng tôi lại không có duyên với mấy lớp chuyên toán. Năm lớp 4 đã đứng trước một cơ hội “lịch sử” là vô một lớp chuyên toán, nhưng không có người đưa đi học mà cũng không được cho đi xe đạp một mình, nên là mất cơ hội lịch sử dù đã thi đậu. Mãi tới năm lớp 8 cuộc đời mới lại xô đẩy tôi vô một lớp chuyên toán khác. Của đáng tội, học được một năm thì nhà nước bãi bỏ chế độ trường chuyên lớp chọn. Dĩ nhiên là năm lớp 9 trường tôi vẫn, coi như là lén lút, dạy cho học sinh theo chương trình chuyên, vì khi ấy chương trình phổ thông hết cấp bình thường chúng tôi đã nuốt hết rồi, hổng lẽ bắt chúng tôi học lại những thứ với chúng tôi là dễ vô cùng ấy. Hai năm đó việc học toán đúng là như ở thiên đường. Vào cấp ba tôi thi vô trường chuyên trượt, lại về học trường làng.

Ngoài hai môn yêu thích tuyệt đối đó thì nói thật, hầu như môn nào tôi cũng thích hết, chắc chỉ trừ có môn thể dục với môn giáo dục con dâu là không thích tí nào. Nghĩ lại cũng buồn cười, chả hiểu học mấy môn Lịch sử, Địa lý ngày ấy tôi thích ở điểm nào khi mà rời trường cấp ba mới là lúc tôi thực sự tự học lại từ đầu các kiến thức lịch sử, địa lý cần thiết, bởi trước đó chủ yếu toàn học vẹt những cái lăng nhăng. Ký ức về hai môn này ở nhà trường thực ra chỉ còn lại mấy cái bản đồ. Với môn Địa lý thì rõ rồi, còn với môn Lịch sử tôi cũng thích những bài tập về nhà là vẽ lại một cái bản đồ đơn giản để nhìn vô đó mà kể chuyện quân ta quân địch oánh nhau như nào.

Nhắc tới vẽ, tổng kết lại mười hai năm phổ thông thực ra chỉ có một môn có thể làm tôi thức thâu đêm làm bài tập mà lại còn thấy khoái chí, ấy là môn vẽ kỹ thuật. Là vẽ hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh, hình chiếu bằng gì đó của mấy cái chi tiết máy móc ấy. Thiệt ra tôi chẳng hiểu bậc phổ thông học cái môn ấy làm chi, chắc định trang bị cho mọi công dân trẻ một nền tảng để sau này sẵn lòng xây dựng một nhà nước công nghiệp hóa. Kết quả thì ai cũng biết rồi, đến cái ốc vít “đạt chuẩn” cũng làm không xong lol. (Hình như ngày ấy còn phải học môn kỹ thuật nông nghiệp nữa, nhưng nếu tôi không nhầm thì chúng tôi cũng không phải học mấy vì bản thân các thầy cô giáo cũng ngán ngẩm nên thầy trò cùng nhau dạy và học cho xong chuyện.) Dù sao thì với tôi môn kỹ thuật công nghiệp ấy cũng như một thú giải trí vui vẻ.

Nhắc tới máy móc lại muốn nói quàng sang môn Vật lý. Thiệt tình tôi mê môn Vật lý chỉ sau có hai môn Toán với Tiếng Anh mà thôi. Cơ học, quang học, nhiệt học, năng lượng nguyên tử, vân vân, phần nào tôi cũng mê hết á. Nhưng rồi mọi thứ cũng chỉ dừng ở mức lấy việc giải bài tập vật lý làm nguồn vui, ôn thi đại học đỡ bị xì trét, chứ tôi cũng chẳng đi tới đâu nữa hay có kỷ niệm gì đặc biệt với môn này cả.

Nhắc tới vui thú học hành, thiệt không thể không nhắc tới các lớp học thêm. Trái với câu chuyện về mặt trái của việc dạy thêm học thêm trên mặt báo, tôi rất thích các lớp học thêm. Đơn giản là vì ở đó tôi… được học thêm. Tôi ngày ấy vốn là loại trẻ con ham học hơn ham chơi, nên thành thực mà nói học trên lớp là không đủ. Tôi bắt đầu đi học thêm từ rất sớm, ngay những năm cấp một luôn. Cũng một phần là vì năm nào cũng phải thi vào lớp chọn, nhưng tôi nghĩ phần nhiều hơn là vì mẹ tôi vốn cũng là người ham học nên rất thích con cái học cho nhiều, nên những ngày ấy mẹ tôi rất xăng xái đi tìm các lớp dạy thêm có tiếng của các thầy giáo giỏi rồi xin cho tôi vô học.

Ở mấy lớp đó tôi được học sâu hơn và nhiều hơn những gì được dạy trên lớp chính quy. Các thầy dạy có lẽ chủ yếu cũng vì mục đích mở mang thêm kiến thức cho học sinh chứ không phải là kiểu trò nhắm học thầy đó để thi vô trường chuyên lớp chọn mà thầy đó dạy hay để làm được bài kiểm tra trên lớp. Tôi nghĩ là ở mấy lớp đó các thầy được dạy thoải mái hơn, không bị ép theo chương trình khung nào, mà bọn học trò như tôi học cũng thấy khoái chí hơn. Dĩ nhiên hẳn là có những bạn bị bố mẹ bắt ngồi vô các lớp đó mà có khi không theo kịp mấy đứa nhanh nhẹn trong lớp thì hẳn câu chuyện học thêm của các bạn ấy đã là một câu chuyện khác, không vui vẻ như câu chuyện của tôi.

Sau này sang tới Mỹ dĩ nhiên tôi cũng có những niềm vui học hành, nhưng thành thực mà nói những niềm vui ấy không còn được tự do và đơn giản như thời niên thiếu cắp sách tới lớp nữa. Tôi cứ bị giằng co giữa “học tập vị học tập” hay “học tập vị nhân sinh”. Mấy đứa bạn học đã từng đi làm rồi trở lại trường để học cao học như tôi cũng cảm thấy cuộc sống của một sinh viên sau đại học rõ ràng cứ thiếu đi một cái gì đó. Nhưng bọn họ rất dứt khoát trong việc hoàn thành chương trình cao học rồi trở lại làm việc như một practitioner. Có bạn còn lựa chọn ngay từ đầu chỉ học coursework, không làm nghiên cứu. Tôi cứ như con cá vàng lửng lơ giữa hai dòng nước, chẳng chọn được dòng nào mà mặc cho dòng đời xô đẩy.

Ngoài ba mươi tuổi, tôi và những người bạn đồng trang lứa không ít người cảm thấy bế tắc và chán nản, nhiều người xác định giờ chỉ muốn “sống cho qua ngày”. Vài tuần trước ngồi nói chuyện với một người bạn trong đám ấy, bạn tiết lộ tuy nói là nói vậy nhưng bạn vẫn mong chừng một vài năm nữa, cuộc sống ổn định hơn, bạn sẽ đăng ký học một chương trình thạc sĩ liên kết tại đây. Bất chợt nhớ về một lần than thở với bạn khoảng hai năm trước, rằng học xong mà thấy cũng chẳng dùng được gì nhiều trong công việc. Bạn bảo, nhưng những gì mình học được thì sẽ mãi mãi là của mình.

Chuyện trợ giảng

Vài năm trước, tôi may mắn kiếm được một chân trợ giảng tại một trường đại học ở Mỹ, nơi tôi theo học cao học. Thời gian đầu tôi chưa được lên giảng ngay mà chỉ làm những việc như giải đáp thắc mắc cho sinh viên ngoài giờ học (cả thắc mắc liên quan đến môn học lẫn những việc khác liên quan tới lớp học, thi cử), giảng lại bài cho những sinh viên nghỉ học có nhu cầu được nghe giảng lại, ôn tập cho những sinh viên có nhu cầu được ôn tập trước những bài kiểm tra hay những kỳ thi, chấm điểm, nhập vào hệ thống các dữ liệu của lớp học, cơ bản là vậy. Và buổi nào có lớp thì theo chân giáo sư lên lớp nghe ông giảng và hỗ trợ vài việc vặt trong lớp. Trước mỗi bài kiểm tra, tôi hay ghé qua văn phòng giáo sư xem ông có cần giúp gì không, dù ông không bao giờ yêu cầu. Nói chung làm trợ giảng đúng là kiểu theo sư phụ để học nghề.

Rồi tôi bắt đầu được giao cho công việc thỉnh giảng. Đầu tiên là giảng một bài theo bài giảng sẵn của giáo sư, rồi tự mình chuẩn bị một bài giảng kiểu khách mời (tức là nói chuyện bên ngoài để minh họa cho một chủ đề trong chương trình), rồi được cho giảng một vài chủ đề khác nhau trong chương trình (được chọn phần mà mình thích). Vài lần đầu thì giáo sư ngồi dưới xem tôi giảng và góp ý, sau đó thì ông có thể đến có thể không. Nhưng kể cả ngay từ những lần đầu tiên cũng không có chuyện “duyệt trước” xem bài giảng thế nào. Giáo sư chỉ bảo là mày có thể dùng bài giảng đã soạn sẵn của tao hoặc tự soạn bài giảng, tùy, nếu muốn tao xem cho thì mang đến đây, cũng tùy nốt. Có khi tự do hơn làm giáo sư ở Việt Nam lol.

Vậy “buông lỏng quản lý” như vậy có phải là dễ dãi quá? Tôi thực tình cũng không dám nói chắc điều gì. Nhưng về cơ bản tôi thấy hệ thống của họ chủ yếu quản lý và đánh giá dựa vào kết quả chứ không can thiệp nhiều vào tiến trình, không có kiểu quản lý vi mô tủn mủn, nên chắc nhiều giáo sư cũng áp dụng tư duy quản lý ấy cho các trợ giảng của mình.

Dựa vào kết quả là thế nào? Cuối mỗi kỳ cả giáo sư lẫn trợ giảng đều bị/được sinh viên đánh giá. Cách làm hay phết. Một là việc đánh giá bao giờ cũng phải thực hiện trước bài kiểm tra cuối cùng, trước khi sinh viên có điểm số cuối cùng, để tránh tình trạng điểm kém thì quay ra đánh giá xấu người dạy. Hai là sau khi phát phiếu đánh giá cho sinh viên những người bị/được đánh giá không được có mặt trong lớp khi sinh viên điền vào phiếu ấy, để sinh viên được thoải mái khi cho ý kiến. Rồi một sinh viên sẽ tình nguyện gom tất cả phiếu đánh giá ấy cho vào một cái phong bì (dĩ nhiên giáo sư và trợ giảng phải chuẩn bị cái phong bì ấy) rồi mang trực tiếp tới văn phòng khoa. Tại đây, văn phòng sẽ cho người đánh máy lại các kết quả đánh giá này, trong đó thường gồm cả những lời nhận xét của sinh viên bên cạnh việc chấm điểm, để người bị đánh giá khỏi nhìn chữ mà biết sinh viên nào nhận xét gì.

Tôi chưa bao giờ gặp rắc rối với các kết quả đánh giá nên cũng không rõ nó có trở thành sức ép với những người khác không. Ví dụ có một giáo sư hay bị sinh viên đánh điểm thấp mà quả tình nhiều người chúng tôi không hiểu là tại làm sao. (Tôi có một buổi đi trợ giảng thay cho trợ giảng của lớp chị giáo sư ấy, và tôi thấy mọi thứ cơ bản ổn.) Dĩ nhiên, đánh giá kiểu này chỉ là một cách để nhà trường quản lý kết quả. Và những người quản lý hay những người “bị quản lý” đều hiểu những hạn chế của nó, ví dụ những giáo sư cho điểm thoáng thì dễ được nhiều sinh viên chấm cho điểm cao.

Về mặt tích cực của hệ thống đánh giá này, khỏi phải nói, là giúp cho người dạy biết được sinh viên nghĩ gì về việc giảng dạy của mình. Như trường tôi ngày ấy thì giáo viên được tự chế ra những mẫu phiếu đánh giá ấy, dựa vào việc họ muốn biết cụ thể phản hồi của sinh viên về những vấn đề gì. Từ giáo trình cho đến lượng bài tập cho đến bài kiểm tra cho đến việc giảng viên có nhiệt tình không. Rồi như mấy lớp tôi trợ giảng bao giờ chúng tôi cũng hỏi sinh viên một điểm mà họ thích ở người giáo sư/trợ giảng của lớp và một điểm mà họ nghĩ là người này cần cải thiện. Những ý kiến đánh giá kiểu như vậy giúp cho người dạy biết được mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu.

À dĩ nhiên bao giờ cũng có những nhận xét không liên quan lắm, kiểu như trợ giảng này hot thật (không phải tui nha) hay trợ giảng này cute ghê (là tui đó lol). Và dĩ nhiên nữa là kiểu gì cũng bị những lời nhận xét xấu. Như tôi đã từng bị một sinh viên chê là rude (thô lỗ) :”>. Giáo sư tôi bảo chắc tại tính tôi khá blunt, có đứa không thích. Còn đứa bạn làm cùng thì an ủi tôi là lần đầu nó làm trợ giảng còn bị một sinh viên viết nhận xét là sau này tôi sẽ không bao giờ học cái lớp nào có cô này làm trợ giảng nữa. Thật ra tôi chả bị dằn vặt gì bởi lời nhận xét ấy, nhưng sau thì cũng cố gắng thận trọng hơn mỗi lần lên lớp :P.

