Category Archives: Nghĩ ngợi

Trôi miên man về đâu một nhành hoa mới nở…

Tiêu đề chỉ mang tính minh họa, không liên quan đến bài viết.

Độ này trời hay mưa. Trong lúc lăn tăn giữa mấy đôi giày để đi những ngày mưa, tôi nhận ra là tôi có ký ức rất mơ hồ về mùa mưa năm ngoái. Hè năm ngoái mưa thế nào nhỉ? Năm ngoái tôi đâu có mất thời gian tần ngần trước mấy đôi giày đâu nhỉ? Năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ? Những ngày mưa năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ?

Cảm giác rất lâu rồi cuộc sống của tôi mới được ổn định đến độ tôi có thể so sánh năm hiện tại với năm trước. Dạo này gặp bạn bè tôi rất hay khoe là tôi đã thoát khỏi cái cảnh lúc nào cũng muốn bỏ việc. Thực tế là từ ngày ra trường tới giờ, hơn một chục năm, năm nào cuộc sống của tôi cũng có thay đổi về công việc.

Tôi biết nhiều người cũng luôn muốn nhảy việc, nhưng họ không nhảy. Đôi khi họ cũng muốn nhảy việc nhiều như tôi, hoặc không nhiều thì cũng một đôi lần. Nhưng nhảy việc nhiều cũng ngán như làm mãi một nơi vậy. Năm 30 tuổi, tôi bỏ việc và chán ngán tới mức chả buồn đi tìm việc, ai gọi gì thì làm, sống chết đói hơn một năm trời, cho tới khi một công việc từ trên trời rơi tòm xuống đầu trong lúc tôi cũng bắt đầu ớn cái cảnh phải vay mượn gia đình để sống. Tôi nhận công việc ấy đơn giản là vì tiền, thay vì cứ kén cá chọn canh như trước đây.

Cuộc đời thật khó lường. Cái công việc trên trời rơi xuống mà tôi cũng chẳng trông đợi gì ở nó ngẫu nhiên lại trở thành một công việc phù hợp với tôi, với lối sống hiện tại của tôi, và tới nay gần một năm rưỡi tôi vẫn muốn tiếp tục. Hồi mới nhận việc, tôi có nói với sếp, tui chưa làm ở đâu được tới hai năm cả, giờ nếu tui làm cho ông được tới hai năm là coi như lập được kỷ lục mới đó. Ông sếp gật gù, được để coi sao. Biết ổng hiền, tôi làm tới: ông ráng làm sếp cho tốt nha. Ổng cười ha hả. (Thật ra tôi chỉ tỏ vẻ nguy hiểm, còn sếp tôi mới “nguy hiểm” thật. Ổng chả chấp cái loại như tôi.)

Hiểu được mình thích gì với tôi rất chi là khó. Tôi biết nhiều người chỉ khịt mũi một cái là biết họ có thích hay là không. (Con mèo nhà tôi cũng vậy.) Tôi thì thích khám phá cái mới, nên khịt mũi một cái thì cái gì mới lạ tôi cũng thấy thích hết. Cơ chế của tôi không phải là khịt mũi, cơ chế của tôi là phải trải nghiệm rồi mới biết được.

Thật ra trước đây tôi không nghĩ được như vậy, tôi học được điều này là nhờ đọc các trang phân tích tính cách, ví dụ như thế này:

Like other NP types, ENFPs place high value on their personal experiences when it comes to discerning truth. Though not to the same extent as ESFPs, for ENFPs, “experiencing is believing.” Because of the high value they place on their personal experiences, ENFPs may feel they cannot fully know themselves until they have tried just about everything (contrast this with INJs, who feel they know whether they will like something without needing to experience it).

Nguồn: http://personalityjunkie.com/enfp/

Còn trẻ thì trải nghiệm nhiều thứ thì vui, nhưng cái rủi là nhiều khi trải nghiệm chỉ mang lại một kết luận là mình không thích một thứ gì đó, chứ cũng không nói được cho mình biết là mình thích gì. Không phải A có thể là B, có thể là C, mà cũng có thể là D. Nhưng B hay C hay D thì tôi không biết. Vậy nên ngoài việc ngẫm lại thật kỹ những trải nghiệm trước đây, tôi đành phải cậy nhờ vào dòng đời xô đẩy, kiên nhẫn với những trải nghiệm mới.

Công việc hiện tại của tôi, mà tôi nghĩ là có thể gắn bó, ít nhất là vài năm nếu có cơ hội, chẳng giống như những gì tôi đã từng thử hình dung về một công việc yêu thích. Hồi đầu tôi vẫn có cảm giác mình đang làm gì sai sai, rằng đây không phải lĩnh vực mình muốn cống hiến, không phải nhóm mình muốn target, và một ngày nào đó những cái thôi thúc thuở ban đầu kia cũng sẽ trỗi dậy và lôi tuột tôi sang một công việc khác.