Nhìn chung là trợ giảng người nước ngoài, nhất là dân châu Á, có một hạn chế là ngôn ngữ. Các sinh viên nước ngoài muốn làm trợ giảng ở trường tôi (ngày ấy, và chắc giờ cũng vậy) được yêu cầu phải qua một bài kiểm tra nói tiếng Anh. Ai không qua sẽ được mời ngồi vô một hoặc hai lớp không chỉ dạy nói tiếng Mỹ cho chuẩn mà còn dạy cả văn hóa dạy học ở một lớp học ở Mỹ, rồi cuối cùng thi bằng cách giảng thử chứ không chỉ là kiểm tra âm ngữ nữa. Xét về một khía cạnh nào đó, rào cản này cũng tựa như những rào cản đối với người nhập cư như Tim Parks kể chuyện ở đây, hơi bất công ở chỗ bởi các trợ giảng người Mỹ chẳng bị kiểm tra tí gì về nghiệp vụ sư phạm hết. Có lẽ người ta cho rằng sinh viên Mỹ lớn lên ở môi trường giáo dục Mỹ là họ nghiễm nhiên biết cách dạy học kiểu Mỹ!?

Với sinh viên nước ngoài thì dĩ nhiên là có học có hơn, nhưng ngồi vô một lớp như vậy với nhiều người có nghĩa hợp đồng trợ giảng bị treo đó, kể cả khi giáo sư đã nhận, nghĩa là không có nguồn học bổng nào thì móc tiền túi (của mình hoặc của thầy u) ra trả tiền học và sinh hoạt phí (làm trợ giảng thì được miễn tiền học, ngoài ra được trả lương). Chưa kể là ngồi vô lớp đó thì hiển nhiên quỹ thời gian dành cho các lớp chuyên ngành, công việc nghiên cứu, rồi giao lưu hò hẹn bên ngoài bị nhỏ đi, nên nhìn chung ai cũng hậm hực ít nhiều, nhất là những đứa không chịu tin là tiếng Anh nói của mình có vấn đề (như tôi chẳng hạn :D).

Tôi trượt bài thi nói hai lần lận, bị mất điểm chủ yếu bởi phần phát âm (pronunciation) rất đậm đà bản sắc dân tộc, ví dụ như hay nuốt âm, nhất là cái chữ “r” trong các từ đó. Kiểu phát âm “perfect” thành pơ-phếch ấy (purrrr-phếch-t nha bà con lol). Rồi, trượt hai lần lận cùng với việc đã nghe theo lời xúi bẩy của đám bạn Tây vác xác lên khoa tiếng Anh đề nghị các thầy cô giải thích cụ thể lý do trượt, tôi rốt cục cũng chấp nhận một thực tế cay đắng là tiếng Anh của mình có vấn đề thật, nên cũng vác xác ngồi vô lớp nói tiếng Anh dành cho đám trợ giảng-to-be. (Trong khi thật ra vẫn làm trợ giảng bởi khoa tôi không có khắt khe quá nên cũng mắt nhắm mắt mở cho tôi đi làm.) Có điều, như đã nói ở trên, lớp học được thiết kế cho đám trợ giảng-to-be này thực ra tập trung nhiều hơn vào việc truyền bá văn hóa dạy học của Mỹ chứ không phải để khắc phục nguyên nhân mà đám này đã trượt bài thi nói tiếng Mỹ. Thực tế là tôi đã phải cày theo bác này để sửa cho hết những lỗi đậm đà bản sắc dân tộc mà mình đã mắc phải (theo một phần mềm đầy đủ, dĩ nhiên được dân Việt lén lút chia sẻ với nhau).

Giờ nói chuyện có học có hơn, ấy là học cách dạy học kiểu Mỹ. Nôm na là phải học cách tương tác với sinh viên ở trên lớp. Học những thứ rất cụ thể, như là vô lớp thì tự giới thiệu như thế nào (chào mừng các bạn đến với lớp X., tên, không cần tuổi, thời gian và địa điểm có thể tiếp sinh viên ngoài giờ học, phương thức để sinh viên liên lạc, đại khái vậy), giới thiệu về chương trình học và các chính sách, nội quy của lớp học ra sao, rồi khi giảng thì phải đặt câu hỏi cho sinh viên, rồi dĩ nhiên sinh viên hỏi thì phải trả lời, trả lời xong thì phải hỏi lại sinh viên là trả lời thế họ có hiểu không, rồi không trả lời được thì phải làm sao, rồi hết giờ mà sinh viên vẫn còn câu hỏi hay chưa giảng hết bài thì phải nói với sinh viên như thế nào. Tóm lại là lúc nào cũng phải đối thoại với sinh viên. Và rất phải tôn trọng cái chuyện hết giờ, chuông reo là phải tha cho sinh viên liền, thường là không cố dạy nốt cái gì cả, vì đôi khi sinh viên họ phải chạy sô qua lớp khác ở đầu kia của campus chẳng hạn. Nói chung là toàn thứ bổ ích cả.

Tôi cho là văn hóa dạy và học trên lớp học ở Mỹ, theo những gì tôi biết, thể hiện một thứ văn hóa dân chủ. Dân chủ không có nghĩa là không có thứ bậc, học trò trèo lên cổ thẩy cô giáo, mà nó là minh bạch và đối thoại, không sử dụng quyền lực để “giữ trật tự”. Thực ra thì trong lớp học bao giờ giáo viên cũng là người có quyền lực hơn, vì người giáo viên được quyền thiết kế luật chơi và học sinh buộc phải theo. Nhưng giữa giáo viên với học sinh đôi khi sẽ nảy sinh những bất đồng ý kiến. Nghĩa là có những thứ giáo viên làm hay giáo viên đưa ra có những học trò không phục. Thường gặp nhất là chuyện đề bài thi và chuyện chấm điểm, vì nó ảnh hưởng tới quyền lợi sát sườn của học sinh.

Nguyên tắc và lý thuyết là vậy, nhưng để làm được cần có thực hành và trải nghiệm. Một lần, tôi ra đề thi, điểm của đám sinh viên tụt hẳn xuống so với bình thường. Xem lại bài của sinh viên để xem những câu nào các bạn làm sai nhiều nhất, tôi cảm thấy những câu đó có vẻ như hơi lắt léo so với các câu hỏi thường gặp kiểu Mỹ. Nghĩ cũng áy náy, tôi quyết định nâng điểm cho cả lớp. Khi trả bài, tôi thông báo câu chuyện với đám sinh viên như vậy, chấm hết. Nghĩa là tự làm, tự kiểm điểm, rồi tự sửa sai. Ấy vậy mà đám sinh viên vẫn tỏ vẻ không phục, có bạn còn nhất định đòi gặp riêng tôi để “trình bày hoàn cảnh” và đòi nâng điểm nữa, lằng nhằng tới tận cuối học kỳ.

Thật ra chuyện ra đề rồi chấm điểm không thỏa đáng giảng viên nào cũng có thể mắc phải. Khác nhau là ở chỗ xử lý vấn đề thôi. Sau này tôi được chứng kiến hai bạn cùng làm cũng bị chuyện như vậy, có điều họ xử lý khác tôi (và giống nhau). Đó là họ trao đổi với sinh viên trên lớp, cho sinh viên trình bày hết những câu hỏi nào sinh viên cảm thấy không phục, rồi họ giải thích cho sinh viên tại sao họ đặt câu hỏi như vậy, và cuối cùng sau “phiên chất vấn” họ ra quyết định ngay trên lớp rằng sẽ tính lại điểm và không tính lại điểm cho những câu nào. Câu chuyện chấm dứt ở đó, không có sinh viên nào đòi gặp riêng và mặc cả riêng hết. Sau những chuyện như vậy, tôi rất thấm thía rằng từ dân chủ giáo điều tới dân chủ thực tế là cả một quãng đường, nếu không đi thì sẽ không thể tới được.

Giờ thì tôi chẳng làm trợ giảng, cũng chẳng giảng dạy gì. Nhưng những trải nghiệm ngày trước với công việc dạy học giúp tôi hiểu nhiều hơn về nghề giáo, một nghề thực ra đã là mơ ước nghề nghiệp đầu tiên trong cuộc đời tôi, mà vì nhiều lý do khác nhau, tôi đã luôn quay lưng lại với nó. Một trong những lý do ấy là tôi luôn cảm thấy tôi là một kẻ thất bại và tôi không muốn đứng trước đám học trò và nói với họ rằng học cái này đi, học cái kia đi, trong khi tôi đã học tất cả những thứ đó và rốt cục hầu như chẳng làm được gì đáng kể. Dĩ nhiên đó chỉ là kiểu suy nghĩ cực đoan và một dạng vấn đề tâm lý cá nhân, còn người giáo viên không phải là người cần phải chỉ ra cho học sinh là họ học xong thì ra đời làm gì. Nói rộng ra thì không ai nên đóng cái vai chỉ bảo ấy cả, vì cuộc đời của mỗi người cơ bản là do người ấy lựa chọn và quyết định làm gì và làm như thế nào.

Người giáo viên chỉ đơn giản là người truyền đạt lại một số kiến thức, giới thiệu một vài phương pháp tư duy và tự học để người học sau này biết cách tự tìm hiểu, tự nghiên cứu khi cần. Dĩ nhiên ngoài khía cạnh kỹ thuật ấy của nghề giáo thì người giáo viên có thể trở thành những người truyền cảm hứng cho người học hay làm được nhiều điều vĩ đại khác, thật ra giống như bất cứ một nghề nào khác trong xã hội.

Còn nói đơn giản như người giáo sư mà tôi đã may mắn được theo trợ giảng cho ông, hãy cho học trò một trải nghiệm tốt.

“Cứu một mạng người như thế nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ blog takingthemaskoff.

Tôi tỉnh dậy. Mọi thứ cứ lờ mờ. Tôi đang ở trong một căn phòng với một đám máy móc đã tắt. Có một cái rèm. Nó màu xanh. Có mọi người đang nói chuyện. Tôi có thể nhìn thấy họ nói chuyện. Tôi nhìn sang phải. Thấy mẹ. Bà đang khóc. Không chỉ là khóc mà là đang nức nở. Có nhiều người mặc áo màu xanh. Họ đang nói chuyện. Chẳng có ai nói chuyện với tôi.

Một lúc sau thì tôi ngồi dậy. Giờ thì tôi nhớ rồi. Tôi phải chết. Sao tôi lại ở đây nhỉ? Tôi chết rồi phải không? Đây có phải thật không vậy?

Tôi còn sống. Đêm trước tôi đã cố tự sát bằng việc uống tất cả các loại thuốc tìm thấy trong nhà; ngày hôm sau tôi bị bắt uống than hoạt tính và đã nôn trong nhiều giờ liền.

Nhưng tại sao các bác sĩ lại ở hết trong phòng tôi vào lúc nửa đêm thế này?

Tôi sau đó được biết là mình bị nghẽn nhĩ-thất độ 3 vào giữa đêm.

Nghẽn nhĩ-thất độ 3 ngăn không cho tim đẩy máu đến các cơ quan trong cơ thể. Dạng nghẽn nhĩ-thất này có thể gây ra mệt mỏi, chóng mặt, và ngất xỉu. Nghẽn nhĩ-thất độ 3 cần phải có can thiệp tức thì bởi nó có thể gây tử vong.

Tôi mười bảy tuổi. Tôi đang nhớ lại và tôi tức giận vì mình vẫn còn sống. Tôi hét lên với mẹ, vì đó là việc tôi vẫn làm. Bà chỉ biết yêu; nhận lấy tất cả sự giận dữ và cơn đau của tôi và tôi vẫn coi bà như một chỗ xả giận. Cuộc đời bà xưa giờ vẫn thế, và bây giờ nó lại tiếp tục như thế. Bởi vậy tôi đã hét lên, “Mẹ đi ra khỏi đây đi!!”

Bà lại khóc nhiều hơn nữa, và nhận lấy cơn giận dữ, như mọi khi. Bà luôn đổi lại bằng một tình yêu.

Tôi lại ngất đi lần nữa.

Tôi tỉnh dậy vào ngày kế tiếp. Có một gã đi vào. Gã mặc áo màu xanh. Tóc gã màu nâu, dài bình thường, và gã để râu. Tôi nhìn theo gã và tự nghĩ, “Đừng có mà nói gì không là tôi đấm cho đấy.”

“Xin chào, anh là Tom. Anh sẽ là y tá làm việc với em ngày hôm nay.”

Vậy đó, tôi phải nện gã này thôi. Tôi chẳng nói lời nào.

“Anh sẽ ở đây nếu em cần gì nhé. Anh có một cái thực đơn ở đây nếu em muốn gọi đồ ăn.”