Nhưng công việc này mang tới cho tôi một ích lợi mà tôi không có nhiều từ các công việc trước đây, đó là sự trưởng thành. Hồi mới ra trường đi làm tôi cảm thấy không làm chủ được công việc và nghĩ là do mình không được học hành bài bản tử tế. Rồi tôi đi học. Học rồi lại về đi làm thì tôi lại thấy mình loay hoay trong những mớ bòng bong của thế giới bên ngoài sách vở. Chỉ đến khi làm công việc này tôi mới dần dần học được một số kỹ năng cần thiết để làm việc, mà người ta vẫn gọi là kỹ năng mềm đó. Điều đó giúp tôi chủ động hơn trong công việc và không cảm thấy rối ren nữa. Tôi cũng học cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanh thay vì thảy lên bàn sếp một cái đơn xin nghỉ việc khi thấy quá tải và stress.

Thôi thì cũng tạm biết thế. Mai này không phải tự xin nghỉ mà bị sếp tống cổ đi thì lại từ từ tính tiếp. Ít ra từ giờ cũng bắt đầu hiểu rõ hơn một công việc như thế nào thì phù hợp với mình, hy vọng không còn trở lại những ngày tháng cứ lồng lộn lao vào những công việc đầy mệt mỏi và nhiều áp lực.

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…

Advertisements

Nếu không đọc sách

Nếu không đọc sách, có lẽ tôi sẽ cảm thấy rất cô đơn.

Đó là điều tôi nghĩ khi đọc một cuốn sách lúc chiều nay.

Đó là một cuốn sách kỹ thuật để phục vụ cho công việc, nhưng nó giúp tôi mở mắt ra rất nhiều. Nó giải thích được nhiều điều về những kinh nghiệm trước đây của tôi. Nó cũng nói cho tôi biết những gì trực giác tôi đã từng mách bảo, những bước tôi đã từng mày mò dò dẫm là đúng hay là sai. Nó cũng nói với tôi về những sai lầm thường gặp, về một vài kinh nghiệm để tránh những sai lầm đó. Giá như khi đi làm có một senior giảng giải và chỉ bảo cho tôi những điều này thì có lẽ tôi đã không nhảy việc nhiều đến vậy :D. Cách đây hơn tháng chuyện phiếm với mấy bạn đồng nghiệp tôi có nói một lý do tôi nhảy việc nhiều là bởi tôi thường cảm thấy cô đơn trong công việc.

Nhìn rộng ra, chẳng phải mỗi trong công việc mà trong cuộc sống nói chung sách vở với tôi không phải chỉ là một thú giải trí giết thời gian mà nó đã chia sẻ và nâng đỡ tinh thần cho tôi rất nhiều . Khi vui, tôi đọc sách. Khi buồn, tôi cũng đọc sách. Khi hoang mang, tôi lại càng tìm đến với sách. Ruột gan tác giả dốc ra thành con chữ thì tôi cũng mang tim phổi mình ra mà đọc chứ không phải đọc bằng não bộ với các chiến thuật đọc nhanh hiểu nhiều. Sách chia sẻ với tôi những điều tôi đã rõ mười mươi nhưng cũng chia sẻ được cả với tôi những điều tôi còn thấy mơ hồ hư ảo.

Nếu không đọc sách, biết đâu tôi cũng đã gia nhập một giáo phái cực đoan nào rồi cũng nên.

Ý nghĩa của giải Nobel Văn học

Sự so sánh sau đây là rất khập khiễng, nhưng về một khía cạnh nhỏ nào đó, tôi thấy giải Nobel Văn học cũng không khác gì một giải thưởng Hoa hậu. Tuy những người được đề cử cho this noble Nobel không tự ghi tên mình vào “cuộc thi” tưởng tượng này như các chị em (hay như các nhà văn Việt Nam phải tự nộp đơn xin xét giải thưởng tôn vinh gì gì đó), thì rốt cục người được trao giải đều là lựa chọn của một nhóm nhỏ những người được gọi là chuyên gia. Vậy nhưng công chúng lúc nào cũng hồi hộp theo dõi kết quả của sự lựa chọn ấy và luôn luôn chia thành hai “phe” lớn mỗi khi quyết định cuối cùng được đưa ra: ủng hộ hoặc phản đối. Giữa hai phe lớn này là hai nhóm nhỏ hơn: hoang mang chả biết đằng nào mà lần hoặc thấy chả ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới cả.

Cách đây năm năm (2011), nhà văn, dịch giả, và cũng là nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn học và dịch thuật Tim Parks có viết một bài mà tôi tin là tựa ban đầu của nó là “Why the Nobel Prize in Literature is silly” (Vì sao giải Nobel Văn học là ngớ ngẩn), sau đã được sửa thành “What’s wrong with the Nobel Prize in Literature” (Vấn đề của giải Nobel Văn học) cho dễ nghe hơn. Tôi không hẳn đồng ý với ông Parks về các lý lẽ mà ông đưa ra trong bài viết này, nhưng tôi lại hết sức đồng tình với quan điểm cơ bản của ông, đó là không nên quá coi trọng giải Nobel Văn học (“our foolishness at taking it seriously”).

Xét cho cùng, một cái mác của giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn từ không thích chuyển sang thích một tác giả nào đó không? KHÔNG! Và thiếu đi một cái mác giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn bớt yêu quý một tác giả ưa thích của mình không? KHÔNG nốt! Nếu bạn trả lời có cho một trong hai câu hỏi trên thì xin hỏi bạn đọc sách vì điều gì vậy?

Nếu bạn cảm thấy tiếc nuối vì nhà văn bạn yêu thích không được giải Nobel Văn học? Tốt nhất bạn hãy viết thư cho nhà văn ấy để hỏi ông ấy hay bà ấy có mong muốn được giải Nobel Văn học như bạn mong muốn ông ấy hay bà ấy được giải hay không. Và rất có thể trước khi viết thư, bạn hãy dành chút thời gian tìm hiểu xem vì sao Jean-Paul Sartre đã từng viết một bức tâm thư rất dài gửi tới Hội đồng chấm giải để giải thích tại sao ông từ chối nhận giải thưởng này.

Vậy ý nghĩa của giải Nobel Văn học là gì?

Trước hết, như mọi giải thưởng khác, giải Nobel Văn học tôn vinh một tập hợp giá trị nào đó, mà ở đây nôm na là giá trị của văn học. Nghĩa là những tác giả nào theo Hội đồng chấm giải được xem là tạo ra những giá trị đáng quý cho văn học. (Dù những tiêu chí lựa chọn cụ thể chưa bao giờ được công bố mà chỉ thỉnh thoảng lại thấy một thành viên hội đồng lên tiếng giải thích rằng tiêu chí này hay tiêu chí nọ mà công chúng đồn đoán (ví dụ, ảnh hưởng chính trị) không phải là tiêu chí mà họ xem xét để trao giải.)

Tuy tiêu chí không được công bố với công chúng, phải thừa nhận rằng xưa giờ giải Nobel Văn học toàn được trao cho những người viết có chất lượng. Bởi vậy mà người ta tin vào kết quả lựa chọn của Hội đồng chấm giải. Kết quả là, giải Nobel Văn học đã và đang mang tính định hướng công chúng rất lớn. Các con số thống kê chỉ ra rằng cứ mỗi khi kết quả của giải Nobel Văn học được công bố thì ngành xuất bản bắt đầu đổ xô đi xuất bản, tái bản, và dịch sách của những nhà văn được giải còn công chúng thì đổ xô đi mua và tìm đọc, kể cả với những người đã nổi tiếng ngất trời và giàu sụ như Bob Dylan! Giữa một biển tác giả tác phẩm, vàng thau lẫn lộn, biết chọn ai bây giờ? Thôi thì đọc thử một ông/bà được giải Nobel xem thế nào.

Nhưng dù có bao nhiêu người hết sức tin tưởng vào Hội đồng chấm giải Nobel, đây vẫn là câu chuyện về giá trị nên hiển nhiên là mọi lựa chọn của Hội đồng đều làm hài lòng một phần công chúng và không làm hài lòng một phần khác. (Chỉ là nhóm công chúng không hài lòng có làm ầm ĩ lên không mà thôi.)

Vậy khía cạnh tích cực của việc tôn vinh này là gì?

Tôi nghĩ là ít nhất họ tăng sự chú ý của công chúng tới một tác giả có chất lượng. Dĩ nhiên vì luật chơi là mỗi năm một người nên mỗi năm họ chỉ giới thiệu được có một mà thôi. Nếu bạn thật lòng quan tâm tới việc tìm kiếm những tác giả, tác phẩm có chất lượng, việc bạn cần làm không phải là hàng năm chỉ hồi hộp chờ đợi kết quả của giải Nobel Văn học hay bất cứ giải thưởng văn học nào khác mà hãy hàng ngày (hay hàng tuần) theo dõi các mục điểm sách, giới thiệu sách, giới thiệu tác giả từ vô vàn những tờ báo, chuyên mục, website, hay tài khoản twitter mà bạn thích.

Năm 2016 này, với việc trao giải Nobel Văn học cho một người được biết đến với tư cách một nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn hay nhà thơ, giải Nobel Văn học đã (một lần nữa) đẩy một giá trị khác của nó từ cánh gà lên sân khấu chính: tái định nghĩa văn học. Nobel năm nay không chỉ đưa ra định nghĩa về giá trị của văn học mà nó đã định nghĩa lại về chính khái niệm này.