Tôi sẽ không ăn gì cả; tôi ném cái thực đơn đi.

Thức ăn được mang đến hàng ngày và tôi không ăn. Tôi đã nghĩ là do tôi tức giận, nhưng giờ tôi biết là không phải.

Ngày nào gã kia cũng nói, “Xin chào, em có khỏe không? Anh có thể giúp gì được không?” Anh ta làm việc của anh ta và tôi mặc kệ. Mẹ tôi vẫn ở bên tôi hàng ngày và tôi vẫn luôn gây chuyện. Tom không phán xét gì chuyện tôi la hét với mẹ. Anh không nói nửa lời về chuyện đó. Anh nói chuyện với mẹ tôi vì bà cũng là y tá và bà có hỏi anh một số câu hỏi. Tôi chẳng quan tâm. Tôi chỉ muốn cho cả hai người ăn đấm.

Tôi vẫn hét lên với mẹ, nhưng quả tình tôi chẳng muốn bà rời khỏi căn phòng. Mẹ chẳng bao giờ bỏ đi. Đó là cách của bà. Một thứ tình cảm mà không ai khác, không ở đâu có, và nó được dành cho tôi. Tôi có thể có những giai đoạn khó khăn, nhưng tôi có điều đó. Tôi có mẹ. Tôi có thứ tình yêu mà ai cũng nên có. Nó là điều giúp tôi vượt qua được mọi chuyện. Tôi sẽ không đổi nó lấy thứ gì khác.

Từ bữa đó tới nay là bốn ngày. Mẹ mang cho tôi một chiếc áo nỉ. Áo của đội Minnesota Twins, đội mà tôi thích. Tôi yêu bóng chày và tôi yêu cái áo nỉ đó. Mẹ tôi biết điều này. Tôi đã định bảo mẹ mang cho tôi cái áo đó, nhưng nó đã ở đây rồi. Mỗi khi tôi đưa mắt nhìn, tôi lại thấy mẹ. Mẹ khóc, nhưng mẹ ở đó.

Tôi mặc chiếc áo đó vào. Gã Tom này lại đi vào. Anh ta cũng sẽ chẳng đi đâu. Tôi đoán đó là công việc của anh ta. Nhưng nó cũng là công việc của nhiều người khác nữa. Nhưng họ chẳng ngu ngốc tới mức ngày nào cũng hỏi tôi xem tôi thấy thế nào. Sự giận dữ của tôi đẩy họ ra xa như là tôi mong muốn. Chỉ có gã Tom ngu ngốc này là dường như không hiểu điều đó.

“Ồ em thích bóng chày à? Anh cũng thích. Đội Twins này cũng là đội mà anh thích đấy. Thế em bảo năm 1991 với năm 1987 thì năm nào họ chơi hay hơn?” (Đó là hai năm họ vô địch giải World Series.) Khi đó tôi 11 và 15 tuổi và đó là những khoảnh khắc tôi luôn luôn ghi nhớ.

Tôi nói. Tôi không thể bỏ qua được. “Ừa em thích bóng chày. Em nghĩ là năm 1991 họ chơi hay hơn.”

Tom bắt đầu nói chuyện với tôi về bóng chày, mọi thứ về môn thể thao này. Tôi bắt đầu trả lời bằng một từ, rồi hai ba từ. Rồi thì bằng cả câu.

Sau đó Tom nói, “Anh biết là em chẳng ăn gì mấy, và mẹ em bảo em là người khó ăn. Em có nghĩ là anh có thể cho em gọi món đặc biệt không? Anh biết là bác sĩ bảo em chưa thể ăn burger được, nhưng anh nghĩ là anh sẽ kiếm được cho em nếu em chịu ăn.”

“OK,” là câu trả lời của tôi.

Tôi ăn cái burger đó.

Ngày hôm sau. Tôi đã chờ Tom tới. Một chị nào đó khác đi vào phòng. Tôi cứ nghĩ, “Cái gã ngốc vẫn hay nói chuyện với mình đâu rồi? Quái quỷ thật. Ngu ngốc thật. Cái gã vớ vẩn ấy đâu rồi nhỉ?”

Tôi hỏi mẹ, “Tom đâu rồi?”

Anh ta nghỉ phép.

“Sao cũng được, anh ta cũng chỉ là một tên ngốc mà thôi,” tôi nói.

Sau hai ngày nghỉ phép thì Tom trở lại. Tôi không muốn thừa nhận, nhưng tôi đã rất vui khi thấy anh ấy và tôi đã mong anh ấy trở lại.

“Này, em đã bắt đầu cảm thấy khá hơn thì có vẻ như là bọn anh có thể tháo bớt một số máy móc ra khỏi người em được rồi đấy.”

Tôi đang ăn và Tom giúp tôi điền vào thực đơn và giúp tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Bác sĩ tâm lý (psychiatrist) của bệnh viện tới và tôi từ chối nói chuyện. Sau đó thì Tom bước vào.

“Anh nghe nói là em không chịu nói chuyện với bác sĩ. Việc đó là rất quan trọng để các bác sĩ biết là họ có thể làm gì để giúp em.”

Tôi đã học được cách tin tưởng gã ngốc này. Tôi nghĩ là anh ấy hiểu tôi. Anh ấy ở phe tôi. Anh ấy kiếm cho tôi một cái burger, anh ấy thích bóng chày, anh thấy thực sự để ý đến tôi và việc tôi thích gì. Anh ấy dành thời gian và quan tâm tới tôi. TỚI TÔI. Anh ấy dường như thực sự quan tâm tới tôi cho dù tôi có coi anh ấy như một gã ngốc vớ vẩn. Anh ấy ở phe tôi. Bởi vậy tôi đồng ý nói chuyện với bác sĩ.

Sau đó tôi được biết là họ muốn chuyển tôi tới tầng điều trị tâm lý trong bệnh viện. Không đời nào tôi nghe theo. Tôi sẽ phải dậy và rời đi á? Không không không không không.

Sau đó Tom lại tới nói chuyện với tôi. “Anh cần phải nói chuyện với em về việc này. Em biết đấy, nếu em không tự nguyện đi họ có thể buộc em phải đi mà em chẳng làm gì được. Em có thể bị ở lại đây lâu hơn theo cách đó. Em đã bảo là em ghét ở nhà mà. Em hãy nghĩ là mình đang đi nghỉ đi. Em cứ đi nói chuyện với mọi người, chơi các trò chơi. Họ có bàn bóng bàn đấy, em bảo là em thích chơi bóng bàn mà.”

Tom biết là tôi thích chơi bóng bàn và chẳng ai khác biết cả vì nào có ai hỏi. Chả có ai khác để ý tới cái áo tôi mặc, nói chuyện về bóng chày, hay là biết tôi thích ăn hamburger. Chẳng có ai khác vi phạm quy định của bệnh viện và kiếm cho tôi một cái burger. Chẳng có ai khác nói chuyện với tôi như một con người. Vì vậy, nếu anh ấy bảo chuyển đi là ok thì tôi tin. Tôi nói, “Ok em sẽ đi.”

Anh nói, “Tuyệt, anh sẽ đi lên đó với em. Nhưng trước tiên anh có một điều bất ngờ.”

Rồi Tony Oliva, một ngôi sao đã nghỉ hưu của đội Twins (người mà đã thiếu đúng một phiếu để được vào ngôi nhà danh vọng vào năm 2014), bước vào với một cây gậy bóng chày từ giải world series. Ông nói chuyện về bóng chày với tôi và Tom cả tiếng đồng hồ. Ông ký tên lên chiếc gậy rồi tặng nó cho tôi.

Tom bắt gặp ông đi thăm ai đó trong bệnh viện và đã tiếp cận và làm phiền ông nhiều lần cho tới khi ông đồng ý tới gặp tôi. Tom đã làm việc này vào các giờ nghỉ và ngày nghỉ.

Tôi, một fan cuồng 17 tuổi của đội Twins, cứ ngỡ như mình ở thiên đường. Bóng chày là môn thể thao mà tôi ưa thích. Đó là một điều tuyệt chưa từng có. Tôi đã cười. Mẹ tôi bảo, “Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy thằng bé cười trong suốt nhiều tháng,” rồi lại khóc nức nở. Cứ như là mẹ tôi biết là kể từ thời điểm ấy tôi sẽ ổn.

Tôi đi cùng với Tom lên khu vực điều trị tâm lý cho người thành niên. Tôi cầm theo chiếc gậy trong tay mình. Khi tôi mở những cánh cửa đó ra cuộc sống mới của tôi bắt đầu. Nó không phải một sự kết thúc, mà là một sự khởi đầu cho tôi.

Tôi đã có một ý tưởng đúng. Tôi cần phải giết chết chính mình, nhưng không phải theo nghĩa đen. Tôi cần phải giết chết cái tôi giả (false self) của mình. Đó là cách mà bạn hàn gắn.

Tôi đã bước qua những cánh cửa đó. Những cánh cửa đã mở ra và đó là bắt đầu của một hành trình dài đầy đau khổ. Đó là sự mở ra cho một sự khởi đầu mới. Tom giống như một người chăn cừu. Tôi chính là chú cừu đi lạc.

Tôi đã không tài nào có thể bước qua được những cánh cửa đó nếu không có Tom.

Tất cả bắt đầu bằng việc anh ấy xuất hiện và nói xin chào. Anh ấy để ý mọi thứ, gây dựng mối quan hệ, làm nhiều hơn những gì cần làm, và không phải lúc nào cũng đi theo các nguyên tắc. Anh ấy đã có vợ và con cái và một cuộc sống riêng nhưng ở trong bệnh viện đó anh ấy dành ưu tiên cho tôi. Thời gian mà tôi ở trong căn phòng đó, có anh ấy, có những lúc tôi đã là thứ quan trọng nhất trên đời. Khi anh ấy rời khỏi đó, tôi chắc là anh vẫn sống cuộc sống bình thường của mình. Nhưng khi anh ấy ở đó với tôi, anh ấy chỉ hoàn toàn tập trung vào tôi. Anh ấy không bị xao lãng bởi những điều khác. Anh ấy đã hoàn toàn ở đó với tôi. Trước đó anh ấy chỉ đơn giản là ở đó. Nói xin chào.

Tôi nghe mọi người nói là Tony Oliva đã khiến tôi chịu chuyển lên đó, rằng ông ấy đã cứu sống tôi. Tuy rằng điều đó thật tuyệt, và ngày hôm đó thật đáng nhớ, nhưng sự thật là Tom đã giúp tôi lên đó. Anh ấy là người đã cứu sống tôi. Những chuyện xảy ra sau những cánh cửa đó lại là một câu chuyện khác để kể vào một hôm khác.

Bạn thường nghĩ là bạn cứu sống một người theo cách bạn thấy trên TV thế này:

Ai đó đang bị kẹt trong một đám cháy tại một tòa nhà cao tầng. Người lính cứu hỏa lao vào để cứu anh ta. Người lính cứu hỏa có đủ mọi trang bị cần thiết và đã được đào tạo cẩn thận. Anh ta đã sẵn sàng với nhiệm vụ này và đưa được người kia ra khỏi tòa nhà.

Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như thế. Đôi khi người ta bị cháy và chết dần ở trong lòng. Chúng ta chẳng làm gì cả. Chúng ta để cho họ cháy. Tất cả chúng ta đều thế. Chúng ta quá bận rộn với cuộc sống của chính mình.

Bạn không cứu một mạng người bằng cách lao vào một tòa nhà đang cháy. Bạn cứu một mạng người bằng cách nói xin chào.

Hy vọng tất cả các bạn đều là Tom của một ai đó hôm nay.

“Một con mèo đã làm bạn trai tôi bớt trầm cảm như nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc tiếng Anh của Hannah Louis Poston đăng trên The New York Times ngày 13/08/2015. Đọc như truyện ngắn lol.

Khi bệnh trầm cảm của bạn trai tôi Joe (nguyên văn là partner – ND) trở nên tệ nhất, anh ấy tỉnh dậy vào buổi sáng chìm đắm trong trạng thái lơ mơ dễ nhận thấy tới mức đôi khi tôi cũng choàng tỉnh theo, như thể là tôi ngửi thấy mùi gì cháy.

Trong suốt những năm đầu bên nhau, tôi thường ước là buổi sáng anh ấy sẽ quay sang nói “Chào buổi sáng!” một cách vui vẻ và hôn tôi thay vì trượt ra khỏi giường một cách trống rỗng, như một cái xác chết di động, đi kiếm cà phê.

Tôi cuối cùng cũng hiểu rằng nằm một mình trên giường và mơ tưởng về một Joe không trầm cảm là một ý tưởng tệ hại. Nó làm tôi trở nên cáu bẳn, và rồi cả hai chúng tôi đều có một ngày tệ hại.

Bởi vậy, thay vào đó tôi mặc áo choàng ngủ vào và xỏ chân vào đôi ủng cao su, trong tâm trạng vui vẻ hết mức có thể, rồi đi lấy đám trứng xanh xinh đẹp từ bọn gà Aracuna của bạn cùng nhà của chúng tôi.

Khi tôi tới, sàn của chuồng gà đầy cỏ khô và lông rơi xuống lả tả bởi lũ chuột khi ấy mới vội rút về ổ của chúng đằng sau thùng compost. Bọn chuột luôn phá chúng tôi, và mong chúng biến mất đi cũng chẳng khác nào mong cho Joe hết trầm cảm.

“Chúng ta cần một con mèo,” gần như sáng nào tôi cũng tuyên bố như thế khi sắp xếp đám trứng còn ấm vào trong rổ ở bên bàn bếp. Tôi vận động mãi, giải thích rằng kể cả khi nó không phải là loại biết bắt chuột thì có một con mèo trong nhà cũng sẽ giảm bớt được sự hoành hành của bọn chuột.

Joe thì không chắc lắm về con mèo. Anh ấy luôn nghi ngờ những ý tưởng có vẻ như là vội vàng – chậm chấp nhận những thứ mới, chậm thay đổi.

“Em đã nghĩ là tại sao em lại muốn có một con mèo chưa?” một tối anh ấy hỏi tôi như thế.

“Ý anh là gì, tại sao là thế nào?” tôi cảm thấy bị xúc phạm. Anh ấy như kiểu đang ám chỉ là ngoài chuyện bọn chuột tôi có những lý do không chính đáng khi muốn có một con mèo. “Tại sao lại ai cũng muốn có một con mèo? Nó là con mèo thôi.”

“Chỉ là việc này có lẽ sẽ tốn của chúng ta nhiều năng lượng,” anh nói.

Joe và tôi khi ấy đã ở bên nhau được gần ba năm tròn, thời điểm mà, theo một nghiên cứu chỉ ra, nhiều cặp đôi rất dễ tan vỡ.

Các đợt trầm cảm của anh ấy bắt đầu trở lại thường xuyên hơn, mỗi lần kéo dài nhiều ngày. Trong những ngày này, nếu tôi có mua một pint kem sô-cô-la bạc hà về (loại anh ấy thích), thường anh ấy cũng chẳng hào hứng và thậm chí còn chẳng thèm ăn.

Không, anh ấy chẳng muốn đi xem phim cũng chẳng muốn đi nhảy cũng chẳng màng đến sex. Mọi lời đề nghị, cả bản thân tôi nữa, cũng đều bị tống xuống một cái hố sâu xám xịt, khiến tôi cảm thấy rất bất lực và tủi thân. Tôi đã học được rằng cách tốt nhất để yêu Joe trong những thời gian này là để anh ấy được ở một mình.

“Em không thể chữa trầm cảm được đâu,” một lần Joe bảo tôi thế. “Em chỉ có thể học sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Tôi đã khá hơn trong việc sống chung với nó; tôi bắt đầu mua loại kem mà tôi thích thay vì loại mà anh ấy thích. Và khi cuối cùng tôi cũng lái xe đi hết Portland để tới chỗ Oregon Humane Society (tạm dịch, Hội Nhân đạo Oregon) vào một ngày tháng Tám, tôi đã làm việc đó một cách bí mật, nổi loạn, và hoàn toàn vì những lý do cá nhân mà tôi không nói ra.

Trước đó là một tuần đặc biệt khó khăn. Chiến lược đã được mài giũa cẩn thận của tôi để yêu một người trầm cảm là giúp đỡ chính mình thay vì cố gắng giúp đỡ anh ấy. “Và hôm nay,” tôi đã nghĩ khi tôi đỗ xe trong bãi đỗ của hội nhân đạo, “tôi sẽ giúp chính mình kiếm một con mèo.”

Khi Joe về tới nhà vào tối hôm đó, con mèo – chỉ là một nhúm lông vằn – nhảy ra từ dưới gầm giường. Tôi hít một hơi thật dài, chuẩn bị bảo vệ quyết định của mình.

Nhưng sau đó tôi nhìn thấy đôi mắt màu lục của con mèo gặp đôi mắt đẹp mà buồn của anh, khi đó như thể là có pháo hoa và cực quang xuất hiện vậy. Khi con mèo cố gắng đi một cách duyên dáng, đồng thời cũng rẽ ngang rẽ dọc trên đường nó đi, thành thử trông bước chân hơi liêu xiêu, tôi nghĩ là trong mắt Joe đã xuất hiện hai trái tim màu hồng thay cho đồng tử.

Sáng hôm sau khi chúng tôi thức dậy, điều đầu tiên mà Joe nói là, “Con mèo đâu rồi?” Và phản ứng đầu tiên của con mèo, khi nó nghe tiếng anh, là trèo lên trên chăn rồi nhảy vào mặt anh.

Cũng mùa hè năm ấy, Joe có đủ sức để tạo ra những thay đổi lớn trong đời: Anh bỏ hút thuốc, và anh nghe theo lời khuyên của chuyên gia trị liệu là thử Wellbutrin, một loại thuốc chống trầm cảm thường được kê như một hỗ trợ sau khi bỏ thuốc lá.

Sadie hóa ra lại biết bắt chuột rất tài tình. Đến lúc nó đủ lớn để bắt chuột, nó đã đuổi theo hết con này đến con khác theo những kẽ hở trong tường và hầu như tối nào cũng tha về một con.

Nó sẽ thả con mồi ra để chơi và chúng tôi sẽ thấy con chuột lủi vào sau tủ hoặc dưới giường. Sau đó Joe sẽ dùng một cái gắp salad cũ, trông như một cái lao, để cùng Sadie săn chuột.

Còn tôi sẽ nằm trên giường, hạnh phúc ngắm nhìn gã người yêu gầy gò, ngái ngủ, và trần trùng trục của mình hấp tấp dồn con chuột vào góc trong ánh sáng lờ mờ lúc ba giờ sáng, xem anh ấy vui đùa, cười, và thì thầm với Sadie, còn nó thì sẽ meo lên và quẩn quanh dụi đầu vào chân anh.

Điệp khúc buổi sáng “Con mèo đâu rồi?” trong bốn năm qua đã dần chuyển thành “Chào buổi sáng, Đậu Phộng,” và một cái hôn lên má tôi. Đôi khi tôi còn được ôm ấp một tí trước khi uống cà phê.

Joe vẫn có những ngày tệ hại. Nhưng kể cả trong những ngày tệ nhất, khi Joe chìm trong u ám còn tôi thì chuẩn bị rút về một góc riêng của mình ở trong nhà, Sadie vẫn sẽ nhẹ nhàng lẻn vào phòng, như xà phòng giữa đám dầu mỡ, như ánh sáng giữa sương mù.

“A, Sadie! Lại đây nào, quả sồi con này,” Joe sẽ gọi nó. “Hôm nay em thế nào? Đến trường có vui không? Có bị ai bắt nạt không?” Sau đó anh ấy sẽ tự bật cười vì mấy câu đùa của mình và tóm lấy con mèo rồi ôm nó như ôm một đứa trẻ, xoay về hướng tôi.

“Coi Sadie nè,” anh sẽ nói, lấy mấy ngón tay gãi gãi vào giữa hai tai nó cho lông dựng hết lên, cỡ một inch. “Mày đang gừ gừ à, mặt cá? Mày đang gừ gừ đúng không?” Rồi anh áp sát con mèo vào tai mình như một cái hộp nhạc. “Nó đang gừ gừ đấy,” anh hớn hở bảo tôi.

Khi tôi hỏi Joe là anh ấy có nghĩ Sadie đã chữa khỏi bệnh trầm cảm cho anh ấy không, gương mặt anh trông rất bối rối.

“Dĩ nhiên là không,” anh nói. “Em phải nhớ là trầm cảm là không thể chữa được.”

“Em biết,” tôi nói. “Ta chỉ có thể sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Giống như những buổi săn chuột vào đêm muộn, sự khỏe mạnh của Joe là một nỗ lực có sự hỗ trợ. Mặc dù có sự giúp đỡ của Sadie, rốt cục Joe vẫn là người tóm lấy đuôi con chuột bằng cái gắp salad cũ, và mang con chuột đang giãy dụa ra cửa xử lý. Nhưng Sadie đã giúp đỡ nhiều tới mức đôi khi khó mà nói được đâu là nơi những lựa chọn của chúng tôi ngừng lại và sự tồn tại của nó bắt đầu.

Khi bắt đầu thấy những dấu hiệu buồn chán từ Joe, tôi lại đi tìm Sadie và mang nó đến đặt vào lòng anh, như một lời xoa dịu. Kể cả trong những trận cãi vã tồi tệ nhất của chúng tôi, cuối cùng một trong hai sẽ bế Sadie lên và mang tới chỗ người kia, nhấc lên hạ xuống con mèo một lúc khiến nó phải giãy lên và đưa mắt lườm rất đáng yêu.

Khi chúng tôi quá tức giận không ai muốn động vào ai thì chúng tôi vẫn có thể cùng vuốt ve Sadie, và kết cục là chúng tôi như đứng giữa cuộc chiến của hai quốc gia, cùng bám lấy chiếc cầu bắc ngang qua biển cả giữa hai người, rồi lặng lẽ gửi đi những thông điệp ngừng bắn: những ngón tay sẽ gặp nhau giữa đám lông mèo.

Một buổi chiều mùa thu vừa rồi, Sadie mang về một con sẻ chết. Đó là bi kịch của một con chim bị mèo tóm; một thứ đã từng là khó nắm bắt nay chỉ còn là một nắm tơ và nằm hy sinh trên sàn bếp của chúng tôi.

Sau khi Sadie biết chắc là chúng tôi đã nhìn thấy thành tích của nó, nó ăn sạch con chim đó: móng vuốt, mỏ, xương, và cả những chiếc lông cuối cùng. Chưa đầy một phút. Khi chúng tôi vừa mới quen với việc nhìn nó ăn con chim thì nó đã ăn xong và bỏ đi, trên sàn chỉ còn lại vài chấm máu.

Sadie là hạnh phúc của chúng tôi, khó kiếm và hư hỏng. Hạnh phúc của chúng tôi ngoác miệng cười và liếm sạch máu ở cằm. Hạnh phúc của chúng tôi chỉ tình cảm khi nào nó thích, và vì nó là họ nhà mèo, “khi nào” của nó phải lâu lâu mới có.

Nhưng ít nhất thì hiện giờ nó đang sống trong nhà chúng tôi. Nắng sớm trải trên mái tóc đen của Joe, ba chúng tôi quấn lấy nhau trong chăn, chiếc giường như một con thuyền đơn sơ, và chúng tôi lái nó tới, nếu những ngày này có ý nghĩa gì, một ngày tương đối tốt lành.

Tác giả Hannah Louis Poston đang học thạc sĩ (M.F.A.) chuyên ngành thi ca tại Helen Zell Writers’ Program, University of Michigan.

Linh tinh chuyện cắt tóc

Tôi sinh ra với một mái tóc đen, thẳng như đa số gái Việt. Nếu mà tóc tôi nó cứ chịu như vậy thì tôi hẳn đã không phải tốn nhiều nơ-ron thần kinh để suy nghĩ về nó, tôi sẽ để tóc tém hoặc cắt một cái đầu vuông cả đời, không bao giờ uốn nhuộm gì hết trơn. Nhưng đến một cái việc cỏn con như vậy cũng vuột ra ngoài tầm tay của tôi!

Khi tôi học lớp 7-8 gì đó, tóc tôi bắt đầu xoăn lên thấy rõ. Dĩ nhiên không phải là một ngày ngủ dậy tóc tôi từ thẳng thành xoăn, mà nó bắt đầu xoăn dần từ lúc nào đó, chỉ biết là nhìn vào những bức ảnh cũ thì quanh cái khoảng thời gian năm tôi học lớp 7-8 có thể thấy tóc tôi bông xù ra rõ rệt. Chỗ này phải giải thích một tẹo là các bạn đừng nghĩ đến mấy cái đầu bông xù xinh đẹp trên ti vi và báo chí. Cá với các bạn là mấy mái tóc bông xù xinh đẹp phải 80-90% là tóc làm đó, không có tóc xù tự nhiên nào đẹp được như thế đâu :D. Thực ra tại mấy đứa bạn gọi tôi là Santa tóc xù chứ tôi chẳng biết dùng từ nào để mô tả cho chính xác. Khi tôi dùng curly thì các bạn Tây ai nấy đều bĩu môi bảo tóc tôi không đủ tiêu chuẩn để gọi là curly. Các bạn bảo chỉ hơi wavy thôi, nhưng quả thực cả đời tôi chưa được thấy sóng nào lại trông kỳ cục như tóc mình nên cũng không dám dùng từ ấy.

Một thời gian tôi nghĩ là chắc là do đến tuổi dậy thì trong người có nhiều biến đổi nên tóc tôi nó cũng biến đổi. Trừ những người biết tôi từ nhỏ, còn sau này ai gặp tôi cũng đinh ninh là tôi đã được sinh ra với một mái tóc như thế. Dạo ấy tôi đã phải nghĩ ngay ra một cái gốc gác cho cái đầu của mình. Nghĩa là nếu có ai hỏi, tôi sẽ giải thích là ngày xửa ngày xưa có một lần tôi ngủ dậy lười gội đầu bèn tháo đầu mình ra cho vào máy giặt :D. (Bạn nào đã đọc bộ truyện tranh Tiến sĩ Slump hẳn là nhớ trò này của bạn người máy Arale tinh quái.)