Dù bạn muốn hay không, mọi khái niệm trên đời này vẫn luôn được định nghĩa và tái định nghĩa liên tục trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Khái niệm “văn học” cũng vậy. Người ta đang phản ứng ồn ào với việc trao giải Nobel Văn học cho Bob Dylan vì hành động này đang thách thức cách hiểu của tất cả mọi người về khái niệm “văn học”. Nếu chiểu theo cách hiểu truyền thống thông thường về văn học, thì có lẽ chỉ có một tập thơ và một cuốn hồi ký của Dylan được xếp vào địa hạt này – mà đó thì hiển nhiên không phải là di sản có giá trị nhất của ông và cũng không thể sánh được với các di sản văn học ở dạng truyền thống hơn của rất nhiều nhà văn khác. Phải chăng những ca từ trong các bài hát của Dylan cũng được xếp vào phạm trù “văn học”?

Có vẻ như Hội đồng giải Nobel Văn học đã xếp như thế!

Thật ra thì các lời bài hát của Dylan đã được giới học giả văn chương nghiên cứu lâu rồi, nhưng công chúng bên ngoài chẳng mấy ai quan tâm làm gì. Vả lại, ngay trong giới học giả cũng không thống nhất xem các lời ca ấy khi đứng độc lập, không đi với âm nhạc, mang tính văn chương tới đâu.

Dĩ nhiên Dylan cũng không phải là ngoại lệ.

Xin hỏi có bao nhiêu người nghe nhạc trên Trái đất này đã dành thời gian chỉ đọc lời bài hát mà không cần nghe phần nhạc? Bao nhiêu người đã từng chép lời bài hát vào sổ tay (khi đang không nghe nhạc)? Bao nhiêu người đã ngồi dịch lời một bài hát nào đó sang một ngôn ngữ khác? Bao nhiêu người đã từng trích dẫn một câu trong lời bài hát lên facebook hay twitter hay một chốn nào khác tương tự? Nếu nghĩ về những điều ấy, có thể bạn sẽ thấy rằng ranh giới giữa lời bài hát và phạm trù văn học cũng không thật quá rõ ràng.

Nếu nhìn về giải Nobel Văn học vượt ra ngoài ý nghĩa rất dễ thấy và phổ biến của nó là tôn vinh một cá nhân xuất sắc, hay là tôn vinh những giá trị nào đó của văn học, thì giải Nobel năm 2016 này đã làm được một điều mà rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển đã làm được (và chính nhờ thế mà đã được tôn vinh): thách thức tư duy của cả nhân loại.

Đọc bình luận của Tim Parks về giải Nobel Văn học năm nay:

Bob Dylan: The Music Travels, The Poetry Stays Home

Viết lách là gì? Viết lách là lao động.

Chuyện phiếm trong bữa tối tại một quán ăn trên một con phố nhỏ mang tên một nàng công chúa, giữa tôi với một người bạn:

– Kể ra cũng hơi xấu hổ vì đi học thạc sĩ ở bên kia về mà viết lách lại kém quá.

– Ờ thì mày là dân kỹ thuật, chắc không phải viết mấy. Chứ như bọn tao thì viết suốt, toàn viết thôi.

– Ừ chủ yếu là làm việc chứ có viết mấy đâu.

– Đó, bọn tao thì chỉ có viết thôi chứ có làm việc gì đâu.

Đôi khi những người hay (phải) viết lách lại thích tự giễu mình như thế. Nhưng thôi nào, phải công bằng một tí, viết lách cũng là lao động chứ. Kể cả khi bạn viết nhật ký cá nhân thì bản chất nó vẫn là lao động.

Chẳng hiểu sao tôi cứ có cảm giác rằng có một số người nghĩ rằng viết lách là một hoạt động dễ như ăn cháo đối với những người hình như là đẻ ra đã có gien văn hay chữ tốt. Nghĩa là gi gỉ gì gi cái gì họ cũng viết được, viết lúc nào cũng được, cứ đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa trong đầu rào rào chạy ra.

Trên thực tế, những người hay viết lách chẳng sớm thì muộn đều phải đối diện với một tình trạng gọi là writer’s block, tạm dịch là tắc mạch viết. Nghĩa là tự dưng chẳng viết được gì nữa. Có thể là cứ viết một hai từ, hoặc một hai câu lại xóa đi mà cũng có thể là cứ nhìn vào trang giấy hay màn hình máy tính hàng tiếng đồng hồ mà không nặn ra được một chữ nào. Tình trạng tắc mạch viết này có khi kéo dài đến hàng năm trời. Trên mạng có trăm phương nghìn kế người ta mách nhau làm thế nào để thoát khỏi tình trạng tắc mạch viết một cách mau chóng.

Kể cả khi không bị tắc mạch viết, nhiều người viết cũng cần có những điều kiện nhất định mới có thể viết được. Thường gặp nhất là nhu cầu được yên tĩnh không ai làm phiền. Ôi sao mà tôi yêu cái cau mày của Nicole Kidman trong phim “The hours” trong phân cảnh Virginia Woolf đang viết lách thì bị làm phiền đến thế chứ! Một trong những nỗi khó chịu lớn nhất cuộc đời tôi là đang viết thì có ai đó tự dưng bắt chuyện hoặc hỏi một câu hoặc có một âm thanh nào đó tự dưng gắt lên. Khi viết lách tôi thường cần một sự tập trung cao độ, kể cả khi đó là việc viết ra một thứ nhảm nhí cho mình mình đọc.