Cho tới tận năm ngoái (nghĩa là 2014), một lần chuyện phiếm với bạn cắt tóc quen, tôi mới có một giả thuyết mới. Bạn cắt tóc của tôi quả quyết rằng đó là hệ quả của vụ tiêm vắc-xin phòng dại của tôi. Dĩ nhiên không phải ai cũng phản ứng với vắc-xin ấy như tôi, nhưng bạn ấy biết có hai người sau khi tiêm vắc-xin phòng dại thì tóc đang thẳng thành xoăn như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ đi tìm hiểu thêm về vấn đề này, nhưng tôi thấy giả thuyết ấy cũng thật thú vị. Trước khi năm học lớp 7 bắt đầu, tôi bị một con chó cắn cho tơi tả thật, và sau đó phải đi tiêm vắc-xin suốt một tuần hay sao ấy. Chỉ nhớ là dạo ấy ngày nào đi tiêm cũng được bố cho qua ăn quán cháo lừng danh đất Hà Nội ở Trần Nhân Tông, ngon bá cháy :D.

Tóm lại là dù nguyên nhân gì đi nữa thì từ đó tôi cũng bắt đầu phải mệt công suy nghĩ về mái tóc của mình. Trước đó thì rất đơn giản, mẹ tôi cắt tóc cho tôi, chỉ cần cắt bằng ngang tai, với một cái mái bằng là xong chuyện. Ngoài mẹ tôi ra tôi cũng không thích ai khác động vào đầu mình. Từ năm lớp 7-8 đó thì tôi nuôi tóc dài rồi cột túm lên, vì không còn để tóc ngắn như trước được nữa. Đến khi vào đại học, tôi bắt đầu nản với mái tóc dài, bèn giao đầu mình cho một ông cắt tóc, bảo là cắt cho tôi một cái đầu ngắn. Ông này cắt cho tôi một cái đầu thảm họa khiến tôi muốn khóc thét!

Sau đó, hình như là cùng năm, vì cái đầu thảm họa mà tôi đồng ý cho người ta đổ thuốc ép tóc lên đầu, chứ tôi ghét phải fake bất cứ thứ gì về mình. Thế là tôi lại có một mái tóc thẳng mượt, ngang tai, và dẹp lép vì thời ấy chưa có công nghệ ép phồng như bây giờ. Nhiều người khen xinh. Trừ bố tôi và ông nội tôi là bảo thích cái đầu xù của tôi hơn, nhưng bị mọi người gạt đi, bảo là ý kiến của hai ông già không quan trọng bằng ý kiến của các giai trẻ :D. Tôi thì chịu không thể chấp nhận cái mái tóc xinh đẹp ấy là của tôi được. Tôi không thích mái tóc cũ, nhưng tôi còn ghét mái tóc fake mới nhiều hơn vì mỗi lần nhìn vào trong gương tôi lại cảm thấy như tôi đã bị biến thành một ai đó khác chứ không còn là mình nữa. Chưa kể, tôi cũng ghét cái ý nghĩ là cứ sau mỗi sáu tháng một năm tôi lại phải tiếp tục đổ thuốc lên đầu để duy trì một cái đẹp giả tạo mà không khiến tôi cảm thấy bất cứ điều gì tốt đẹp hơn về bản thân mình.

Sau vụ ấy, tôi lại nuôi tóc dài, buộc lên, tết lại, xấu một tí cũng được, nhưng dễ chịu hơn rất nhiều. Nên là có một thời gian dài tôi có mái tóc dài ngang lưng. Bà ngoại tôi thì ưng lắm vì thấy phụ nữ trong nhà cứ đua nhau đi cắt ngắn hết cả, mà không biết rằng trong lòng tôi ngày đêm cũng chỉ mơ được cắt ngắn như thế :D. Sau này khi tôi cuối cùng cũng cắt phăng mái tóc dài đi, bà tôi tiếc mãi.

Sang tới Mỹ, tôi quyết định cắt ngắn. Nói gì thì nói Mỹ là một đất nước tự do, tôn trọng và khuyến khích tính cá nhân hơn Việt Nam rất nhiều. Chưa kể bạn là người nước ngoài thì dân Mỹ lại càng ít xét nét (như là các bạn Tây ở (các thành phố lớn ở) Việt Nam chính lại ít bị xét nét hơn người Việt). Thời gian sống ở Mỹ tôi đã giải phóng được rất nhiều cái tôi của mình, trong đó có chuyện tóc tai. Ngày ở Việt Nam trước đó, cứ mỗi khi tôi theo ai đó ra hàng cắt tóc để thăm dò chuyện cắt tóc của thiên hạ là y như rằng người thợ cắt tóc bảo với tôi một câu: cái đầu này phải ép đi! WTF!!! Thậm chí đa phần còn không nói được với tôi một câu tử tế, đừng nói là có ai hỏi tôi có muốn ép tóc không và vì sao tôi không muốn ép tóc. Họ nói với tôi kiểu muốn chữa bệnh cho tôi không bằng. (Mà tôi thì tính tự ái cao đừng hỏi 😀 .)

Bởi thế nên khi lần đầu bước vào tiệm cắt tóc ở gần nhà tại Mỹ, tôi thấy như đây mới là home town của mình: khi tôi bảo tôi muốn cắt tóc ngắn, người cắt tóc hỏi lại là tôi muốn cắt ngắn đến đâu. Period. Nhưng tôi lại chỉ cần có thế! Trong suốt nhiều năm tôi đã chỉ cần một người hỏi tôi một câu đơn giản có vậy thôi! Chừng nào còn chưa có người biết nói với tôi một câu như thế thì tôi còn tiếp tục tẩy chay các tiệm cắt tóc và tiếp tục nuôi tóc mình dài đến gót chân và người duy nhất sẽ “được” giúp tôi cắt đuôi tóc xấu chỉ có thể là mẹ tôi mà thôi! (Yeah tôi cực đoan vậy đó, đừng hỏi tại sao giờ này vẫn độc thân và lắm thời gian viết blog đến vậy :D.)

Sau này thì cũng có người giúp tôi hiểu ra là tôi không cần phải quá cực đoan đến vậy. Xưa giờ chỉ có những lời nói (và hành động) ngọt ngào mới có thể làm cái đầu cứng hơn đá của tôi tan chảy, còn ngoài ra không có phương thuốc nào khác 😀 – và lần đó cũng không phải ngoại lệ. (Chỗ này phải mở ngoặc tí là tôi cũng rất thích những lời phê bình mang tính xây dựng và chuyện này thì không mâu thuẫn gì với sự “hảo ngọt” của tôi hết.) Người đã ngọt ngào với tôi về chuyện tóc tai như vậy là một chị cắt tóc của tiệm đó mà tôi đã chẳng còn nhớ tên. Nhiều người cắt tóc khác ở tiệm đó không nói chuyện với tôi mấy mà tôi thì cũng không hay bắt chuyện ở những chốn như vậy (dù hay chủ động bắt chuyện ở những chốn khác, như WordPress chẳng hạn lol). Chị ấy đại khái đã hỏi chuyện tôi về tóc của tôi, và thay vì bảo tôi phải làm thế này, phải làm thế nọ thì đơn giản là đã nói với tôi một câu là em nên làm gì đó với tóc của mình, và giới thiệu cho tôi một vài sản phẩm dưỡng tóc đơn giản. Khỏi phải nói, tôi đã đồng ý mua một lọ moisturizer bán ở tiệm. Từ đó đến giờ tôi cũng thường xuyên dùng dạng sản phẩm này.

Sau đó thì tôi bắt đầu bớt định kiến với các tiệm cắt tóc hơn, và sau khi ở Mỹ về Việt Nam được chừng một năm thì tôi có được một bạn cắt tóc ưng ý ở cái Hà Nội này, sau khi cũng đã “qua tay” vài ba người và đều một đi không trở lại :D. Không phải vì bạn ấy cắt quá đẹp mà đơn giản là vì bạn ấy biết nói chuyện với tôi và dĩ nhiên là cắt tóc cũng ổn. Lần đầu tiên tôi tới làm tóc ở đó (khi ấy tóc lại đã dài), tôi đã đồng ý cho bạn ấy ép phồng phần mái và uốn lọn phần đuôi. Sau này tôi mới để ý là cái đầu ấy ở Hà Nội nhan nhản luôn, chắc là kiểu đầu phổ biến thợ làm tóc nào cũng làm được. Tôi cũng không ưng kiểu ấy lắm vì nó không hợp với tính cách của tôi, nhưng cũng không cảm thấy khó chịu. Nhưng tôi biết là tôi ưng bạn cắt tóc này. Sau lần ấy, bạn ấy hiểu tính tôi hơn, hiểu tóc tôi hơn, và bắt đầu cắt cho tôi những cái đầu ngắn ưng ý. Có ép tóc đâu một hai lần thì phải. Có lần bạn ấy than thở là làm ăn mà khó quá chắc phải dẹp tiệm về quê với vợ; tôi bảo, em mà về thì chị chỉ có nước nuôi tóc dài trở lại :D.

Thế mà tôi vẫn lười đóng góp vào kinh tế của tiệm :”>. Hiện tóc đã dài và xấu đến độ ra đường cũng bắt đầu tự cảm thấy xấu hổ, mà vẫn lười chưa ra cắt tóc (trong khi không ngại ở nhà lảm nhảm linh tinh về chuyện đầu tóc thế này). Tháng Chín vậy! 😛

 

Một lớp học nhớ đời

Khoảng một tuần trước hạn nộp bài cho lớp ấy, tôi phát hiện ra mình đi sai hướng. Đúng hơn là chọn sai dữ liệu. Chẳng hiểu đầu óc tôi để đâu mà cả cái lớp ấy chỉ toàn học và nói về các dữ liệu vi mô – nghĩa là cấp cá nhân hoặc hộ gia đình – cũng là yêu cầu chọn dữ liệu cho bài paper cả kỳ thì tôi đã chọn dữ liệu tận cấp hạt. Tôi cuống cuồng đọc lại đề bài, đọc đi đọc lại các hướng dẫn, xem lại câu hỏi nghiên cứu của mình, và lục lọi tìm các nguồn dữ liệu vi mô phù hợp. Đấy là một tuần khổ ải chưa từng có trong toàn bộ cuộc đời cắp sách tới trường của tôi. Nhưng vì anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi, tôi không thể bỏ cuộc được, không thì tôi còn mặt mũi nào mà nhìn vào khuôn mặt đẹp trai ấy nữa.

Ngày nào tôi cũng thức nguyên đêm trong văn phòng của bác giáo sư – người đã tốt bụng cho tôi mượn để sử dụng – rồi trở về nhà vào chuyến xe bus sớm nhất lúc 7h sáng, ăn ngủ nhì nhằng gì đó để rồi chiều lại vác xác đến văn phòng tiếp tục lao động khổ sai để còn có đường mà nhìn mặt anh thầy giáo. Ngày kỷ lục tôi làm việc liên tục khoảng 16 tiếng đồng hồ, người như sống dở chết dở. Vào buổi chiều thứ sáu của tuần học cuối cùng, tôi ôm hai ổ bánh mì ngồi chờ xe bus để tiếp tục đến trường chiến đấu và nhìn những người khác đã tung tăng chuẩn bị cho kỳ nghỉ đông vì đã hoàn thành xong nhiệm vụ cho các lớp học, trong lòng tự hỏi liệu có lúc nào đời tôi đã từng nhục như thế này chưa.

Cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành bài paper vào tối chủ nhật, sau khi đã phải xin phép anh thầy giáo cho nộp muộn một chút so với deadline. Viết xong những dòng cuối cùng của bài paper, tôi chỉ muốn đập đầu vào tường vì cảm thấy mình đã trả lời câu hỏi nghiên cứu một cách rất vô thưởng vô phạt. Nhưng còn gì khác nữa đâu, tôi đành phải gửi bài đi. Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng hình dung ra sẽ nhận được thư của anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi mắng tôi thế này: HA, tôi rất thất vọng về em. Tôi đã tận tâm tận lực để truyền đạt cho các em bao nhiêu như thế trên lớp, đã ép các em làm bài tập như thế để mà cuối cùng em gửi cho tôi một bài paper đáng thất vọng như thế này ư?

Nhưng mãi mà chả thấy anh thầy trả lời gì. Tôi cũng không biết là thầy đã nhận được bài của tôi chưa ấy, nên cuối cùng cũng mạo muội hỏi thầy ơi thầy nhận được bài của em chưa ạ. Anh thầy trả lời lạnh lùng, tôi nhận được rồi nhưng vì em nộp muộn nên giờ tôi chưa thể chấm bài cho em ngay được. Tôi im thin thít không dám nói năng gì nữa, rồi ngày nào cũng hồi hộp lo lắng.