Tuy nhiên, giống như nhiều phụ nữ hay viết lách có con mọn, với tôi một ngoại lệ đáng yêu hoàn toàn chấp nhận được là con mèo :D. Những người viết ở nhà trông con hay trông mèo đều biết cách làm thế nào để viết được với một đứa nhóc đang cắn chân mình hoặc chạy khắp nhà và la toáng lên :D.

Ngoài nhu cầu phổ biến về sự yên tĩnh, mỗi một người viết sẽ có một hoặc vài nhu cầu khác để có thể viết lách được. Có những nhu cầu đơn giản và dễ hiểu, ví dụ như hút thuốc, đồng thời cũng có đầy nhu cầu vô cùng kỳ quái và khó hiểu. Nếu bạn có hứng thú tìm hiểu thêm, bạn có thể google “weird writing habits” thì sẽ ra một lô một lốc những bài viết tiết lộ cho bạn biết những chuyện kiểu như ai thì thích đứng viết, ai thì thích nằm viết, và ai thì thích không mặc gì khi viết.

Nhắc tới “tìm hiểu thêm”, tính chất lao động của việc viết lách thể hiện rõ ở công việc này hơn là ở những đòi hỏi về “điều kiện lao động”. Tôi có cảm giác rằng một trong những thất bại lớn nhất của việc dạy văn ở bậc phổ thông ở Việt Nam hiện nay là không dạy cho học sinh hiểu được rằng viết lách cũng cần phải có tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể đó là lý do vì sao tôi có cảm giác rằng nhiều người nghĩ rằng viết lách nghĩa là cứ đặt bút hoặc đặt tay xuống bàn phím là viết được, như có viết ở trên. Chuyện cũ nói lại: dạy văn ở phổ thông cơ bản đang là dạy học sinh cần phải học thuộc cái gì. Các thầy cô giáo giảng văn không phải là để gợi mở cho học trò tư duy mà là để “truyền đạt” lại một số cách hiểu một tác phẩm văn học và rồi sẽ chấm điểm các bài văn dựa vào sự ghi nhớ và nhắc lại được những cách hiểu đó. Barem chấm điểm môn văn luôn luôn phải có “đúng ý, đủ ý” bên cạnh một số yêu cầu khác dường như không quan trọng bằng.

Người bạn tốt của cách dạy như thế là các “bài văn mẫu” – một khái niệm với tôi là hơi nực cười. Không phải là chúng ta không cần các bài văn sẵn có để tham khảo; ngược lại, cái chúng ta cần chính là các bài văn để tham khảo – chứ không phải để làm mẫu. Tham khảo có nghĩa là đọc để biết người khác người ta nghĩ như thế về tác phẩm ấy, tác giả đó, chứ không phải là à người ta đã tổng kết là tác phẩm ấy, tác giả đó được hiểu như thế đó, ta chỉ cần ghi nhớ và viết lại y chang. Thảo luận văn học là một điều cần có ngay ở bậc phổ thông ở mọi lớp chứ không phải chỉ ở các lớp chuyên văn hay tới tận bậc đại học trong các chuyên ngành liên quan tới văn chương. Việc thảo luận ấy không chỉ tốt cho việc cảm thụ văn học mà còn vô cùng tốt cho việc tư duy về các vấn đề xã hội, nhân tình thế thái, vân vân. (Các vấn đề mà sớm hay muộn đám học trò cũng sẽ xôn xao bàn tán chém gió với nhau trong các hàng trà đá vỉa hè hay trong các quán cà phê hay trên các diễn đàn ảo tung chảo khi chúng lớn lên làm người lớn như ai :D.)

Trên thực tế, phải tới bậc thạc sĩ tôi mới nhận ra mình đã bị ảnh hưởng nhiều như thế nào bởi lối học viết lách thụ động ấy. Dù nhiều giáo sư bảo tôi viết lách tốt, có hai người đã viết nhận xét vào bài luận của tôi đại ý là em tóm tắt những bài đọc rất tốt, nhưng tôi muốn em viết nhiều hơn về quan điểm của cá nhân em về chủ đề của bài luận. Em nghĩ gì về những quan điểm của các bài báo và các cuốn sách mà chúng ta đọc?

Sau các nhận xét ấy, mỗi khi viết luận tôi lại tự hỏi mình, thế rốt cục là tôi nghĩ gì về cái vấn đề mà tôi đang viết? Rồi tôi nhận ra là điều ấy thật khó. Những gì người ta – các học giả nghiên cứu lâu năm – đã nghĩ ra trước khi tôi kịp nghĩ gì có khi đọc tới đọc lui còn chưa hiểu được hết, thử hỏi tôi còn biết nghĩ gì nữa. Tôi nói chuyện với mấy bạn học người Mỹ và tụi nó bảo cũng thấy khó khăn như tôi trong việc “nghĩ gì nữa”. Nhưng rồi chúng tôi cứ phải tập nghĩ từ bài luận này sang bài luận khác cho tới khi hình thành một thói quen cứ đọc là phải nghĩ: tôi nghĩ gì về việc ông bà nào đó nghĩ gì, viết gì, nói gì, bất kể ông bà ấy là ai, được thiên hạ tung hô hay bị nhân gian chửi rủa như thế nào.

Khi bạn viết, điều quan trọng nhất không phải là ai đó nghĩ gì mà là bạn nghĩ gì.

Tóm lại, những gì viết nãy giờ là muốn nói đến hai khía cạnh mang tính chất lao động của công việc viết lách: (1) là phải tìm hiểu, nghiên cứu, đọc tài liệu tham khảo về vấn đề mà mình viết; (2) là phải nghĩ cho ra bản thân mình chứ không phải bất kỳ một ai khác nghĩ gì về vấn đề mà mình viết.

Giờ nói tới khía cạnh thứ ba thể hiện tính chất lao động của việc viết lách, ấy chính là việc viết. Hay đúng hơn là việc viết đi viết lại, viết tới viết lui cho tới khi nào cảm thấy những gì mình viết ra là đúng với cái mà mình đang nghĩ trong đầu mà khi người khác đọc người ta có thể hiểu được mình muốn nói gì.

Dĩ nhiên có những bài viết là sản phẩm của “viết phát ăn liền”, quả thực là đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa rào rào chạy ra lấp đầy những trang trắng trước mặt người viết, rồi gần như không phải sửa sang gì cứ thế đem xuất bản (post) là thiên hạ rào rào nhảy vào like và phát tán. Nhưng với những người viết lách thường xuyên, chuyện viết đi viết lại, viết tới viết lui, viết viết xóa xóa, thậm chí viết đến phát khóc, bỏ ăn, mất ngủ vì viết mãi mà không ra được như mình mong muốn là chuyện rất bình thường. Bởi thế nên nếu bạn đang phải viết gì đó mà thấy viết mãi không ra cái gì, thậm chí là mãi không viết được ra cái gì, thì điều đó không có nghĩa là bạn không có khả năng viết lách về cái mà bạn đang phải viết mà chỉ là có thể bạn sẽ phải bước vào một giai đoạn lao động khổ sai hơn nữa trước khi có thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm mà thôi. Thường thì những lúc như thế cứ viết bừa ra mọi thứ đang nhảy múa trong đầu bạn, không cần chúng phải có nghĩa, không cần chúng phải logic hay liên quan tới nhau, cứ phải viết ra rồi tính tiếp.

Một mô tả về công việc viết lách của Paulo Coelho có thể được đọc ở đây.

Mà nhân tiện nhắc tới việc viết đi viết lại, xin chia sẻ một lời khuyên dành cho người viết lách mà tôi đọc được cách đây nhiều năm, có bắt chước làm theo, và cảm thấy vô cùng chí lý, ấy là đừng vứt đi bất cứ thứ gì mình viết. Làm được việc này không phải dễ vì đôi khi (hoặc nhiều khi) đọc lại vài thứ mình viết thấy chúng sao mà ngô nghê, nông cạn, sai bét, buồn cười không phải lối, quá đau khổ, quá sướt mướt, hoặc chứa đựng muôn vàn sự dở hơi khác.

Coi trong phim hoặc trong chính đời thực của chúng ta có một phân cảnh dễ gặp là người viết vo nát mảnh giấy chứa đựng những gì mình vừa viết ra, có khi là cả nguyên một trang chữ hoặc có khi chỉ là một hai câu, rồi ném cái viên giấy ấy vào sọt rác hoặc vào góc nhà cho bõ tức vì viết chán quá. Tốt nhất là nên ném vào góc nhà, hoặc vào một cái thùng rác sạch (chuyên đựng giấy bỏ chẳng hạn) để khi cơn tức giận qua đi thì hãy gom chúng lại, mở ra, vuốt cho phẳng phiu, rồi đem cất vào một cái hộp nào đó. Thực tế là nhiều khi đọc lại những gì ta đã từng cho là dở hơi và đáng xấu hổ lại cho ta những ý tưởng viết lách mới hoặc soi sáng ra một điều gì đó cho cái đầu lúc nào cũng ngổn ngang suy nghĩ của ta.

(Giờ tôi hầu như không viết trên giấy, nhưng trong máy tính phải có vài file để phục vụ cho việc viết đủ thứ lăng nhăng xì cuội không đầu không cuối và cứ giữ lại hết tất tật những thứ chổi cùn rế rách ấy.)

Tóm lại, bài này tuy viết theo văn phong lan man nhưng chỉ có một ý chính thôi: viết lách có thể là nhiều thứ – là nghề nghiệp tay trái hoặc chân phải hoặc là sở thích cá nhân hoặc là một công việc dù ghét cay ghét đắng nhưng vẫn phải làm – nhưng dù là gì thì nó cũng là một dạng lao động đòi hỏi người lao động phải bỏ thời gian và công sức ra để làm, có lúc buồn, có lúc vui, có lúc nhàn hạ, có lúc lại khốn khổ không ai bằng :D.