Vài tuần sau, đúng sáng ngày đầu năm mới, tôi nhận được kết quả chấm bài và điểm cả kỳ cùng với nhận xét của anh thầy giáo: bài paper của em gần như chính xác là những gì mà tôi trông đợi ở lớp học này blah blah blah… Đọc xong câu ấy chân tôi không còn chạm đất nữa nên không còn biết đoạn sau anh thầy viết gì. Cuộc đời này sao mà lại khó lường đến thế!

Mặc dù đến giờ tôi cũng đã quên gần hết những gì đã học được từ lớp học ấy, nhưng nó vẫn là lớp học mà tôi cảm thấy đã học được nhiều nhất. Cũng là lớp học khốn khổ nhất mà tôi đã từng đi qua, kể cả không có cái tuần kinh khủng vì bài paper ấy, vì anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi của tôi tôn thờ chân lý “không đau khổ thì chả nên cơm cháo gì” (aka no pain no gain). Đôi lúc nhìn lại, tôi vẫn tự hỏi, nếu không phải là anh thầy giáo đẹp trai, tài giỏi đứng lớp mà là một ông giáo già mặt khó đăm đăm thì liệu tôi có đủ động lực để vượt qua cái bài paper kỳ ảo ấy không. Chắc là không :D.

Con mèo

Tháng Bảy này tròn hai năm con mèo từ trên trời rơi tòm xuống cuộc đời tôi. Theo đúng nghĩa đen luôn. Em tôi mang nó về nuôi khi còn học ở Nhật, rồi nhất quyết trả một đống tiền mang nó đi tiêm phòng, làm chứng nhận các kiểu, và đủ loại thủ tục hàng không để con mèo có thể lên máy bay mà bay từ Nhật về Việt Nam, ngoan ngoãn chui vào cuộc sống của tôi.

Ban đầu cả nhà tôi cũng hơi ái ngại vì chi trả cho một con mèo như thế là hơi nhiều. Số tiền ấy ở đây chắc phải mua được 5 con mèo Anh. Nhưng tạ ơn Trời Đất, con mèo ấy đã bước vào cuộc sống của chúng tôi, ngay cả bố tôi – một người đã kiên quyết cấm chị em chúng tôi nuôi chó mèo trong suốt bao nhiêu năm – cũng không thể kiềm lòng được trước con mèo khi nó cứ lăn vào ông mà õng ẹo. Còn tôi vẫn còn nhớ như in cái lần đầu tiên tôi nhìn thấy con mèo trong chiếc lồng ở sân bay như một cuốn phim quay chậm của ký ức.

Con mèo ở với cả nhà tôi chừng một tháng thì chị em tôi dọn ra ở riêng, dĩ nhiên chúng tôi mang theo con mèo. Chưa đầy hai năm sau em gái tôi về nhà chồng và để lại con mèo cho tôi “để HA đỡ buồn“. Rồi tuần nào cũng thấy nó về đây, nhưng “không phải để thăm chị mà là thăm Nimo“. Con mèo đã được đặt tên theo con cá Nemo, nhưng em tôi và bọn bạn nó chat với nhau toàn viết là Nimo nên giờ tôi cũng đổi theo cách ấy. Bạn tôi thì toàn gọi Nimo đơn giản là con mèo. Sau khi em gái tôi đi lấy chồng, bạn tôi nhiều người hỏi, thế giờ ở một mình à. Tôi trả lời là tôi ở với con mèo. Bọn bạn em tôi cũng hỏi nó, thế chị HA bây giờ ở một mình à. Nó cũng trả lời là HA ở với Nimo.

Từ ngày mới về con mèo đã chọn tôi để hành hạ. Cứ tầm 4-5h sáng là nó cắn chân tôi. Đá nó ra không được vì nó lại xông vào cắn tiếp, thành thử cứ tờ mờ sáng là tôi lại dậy độc thoại với con mèo, hỏi nó là sao nó cắn chân tôi. Nó không thèm trả lời (hoặc có trả lời mà ngày ấy tôi chưa hiểu tiếng mèo nên không để ý), chỉ cắn thôi. Sau vài ngày thì tôi hiểu là nó đòi ăn. Sau này kể cả khi trước khi đi ngủ đổ sẵn thức ăn ra cho nó, nó vẫn cắn chân tôi mỗi khi tảng sáng, bắt tôi dậy ngồi cạnh nó khi nó ăn. Tôi hỏi nó sao nó không gọi em tôi, cái đứa đã mang nó về nuôi suốt một thời gian rồi lại mang bằng được nó về Việt Nam ấy, nó cũng cóc thèm trả lời.

Từ ngày em tôi về nhà chồng, còn hai đứa ở với nhau, con mèo còn nghĩ ra trò tai quái hơn. Nó không chịu ăn trong cái khay thức ăn nữa. Vì đọc là bọn mèo rất khó tính, tôi đi rửa khay cho nó thường xuyên hơn nhưng mỗi lần cũng chỉ được một ngày là nó lại chê không ăn nữa (trước đây đâu có vậy). Một lần tôi trót dại, cho hạt vào lòng bàn tay dụ nó ăn thì nó vục mặt vào ăn liền. Và từ hôm đó nó quyết định là đấy là cách ăn ưa thích của nó và kiên quyết không ăn theo kiểu nào khác, trừ phi thỉnh thoảng tôi nhốt nó ngoài ban công để được ngủ yên lúc tảng sáng thì đói nó mới chịu ăn trong khay. Mẹ tôi và em gái tôi kêu ầm lên là tôi làm hư con mèo.

Cái vụ cho ăn bằng tay thì tôi công nhận, nhưng tôi là người không kiên nhẫn, tôi chịu thua không thể thi gan với con mèo được. Tôi mà không cho nó ăn kiểu đấy, nó không những không ăn mà còn ra cắn chân tôi đến khi tôi giơ cờ trắng đầu hàng mới thôi. Nên giờ tôi biết thân biết phận, và cũng đã biết một ít tiếng mèo, nên nghe nó kêu đòi ăn hoặc đôi khi chẳng thèm meo câu nào xông vào cắn luôn là có đang ăn dở tôi cũng phải đứng dậy mà đi cho nó ăn. Chỉ trừ lúc nào đang viết lách dở, tôi sẽ xoa đầu con mèo và nịnh nọt bảo nó, chờ bác một tí. Nó cũng rất biết thông cảm, những lúc như thế nó sẽ ngoan ngoãn ngồi chờ tôi mấy phút. Hết mấy phút ngắn ngủi nó sẽ nhắc là hết giờ rồi đấy, bằng cách xông vào dẫm lên bàn phím!

Mùa đông tôi thường cho nó ngủ chung trong phòng cho ấm, và chấp nhận là cứ 4-5h sáng sẽ phải mắt nhắm mắt mở dậy ngồi cạnh nó khi nó ăn. Như nuôi con mọn. Nó chỉ cần meo một tiếng, chưa cần cắn là tôi tung chăn bật dậy liền. (Viết đến đây là có đứa vừa cắn tôi, tôi phải đi đây.) À mà đó là dạo nó chưa nghĩ ra trò tai quái là bắt tôi cho hạt vào lòng bàn tay thì mới chịu ăn, nên gọi là dậy cho nó ăn cùng lắm là đổ thêm hạt cho nó, không thì chỉ làm nhiệm vụ là ngồi cạnh nó và bảo, đấy, ăn đi. Có những khi tôi dựa vào tường và ngủ quên mất một lúc trong khi chờ nó ăn, mở mắt ra đã thấy con mèo ăn xong và bỏ đi từ đời nào rồi.

Yêu thương chiều chuộng hầu hạ nó là vậy nhưng con mèo vẫn rất chảnh. Muốn ôm nó vào lòng bày tỏ tình cảm nó cũng giãy nảy lên chui ra cho bằng được. Không bao giờ nó cho phép cả em tôi lẫn tôi ôm nó mà ngủ. Tình cảm lắm là mùa đông nó sẽ cuộn tròn lại mà ngủ dưới chân chúng tôi. Tình cảm thứ nhì là khi nó ốm yếu (thực ra chưa ốm bao giờ, nhưng thỉnh thoảng lại nghịch cái gì chả biết lại đau mắt) hoặc khi sấm đánh ầm ầm nó mới le te chạy lại gần nằm sát vào tôi, còn không lúc nào cũng phải cách xa cả mét. Lúc ốm mệt (đau mắt) thì may ra nó sẽ cho phép ôm ấp nó một tí. Nhưng được cái là xa thì xa nhưng vẫn phải gần, thường tôi ở đâu nó sẽ lết xác theo mà luẩn quẩn ở đó.

Có một trò hơi ác có thể lừa đảo tí tình cảm của nó, ấy là ôm nó ra đứng ở ban công. Con mèo sẽ sợ chết khiếp mà vòng cả bốn chân ôm chặt lấy kẻ đang chơi ác nó. Lúc ấy thì tha hồ mà nựng nịu hôn hít nó. Thỉnh thoảng không phải dọa nó, tôi chỉ muốn thử tập cho nó bớt nhát đi bằng cách bê nó ra đấy đứng nói chuyện với nó, bảo nó hít khí giời đi cho nở phổi, nhưng may ra thì nó hếch mũi lên hít hai cái rồi lại quay mặt vào nhà. Nhưng những lúc nó nghịch quá thể không bảo được lại phải bê nó ra đấy đứng cho nó im thin thít để mà mắng cho mấy câu.

Kinh hoàng nhất là trò đái bậy của con mèo. Em tôi và tôi nghĩ là nếu có ngày tôi dọn ra khỏi chỗ này, chắc cái sa-lông phải vứt đi vì con mèo đái lên mấy lần rồi. Khách đến nhà tôi hay phải hỏi có thấy mùi mèo kinh quá không, chứ chị em tôi ở với nó quen thường không thấy làm sao. May quá, nhiều người cũng bảo là không thấy mùi gì. Hồi đầu nó đái bậy cứ cuống quít hết cả lên, một lần gọi giặt sa-lông, không thì cũng phun xịt các kiểu, rồi tét đít con mèo mấy cái cho hả giận. Sau rồi cũng quen đi, chỉ lật đật đi kiếm giấy thấm hút cho hết rồi lấy máy sấy ra sấy. Có bưởi thì nhét vỏ bưởi vào.

Chăn gối cũng ăn chưởng với nó mấy lần, may là chăn gối lông vũ không thấm nước nên giặt đi phơi phóng là hết. Đệm thì cũng dính tí đòn một lần, sau đó phải đi mua ngay cái bọc đệm dành cho gia đình có trẻ con. Thì nhà có trẻ con biết làm sao. Lần gần nhất nó đái lên giường thì mẹ tôi ở đây, trong khi mẹ tôi rên rỉ thì tôi chả nói câu nào, cũng chả mắng con mèo nửa câu, lột cái ga ra mà đi giặt rồi lau cho sạch tấm bọc đệm như kiểu thấy nhà bẩn thì mang cái chổi ra quét một nhát vậy. Còn phải hỏi tại sao, mấy lần chị em chúng tôi nửa đêm hay tờ mờ sáng giữa đêm đông mang chăn ga đi giặt rồi, chuyện nó đái thẳng lên ga thì bé như cái mắt muỗi. À cũng có để ý canh chừng nó chứ, nhưng không xuể được, thôi đành chấp nhận nhà có trẻ con thì thế vậy.

Giờ thằng trẻ con đấy đang nằm dài ra vểnh mặt lên ngủ, và đương nhiên nằm cách tôi cả hai mét. Đang viết lách mà nhìn sang con mèo nằm ngủ chỏng queo thấy cũng ấm áp lắm. Nó ngủ nhìn hồn nhiên và an bình như mọi đứa trẻ khác –  một hình ảnh lý tưởng về hòa bình, mặc dù thỉnh thoảng nó cũng giật mình hoặc mơ gì đó mà nói ú ớ. À phải rồi, bọn mèo cũng có những giấc mơ. Khi con mèo giật mình hoặc ú ớ gì đó, tôi lại phải ra vuốt ve nó tí cho nó yên, để nhỡ nó có gặp ác mộng thì cũng tỉnh lại.

Chúng tôi không ai biết con mèo này có quá khứ gì và khi ngủ nó hay mơ thấy gì. Đôi khi nhìn nó tôi lại tự hỏi không biết bọn mèo có hay đau khổ dằn vặt về quá khứ giống như con người không. Tôi biết nhiều con mèo đã phải trải qua những kiếp nạn kinh hoàng của bạo lực. Hiện giờ ngoài kia, hàng ngày hàng giờ vẫn có biết bao con mèo đang sống những mảnh đời kinh hoàng như thế, chứ đâu có được yên ổn ấm áp no bụng như con mèo đang ngủ cách tôi hai mét kia. Kiếp người và kiếp mèo chẳng biết kiếp nào khổ hơn. Nên đừng hỏi tại sao tôi cưng nựng con mèo và làm hư nó. Xét cho cùng, nó là sinh vật duy nhất mà tôi đang chăm sóc.

Ngày nào tôi cũng nói chuyện với con mèo. Tôi nói tiếng người (phiên bản Việt), còn nó nói tiếng mèo. Ấy vậy mà cũng hiểu nhau được chút chút. Thỉnh thoảng bảo nó không nghe, tôi lại mắng, không hiểu tiếng người à! Làm như là tiếng người thì quan trọng với bọn mèo lắm vậy.

Tôi cố gắng đối xử với con mèo bình đẳng hết sức có thể. Tôi vẫn thấy rất vô lý khi con người tự nhận mình là loài sinh vật tiến hóa nhất và cao cấp nhất trong hệ thống muôn loài. Với tôi nó cũng chẳng khác gì việc người da trắng tuyên bố họ là sinh vật văn minh nhất trong đám Homo sapiens. Bởi thế, tôi cố gắng cư xử với con mèo như một con người. Ví dụ chuyện ăn uống của nó. Mẹ tôi thì rất nghiêm với nó, nó có kêu đòi ăn mẹ tôi cũng kệ, để cho nó kêu chán rồi tự ra ăn. Nó cũng rất biết ai thì bắt nạt được còn ai thì không, tôi không thấy nó dám cắn chân mẹ tôi ăn vạ bao giờ. Rõ ràng con mèo này từ khi bước chân vào nhà tôi đã biết ai là đối tượng mà nó nên cắn chân đòi ăn vào lúc 4h sáng. Ban đầu thì đúng là vì tôi đầu hàng nó thật, nhưng sau ngẫm ra, tôi cảm thấy cái đòi hỏi của con mèo là có người ngồi cạnh nó khi nó ăn là hoàn toàn chính đáng. Có lẽ con người cũng phải nên học nó. Nên sau này không hẳn là tôi chiều con mèo, tôi chỉ cố gắng đáp ứng một đòi hỏi rất chính đáng của một sinh vật mà có khi chỉ còn sống với tôi hơn chục năm nữa cũng nên.

Khi tôi ăn, con mèo hay nhảy lên bàn vì tôi ăn gì cũng cho nó thử và chia sẻ đồ ăn với nó (nó ăn có tẹo thôi, vì chủ yếu là ăn thức ăn mèo). Thực ra tôi cũng thích nó leo lên bàn ngồi ăn với tôi vì như thế tiện hơn là phải ném đồ ăn xuống sàn nhà cho nó. Nó ngồi trên bàn, tôi ngồi ghế, vậy là bình đẳng. Sau này tôi mới biết với nhiều người khác như vậy là “hỗn”. Khi có khách, tôi thường phải để ý không cho con mèo leo lên bàn, nhưng khi còn lại hai đứa với nhau, tôi lại thích nó leo lên bàn ăn cùng tôi, giống như việc tôi ngồi cạnh nó khi nó ăn vậy.

Về việc coi người ngang mèo và mèo ngang người ấy, giữa tôi với nó thì không vấn đề gì, nhưng đôi khi tôi đẩy những suy nghĩ của mình đi xa hơn. Nếu như phải lựa chọn giữa việc cứu con mèo này và một con người mà tôi không quen biết, thì tôi sẽ chọn ai? Tôi chưa bao giờ trả lời được câu hỏi ấy. Ví dụ chọn giữa tôi và con mèo, rất có thể tôi sẽ chọn con mèo, vì lúc đó là lúc tốt nhất để tôi chứng minh được cái quan điểm của tôi là loài người chẳng có lý do gì mà đặt mình lên trên loài mèo hay bất kỳ loài nào khác cả. Con mèo này là thằng cháu tôi, bạn cùng nhà của tôi, và cũng như một thằng con giai tôi, tôi có chết để cho nó sống cũng là chuyện bình thường. Nhưng nếu phải chọn giữa con mèo và một con người, ấy mới thực sự là lúc cái tính “người” của tôi bị thách thức. Tôi có cảm giác là nếu chuyện ấy xảy ra thật, chắc cái bản năng làm người của tôi nó sẽ trỗi dậy để tôi thả tay con mèo ra mà đi cứu con người kia. Có điều, nếu điều ấy xảy ra thật, chắc tôi sẽ phát điên và không bao giờ cứu chữa được, nếu như ngay sau đó tôi không chết luôn theo con mèo.

Thôi không nói chuyện linh tinh u ám nữa. Để kể nốt mấy chuyện lăng nhăng của con mèo, vì đằng nào cũng một công viết. Chẳng biết bọn mèo khác có thế không chứ con mèo này hầu như không thẩm thấu các âm thanh từ các thiết bị như máy tính hay TV, dù rất nhạy cảm với âm thanh thực bên ngoài. Rất rất hiếm khi tôi thấy nó phản ứng với các thiết bị điện tử. Đúng một lần nó giật mình với một âm thanh hơi chói tai từ TV. Lần khác là khi em tôi đi công tác và skype với tôi, chúng tôi cố dụ con mèo ra nhưng như mọi lần, nó không phản ứng gì với các âm thanh, hình ảnh, trong khi em tôi cứ tha thiết gọi tên nó. Ấy vậy mà giữa những tiếng gọi nó ấy có duy nhất một lần nó nhận ra, quay đầu lại và meo một tiếng. Thế là quá đủ để cô em tôi cảm động rơi nước mắt. Chứ thường ngày ở nhà với nó đa phần thời gian là chúng tôi bị nó khinh rẻ. Nhưng chẳng hiểu sao khách đến nhà, kể cả những người đến lần đầu, nó hớn hở chạy ra dụi dụi đầu vào chân người ta âu yếm, lừa đảo và bội bạc kinh hoàng!

Chẳng hiểu sao tự dưng hôm nay lại nổi hứng muốn nói chuyện con mèo. Tôi chưa bao giờ nghĩ là sẽ viết gì về nó, cũng giống như việc tôi chưa bao giờ nghĩ là phải viết gì về bạn bè. Trên facebook thì tôi là kẻ cuồng mèo lâu rồi. Như người ta hay post ảnh khoe con, tôi có dạo cũng hay post ảnh con mèo ăn kem hay ăn rau hay dưỡn dẹo làm trò gì đấy. Giờ viết linh tinh cũng đã xong, chẳng biết phải kết thế nào, thôi thì lại tạ ơn Trời Đất đã cho con mèo này từ trên trời rơi tòm xuống cuộc đời tôi, biến tôi thành kiếp gia tinh hầu hạ dạ vâng cho nó mà lòng ngập tràn sung sướng. Và thế là hai đứa sống với nhau hạnh phúc đến hết đời. 😀

Văn, tiếng Anh, báo, và việc viết lách của tôi

Trước khi đọc Sụp đổ của Jared Diamond để từ đó bắt đầu nghĩ xa hơn rất nhiều về việc viết lách, niềm cảm hứng viết lách của tôi đến từ các nguồn khác: môn Văn, một lớp học tiếng Anh, và báo chí.

Môn Văn

Thời gian tôi viết văn tự do nhất trong khuôn khổ của môn Văn ở trường học là những năm cấp I. Thực ra thời đó chúng tôi cũng phải viết những bài văn theo mẫu kiểu “nhà em nuôi một con lợn con to chỉ bằng cái phích và hai tai nó như hai cái lá mít” – nhờ những bài văn kiểu này mà đám trẻ con thành thị chúng tôi mới mường tượng được cái lá mít là như thế nào. Nhưng giữa những khuôn mẫu ấy vẫn có những không gian tương đối tự do để tôi viết. Ví dụ, năm tôi học lớp hai chúng tôi có những bài tập kiểu “chuyển thể” tức là diễn xuôi một bài thơ. Tôi nhớ là mình chuyển thơ sang văn xuôi dễ như ăn kẹo. Rồi mấy năm học sau đó chủ yếu chúng tôi loanh quanh mấy dạng viết miêu tả với kể chuyện với phát biểu cảm nghĩ, tôi vẫn viết lách say sưa tuy cũng chẳng mấy khi là học sinh nổi trội gì về môn văn trong lớp cả.

Tôi không nhớ là hồi ấy chúng tôi có những đề văn mang tính tưởng tượng mà viết hay không, nhưng nhớ là đề thi vào lớp chọn năm lớp 6 là một đề như thế. Đại khái là có một chú ong thế này thế nọ, em hãy tưởng tượng và kể lại hành trình của chú ong ấy. Đám học trò và cả phụ huynh xôn xao hết cả lên vì đã găm đầy đầu những bài văn mẫu để đi thi. Tôi thì viết lách sung sướng và lại thấy dễ như ăn kẹo, mặc dù cũng chẳng biết sẽ được mấy điểm. Vì làm toán không tốt, văn thì chả biết đường nào mà lần, tôi nghĩ mình trượt rồi. Cuối cùng, hành trình kỳ ảo nào đó của con ong mà tôi vẽ ra đã kiếm được cho tôi điểm 9 môn Văn và nhờ thế lôi tôi vào lớp chọn.

Từ những năm cấp II trở đi, việc học văn ở trường xoay quanh việc bình loạn các tác phẩm văn học, điểm văn của tôi tụt dốc, chỉ làng nhàng mức 6-7, viết lách cũng chả hứng thú gì, và suốt mấy năm cấp III lúc nào cũng phải thấp thỏm xem môn văn có nổi 6,5 để mà được học sinh giỏi hay không. Nhưng chả hiểu thế nào mà thi cử cuối cấp thì lại vẫn may mắn, hai lần thi chẳng lần nào bị xuống đến điểm 8 cả.

Thực ra thời gian tôi học cấp III có một thầy giáo dạy văn mà tôi rất thích, đó là thầy T. ở trường Ams – tôi không học Ams, tôi học thầy ở những lớp học thêm. Thầy là người truyền cảm hứng cho tôi về môn Văn sau nhiều năm tôi chỉ biết học văn cho xong chuyện, mặc dù những gì tôi viết cũng chỉ có thầy cho điểm cao chứ ở lớp vẫn lẹt đẹt như thường. Chả quan trọng, tôi ngày ấy vẫn rất hăm hở vác sách đi học thầy.

Lớp Tiếng Anh

Khi việc viết văn bằng tiếng Việt bắt đầu nhạt nhòa đi trong cuộc sống của tôi thì tôi lại được thỏa chí viết lách nhờ tiếng Anh. Đúng ra là nhờ một lớp học thêm tiếng Anh mà tôi đã theo suốt 5 năm cho tới tận khi vào đại học. Thầy R. là người Thụy Sỹ, ngày ấy mới ngoài ba mươi, là giáo viên tiếng Anh xịn, có vợ người Việt Nam. Lớp học ấy được thành lập cũng là do nhiều cơ duyên khác nhau, chứ không phải là con nhà giàu được học thầy Tây (học phí không quá đắt). Tôi có lẽ là người duy nhất đã theo lớp học ấy từ ngày đầu tiên cho tới ngày cuối cùng. Mặc dù mỗi tuần chỉ học một tiếng rưỡi, nhưng lớp học ấy với tôi là một không gian tự do khám phá nhiều điều mới mẻ và đặc biệt là được viết lách tưng bừng, nghĩ gì viết nấy, chủ đề thì rộng vô cùng, không có một cái gì được gọi là giới hạn cả.

Thầy R. rất biết cách khuyến khích học trò để chúng tôi không cảm thấy tự ti và ngượng ngùng khi sử dụng tiếng Anh. Ví dụ, khi chúng tôi nói tiếng Anh, thầy sửa rất ít mà để cho chúng tôi nói thoải mái và sai bung bét – những kiến thức chúng tôi cần, thầy đưa vào lúc giảng bài. Cứ kiên trì vậy mà chúng tôi cũng nói khá khẩm dần – điều này chúng tôi chỉ nhận ra khi trong lớp có học sinh mới. Một lần, tôi đọc một bài viết của mình, thầy sửa theo từng câu tôi đọc nên chỉ vài câu là tôi kêu thôi em không đọc nữa, viết toàn sai thế này. Vậy là thầy không sửa nữa, để cho tôi đọc cho hết bài. (Thực ra vì ngày ấy lũ chúng tôi toàn đứa chết nhát, chứ năm ngoái một lần tôi xem một bạn Tây dạy cho mấy đứa lít nhít còn chưa đi học lớp một mà có đứa đã biết trêu thầy giáo – nó trả lời thầy “My name is baby”.)

Bữa khác tôi sẽ viết một bài tử tế hơn về hệ thống dạy thêm và học thêm. Dĩ nhiên là tôi cũng biết những mặt trái của nó nhưng tôi chưa bao giờ thấy người ta ghi nhận mặt phải của nó – điều mà tôi lại rất trân trọng – ấy là tạo ra những không gian dạy và học rất tự do cho cả thầy lẫn trò. Đâu đó trong cái không gian ấy, người thầy được dạy theo cách mà họ muốn, người học được lựa chọn những người thầy mà họ thích, được viết ra những gì mà họ thực sự nghĩ – chẳng ai trong chúng tôi phải đi theo một cái khuôn mẫu nào cả.