Học hành: vui và không vui

Sau khi tôi viết bài “Những niềm vui học hành”, có bạn hỏi, thế những bất mãn học hành là gì đấy? Hỏi thế cũng có cái lý của nó nhưng mà thôi, gọi là bất mãn làm gì cho hại sức khỏe với mau già. Ta phải tập nhìn các sự vật hiện tượng một cách khách quan, không phán xét, không káu giận, để lấy cái ánh sáng đó mà soi sáng cho hiện tại mông lung :D.

Thật ra khi bắt đầu viết bài đấy, tôi đang nghĩ và đã bắt đầu viết về những nỗi buồn học hành, nhưng rồi viết một lúc, các niềm vui học hành thuở nào lại từ ký ức tràn về trong khi những nỗi buồn cứ luẩn quẩn, viết mãi cũng không thấy ra cái hình thù gì. Thế nên kết quả là bài đó đó :D.

Thế tại sao sau này đi học tôi lại thấy buồn nhiều hơn vui?

Hết năm thứ nhất đại học, tức là sau hai học kỳ cùng với một kỳ nghỉ hè dài phè phỡn mà những năm học phổ thông nhẽ ra cũng đã phải có mà thực tế thì trong nhiều năm liền đã không có, tôi phát hiện ra một vấn đề là những môn mình được 9 điểm và những môn mình được 5 điểm chả khác gì nhau, ấy là nghỉ hè xong mình quên sạch. Thế là từ đó tôi bắt đầu nghĩ ngợi về chuyện học mà rồi quên sạch thế thì học để làm gì.

Phát hiện ra vấn đề không khó: tôi không thích ngành mình đã chọn. Nói cho chính xác hơn, ngành ấy phải học rất nhiều Hóa và tôi thì chưa bao giờ thích môn này cả. Tôi không dốt hóa, bởi vì việc giải mớ bài tập hóa học ở bậc phổ thông, hay kể cả thi đại học, xét cho cùng cũng chỉ đòi hỏi tư duy logic là chính, mà cái đó thì tôi không thiếu. Nhưng học theo kiểu vị lợi, tức là để qua được bài kiểm tra, qua được kỳ thi đại học, thì cũng khó mà sinh ra được niềm vui, nhất là khi ngay từ đầu niềm vui ấy đã không tồn tại. Học gạo mãi thì cũng ức chế.

Sau thì tôi vẫn học hết cái ngành ấy, cầm tấm bằng đại học, rồi đi làm một nghề chẳng liên quan. Đi làm được hai năm, tôi có một cơ hội đi học trở lại, lần này là một ngành mình thích, và cũng rất liên quan đến cái nghề mình đã làm. Hơn thế nữa, lại còn được đi học ở một nền giáo dục xét về nhiều mặt tôi cho là tử tế hơn nền giáo dục mình vẫn biết.

Niềm vui học hành mau chóng trở lại. Tôi lao đầu vào học, như nắng hạn gặp mưa rào, lại một lần nữa chẳng vì cái gì cả. Học là vui. Đến giờ tôi vẫn nhớ những buổi lên thư viện, nhớ những lần ngây ngất đi giữa những giá sách cao ngất đến trần, nhớ sức nặng của những chồng sách ôm về từ thư viện, nhớ những góc mình đã ngồi đọc sách vào nhiều buổi sáng, trưa, chiều, tối. Nhớ những bài luận dù được điểm A vẫn chi chít bút đỏ của giáo viên, để hiểu rằng điểm số chỉ là tương đối còn chân trời để tiếp tục khám phá thì thênh thang. Nhớ lời phê của một giáo sư nghiêm khắc trong một lớp học rất khó khăn với tôi, đại khái là you really need to improve your English writing ở cuối một trang mà ổng ngồi chữa cho tôi từng lỗi một. Nếu không có lời phê ấy và cái trang ấy, tôi sẽ vẫn còn tưởng tiếng Anh của mình là ok vì các giáo sư khác không ai nói gì về tiếng Anh của mình bao giờ lol.

Dĩ nhiên, thiên đường nào cũng có những bóng tối :D. Nói có thể hơi cường điệu một chút thì không chỉ nền giáo dục phương Tây mà cả xã hội phương Tây đã bán mình cho một chữ: efficiency. Nghĩa là “tính hiệu quả”. Tính hiệu quả nghĩa là gì? Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary mà tôi có, efficiency is the quality of doing something well with no waste of time or money. Dịch đại khái sang tiếng Việt: hiệu quả là làm tốt một việc gì đó mà không lãng phí thời gian hay tiền bạc.