Báo chí

Thực ra báo chí chỉ là nguồn cảm hứng viết lách cho tôi những ngày tôi học cấp III. Ngày ấy tôi còn mê xem bóng bánh nên chúi mũi vào các tờ báo thể thao, đặc biệt là tờ TT&VH. Bố tôi vẫn mua tờ này thường xuyên nhưng ngày ấy tôi toàn đọc ở lớp vì cô bạn ngồi cùng bàn mua đều đặn. Vụ xem bóng đá thì hiển nhiên là phải đi kèm với việc bình phẩm chém gió cũng bạn bè. Cứ sáng nào có báo là mấy cái đầu lại chụm lại ở bàn chúng tôi để chung nhau đọc một tờ báo. Đọc và chém gió không thỏa, chúng tôi bắt đầu cùng nhau viết match preview và match review vào quyển nhật ký lớp, hoành tráng như ai. Có khi ngoài cuốn nhật ký ấy ra tôi còn viết lách về bóng đá ở đâu nữa ấy mà giờ không thể nhớ ra (các diễn đàn chăng?) Sau này sang tới tận Mỹ một lần được giáo sư khen ngợi chuyện viết lách tôi đã khoe ra là tư duy phân tích của em chủ yếu là nhờ ngày xưa xem và viết bình luận bóng đá. (Bà giáo còn hỏi có thích học thêm về Xã hội học Thể thao – Sociology of Sport – không. Ơ no thank you ạ. 😀 )

Chỉ có vậy thôi mà ngày ấy tôi mê báo và viết lách đến mức đã muốn đi làm nhà báo, mặc dù cũng chẳng định viết về bóng đá đâu, mà thực ra cũng chả biết là sẽ viết về cái gì, chỉ là do thích viết thôi. Bố mẹ tôi thì chẳng cấm cản gì bao giờ, nhưng bảo là con gái làm báo làm gì cho vất vả. Thế nào mà rồi tôi cũng thôi chẳng suy nghĩ nghiêm túc về việc đi làm báo nữa. Nhưng đã có những ngày như thế, khi mà nguồn cảm hứng viết lách tôi có lại là nhờ các cây bút thể thao và nhờ cái quả bóng có 22 gã đàn ông chạy theo tranh nhau. Hiện giờ thì báo chí không tạo cảm hứng viết lách gì cho tôi, nhưng tôi hy vọng là thế giới ấy vẫn đang tạo cảm hứng cho nhiều người.

Hết.

Viết linh tinh vì tự dưng tỉnh giấc lúc mặt trời còn chưa dậy mà cóc ngủ lại được.

Chuyện về những giáo sư đáng kính của tôi (P2 và hết)

Giáo sư Dean (tên này tôi cũng bịa ra) là người đã bảo với tôi rằng việc tôi sẽ bỏ học hay cố gắng học nốt để lấy cái bằng cũng sẽ chẳng ảnh hưởng nhiều tới cuộc đời tôi. Ông bảo cuộc đời tôi sẽ được quyết định bởi những thứ khác. Ông là người nhìn cuộc đời một cách rộng rãi. Tôi nghĩ là ông hiểu cuộc sống là hệ quả của những sự lựa chọn chứ chẳng có định mệnh nào hết, và con đường nào cũng có những cái giá phải trả, có những cơ hội và rủi ro, và chẳng ai biết trước được nó sẽ dẫn mình tới đâu. Bản thân ông cũng đã chấp nhận trả giá để được sống và làm việc với đúng bản chất con người mình trong cái thế giới học thuật mà ông mô tả là “cũng chó cắn chó” như bất kỳ thế giới nào khác. Ông treo cái câu ấy lên trước cửa phòng mình.

Nền giáo dục đại học và sau đại học của Mỹ có rất nhiều điều đáng trân trọng, tuy nhiên lại đang bị lệch theo một xu hướng là nhìn chung coi trọng làm nghiên cứu hơn là giảng dạy (trừ những trường dạng liberal arts, nhưng đó là lý thuyết, tôi không có hiểu biết hay trải nghiệm gì với hệ thống đó nên không thể bình luận được). Còn trong các trường thường, địa vị, danh tiếng, và theo đó là cả tiền bạc của các giáo sư phụ thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu của họ, số bài báo xuất bản được trên các tạp chí chuyên ngành, càng uy tín càng tốt, chứ việc họ dạy sinh viên như thế nào ít ảnh hưởng hơn (nếu như là thực sự có chút ảnh hưởng nào đó). Kể cả những giáo sư kỳ cựu và đam mê nghiên cứu đến mất ăn mất ngủ cũng rất áp lực vì guồng quay này.

GS Dean là một người yêu công việc giảng dạy và yêu học trò. Ngày nào ông cũng phải làm việc từ sáng sớm tới tối khuya, nhưng chưa bao giờ từ chối tôi khi tôi nói là có chuyện muốn tâm sự. Thực ra tôi cũng chỉ dám tìm tới GS Dean vì ông là người làm cho học trò cảm nhận được rằng ông sẵn sàng lắng nghe và dành thời gian cho chúng tôi, còn các giáo sư khác nhìn đã thấy họ quay cuồng bận rộn, ngoài chuyện nghiên cứu, bài vở ra chắc cũng chẳng sinh viên nào dám tìm họ tâm sự. Thực ra Dean cũng có một sự nghiệp nghiên cứu đáng nể, nhưng nếu ông đã đặt công việc nghiên cứu của mình cao hơn đám học trò thì hẳn ông đã còn đi xa hơn rất nhiều trong việc đóng góp thêm những tri thức mới cho kho tàng tri thức của nhân loại. Nhưng ông chọn đám học trò.

Ông đã dành rất nhiều tình cảm, thời gian, và công sức cho công việc giảng dạy của mình. Ông đã từng là trưởng ban đào tạo của trường tôi trong nhiều năm – cái ban này là một tập hợp nhỏ những giáo sư thực sự quan tâm tới chất lượng giảng dạy, đặc biệt là cho sinh viên đại học. Họ cố gắng giúp nhà trường cải thiện chất lượng giảng dạy trong khi vẫn phải chạy theo cỗ máy xuất bản vì đó mới là thứ mang lại danh tiếng và đẩy thứ hạng của các trường lên, và thứ hạng và danh tiếng mới lại trở thành thứ thu hút sinh viên tìm đến xin học cũng như những dự án đầu tư, những thứ mang lại tài chính cho nhà trường. Việc tôi trở thành trợ giảng cho GS Dean là hoàn toàn tình cờ, nhưng nhiều khi tôi nghĩ không biết mình đã tu mấy kiếp để có được cái may mắn ấy.

GS Dean đã dạy cho tôi nhiều bài học về nghề giáo cũng như nhiều bài học về làm người, không phải bằng việc bảo tôi phải làm thế này hay làm thế khác, dĩ nhiên việc giảng dạy thì ông có góp ý nhưng chủ yếu vẫn bằng chính cách sống của ông, chính cuộc đời mà ông đã lựa chọn cho mình, cũng như những gì ông đã làm để được sống một cuộc sống như ông mong muốn. Kể cả khi đã về nước, có khi bối rối trước cuộc đời tôi lại viết thư cho Dean. Như thường lệ, ông không bao giờ khuyên tôi một cái gì cụ thể ngoài một việc duy nhất là cố gắng tìm ra xem mình thực sự muốn gì. Ông bảo là ông cũng mất một thời gian loay hoay trước khi xác định được mình muốn làm gì. Đến bây giờ tôi vẫn nhìn vào cuộc đời ông để tìm lấy ánh sáng cho cuộc đời mình.

Mặc dù Dean chỉ hơn bố mẹ tôi vài tuổi nhưng tôi vẫn hay gọi ông là grandpa (tương đương với ông nội hoặc ông ngoại) vì ông có phong cách của một người ông nhiều hơn là một người cha. Ông tỏ ra xúc động và cũng thích thú, nên cũng không quên thỉnh thoảng lại gọi tôi là granddaughter. Ông là người giàu tình cảm và coi trọng tình cảm, có lẽ là người đàn ông ngọt ngào nhất quả đất này mà tôi được biết. Ông hay bắt đầu bài giảng của mình bằng một slide nói về ngày này năm xưa trong lịch sử. Vào ngày sinh nhật tôi, ông bê cái thông tin ấy lên slide nói cho cả đám học trò trong lớp mà tôi trợ giảng biết. Chưa hết, buổi tối trong lớp của đám sinh viên sau đại học mà ông dạy, ông mang đến một ít cupcakes và nến và bắt cả lớp hát mừng sinh nhật tôi. Tôi thật muốn chui xuống đất vì xấu hổ, tôi không quen với những chuyện như thế. Hôm ấy Dean đã mua cho tôi một chậu hoa và một quả bóng bay làm quà sinh nhật. Ông cũng là người host một bữa tiệc chia tay cho tôi trước khi tôi về nước. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng nếu có một cậu con trai, tôi sẽ rất muốn đặt tên con trai mình theo tên bác ấy.

Dean hào phóng tới mức luôn trả tiền ăn trưa cho tất cả đám trợ giảng những ngày mà chúng tôi theo ông lên lớp. Có lần hai thầy trò đứng xếp hàng mua đồ ăn trưa, tôi bảo Dean là thầy trò mình cá xem là trong mười phút nữa có đến lượt chúng ta mua đồ ăn không nhé, ai thua sẽ trả tiền bữa trưa. Tôi thắng vụ cá cược ấy và tỏ ra là rất phấn khích vì thầy đã thua nên phải trả tiền ăn trưa, còn đi kể cho mấy bạn bán hàng về vụ cá cược của chúng tôi. Trên thực tế thì ngày nào theo ông lên lớp ông chả mua bữa trưa cho tôi. Ai bảo là nước Mỹ không có những bữa trưa miễn phí!!

Dean cũng là người lãng mạn. Sau khi phát hiện ra là cả hai chúng tôi đều thích thơ ca, tôi đã gửi cho Dean đọc những bài thơ của tôi và ngược lại, ông cũng gửi cho tôi những bài thơ của ông, và thỉnh thoảng chúng tôi lại nói chuyện thơ thẩn. Dean cũng là người đã giới thiệu tôi đọc Emily Dickinson, ông bảo có một câu thơ của tôi khiến ông nghĩ đến một bài thơ của Emily. Sau này tôi có mua một tuyển tập của Emily về đọc nhưng đến giờ vẫn chưa thực sự hiểu hay thích thơ của bà, một phần cũng do lười đi tra cứu những thứ từ ngữ phức tạp mà bà dùng. Nhưng thỉnh thoảng vẫn giở ra đọc.

Một ngày trước khi năm học mới bắt đầu, vợ chồng Dean gọi mấy đứa trợ giảng chúng tôi tới nhà ăn tối và theo như Dean nói, tiện thể thì nói chuyện công việc giảng dạy cho kỳ tới. Chúng tôi ngồi ngoài vườn uống rượu vang, ăn sushi và burger, rồi lại ních một bụng bánh ngọt, nói đủ thứ chuyện trong khi chiếc máy hát chạy những bài hát của thập niên 60 của thế kỷ trước. Vợ chồng Dean cho chúng tôi xem album ảnh gia đình và đổi lại tôi cũng cho mọi người xem những hình ảnh về Việt Nam mà tôi có trong máy tính. Nói chung cũng không có gì đặc biệt cả, nhưng chẳng hiểu sao buổi tối hôm đó như đã trở thành một cuốn phim quay chậm trong ký ức của tôi. Mỗi lần nhớ về nó, tôi lại như cảm nhận được cái không khí mát rượi của khu vườn, màu vàng nhạt của ánh đèn, vị của rượu vang, và cái không gian ngập trong tiếng nhạc mê đắm lòng người. Đôi khi tôi rất muốn viết nên một truyện ngắn từ trong lòng cái ký ức về cái không gian ngọt ngào của buổi tối hôm ấy. Nhưng chưa bao giờ viết được gì. [Gần hai tháng sau khi viết bài này thì tôi đã viết ra một truyện ngắn mang những nét ký ức về khu vườn này.]

Dean vẫn bảo, ông muốn các lớp học của ông trở thành một trải nghiệm tốt cho học trò thay vì tạo ra áp lực cho họ. Ông thực ra làm điều đó với tất cả những người mà ông yêu quý. Ông cố gắng tử tế với mọi người và với cuộc đời hết mức có thể. Không phải vì thế mà tôi không biết tới những nỗi buồn của ông, mặc dù ông luôn giấu hoặc tránh nói đến chúng. Nhưng xét cho cùng, tôi đã nói chuyện với ông, ăn trưa với ông không biết bao nhiêu lần, ông có giấu cũng không giấu hết được. Có thể tôi chưa bao giờ chia sẻ được với Dean những nỗi buồn ấy, nhưng tôi nghĩ là ông sẽ rất vui nếu biết được rằng ông là một người mà tôi nhìn vào để nhắc mình sống tử tế hơn nữa và vị tha hơn nữa với cuộc đời, và sẽ lấy đó làm cách để trả ơn những gì mà tôi đã nhận được từ ông. I will pay it forward. Phải rồi, tôi đã quên chưa bao giờ nói cho Dean biết điều đó. Nhưng sẽ sớm thôi.