“Hiệu quả” không nhất thiết là một điều xấu. Hai năm đi học ở bển là hai năm tôi đã học được nhiều điều nhất trong một thời gian ngắn nhất, nếu so sánh với các trải nghiệm khác trong cuộc đời cũng chưa dài lắm của mình tính đến thời điểm này. Đó là một nền giáo dục được thiết kế để người học có điều kiện lĩnh hội được nhanh nhất những điều thiết yếu quan trọng nhất đã được tinh chế ra từ một lịch sử khám phá tri thức của giới trí thức phương Tây. Ở đây lịch sử cần được hiểu là phần lịch sử đã được ghi nhận, a perceived history, bởi vì con người không bao giờ hiểu hết được toàn bộ lịch sử như nó thực sự đã là. Bởi vậy nếu mong muốn lớn nhất của bạn với việc học hành là học được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, nền giáo dục kiểu phương Tây có lẽ là lựa chọn tốt nhất mà bạn có thể có được trên thiên đường hạ giới này :D.

“Hiệu quả” thật ra chẳng tốt cũng chẳng xấu. Vấn đề nằm ở hai chữ “bán mình” kia. Tôi cho là từ ngày ông kỹ sư cơ khí Frederick Taylor phát minh ra phương pháp quản lý mang tính khoa học (scientific management) và đặc biệt là từ ngày ông Henry Ford quyết định đầu tư vào phát triển và ứng dụng dây chuyền lắp ghép (assembly line) trong sản xuất ô tô thì xã hội phương Tây bắt đầu thực sự chuyển mình: rốt cục thì họ cũng tìm ra cách để tôn thờ giá trị của sự hiệu quả. Một sự tôn thờ tận tâm, chân thành, chung thủy mà có lẽ không cần tốn tới ngàn tỉ xây tượng đài. Với tôi thì tôn thờ cái gì quá mức cũng đồng nghĩa với việc bán linh hồn của mình cho thứ đó – bán đứt hay bán một phần thì còn tùy vào mức độ tôn thờ.

“Ba thói xấu lớn nhất của người Mỹ là tính hiệu quả, đúng giờ, và khao khát thành công. Chính chúng khiến người Mỹ cảm thấy cuộc sống của họ bất hạnh và quá căng thẳng.”

The Importance of Living, Lâm Ngữ Đường

Khi tôi bước chân vào nền giáo dục hiệu quả ấy, hai thực thể “bán mình” gặp nhau, có điều là mỗi thằng thờ một chủ :D. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã trở thành một nô lệ trung thành của niềm vui. Thiếu vắng niềm vui tôi không chỉ buồn mà còn đau khổ lol. Thật ra sống trong nền giáo dục ấy tôi cũng có niềm vui, như đã kể ở trên, chỉ có điều khi phát hiện ra người mình yêu tôn thờ những thứ khác, không giống với mình, thì cũng ít nhiều thất vọng :P. Rồi thêm một chút sóng gió bên ngoài xô đẩy, thế là tình nghĩa đôi ta đến thế thôi :D.

Về chuyện học hành, xét cho cùng, vui hay không vui cũng chỉ là một chiều kích để đánh giá – và không nhất thiết là chiều kích quan trọng nhất. Nhìn lại chuyện học hành của mình tôi nghĩ nó giống như một lát cắt từ cuộc sống, có thể cho mình biết mình đã và đang sống cuộc sống của mình như thế nào: như một kẻ nô lệ nghiện ngập đầy tự hào chẳng hạn.

Mà nô lệ cho cái gì, nghiện ngập bất cứ thứ gì thì cũng đều khổ cả :P.

Độc thân. Mưa. Thì làm gì? (3)

Có thể hãy nên dành một ngày mưa không biết làm gì để suy nghĩ nghiêm túc về sự cô độc của loài người.

Chiều tối qua Hà Nội mưa to lúc tôi định ra khỏi nhà, nên tôi lại đổi kế hoạch mà nằm nhà ăn tối một mình. Nhưng không phải vì thế mà tôi nghĩ đến chuyện viết bài này. Từ vài bữa trước khi đọc bài báo “10 Surprising Facts About Loneliness” tôi đã nghĩ đến chuyện viết phần thứ ba cho series này, có điều lười chưa viết, và cũng chưa có ý gì hay để bắt đầu viết. Tối qua tôi vẫn chỉ biết nằm nghe Shayne Ward mãi sau khi vô tình nghe nhạc của bạn này đúng lúc trời mưa và phải viết thư cho một người bạn chỉ để bảo một câu rằng, sao bạn Shayne Ward hát hay thế mà giờ tớ mới biết nhỉ. Bạn hỏi, ai vừa giới thiệu Shayne Ward cho bạn à. Đâu, lúc chiều tớ đang lang thang nghe nhiều thứ thì gặp bạn Shayne này.

Lúc một rưỡi sáng con mèo gọi tôi dậy cho nó ăn vì tôi đã lười biếng ngủ luôn trên sofa trong phòng khách thay vì cho con mèo ra ban công rồi chui vào phòng ngủ để tránh bị nó làm phiền vào giữa đêm và sáng sớm. Cho mèo ăn xong tôi mới làm việc đó. Nhưng tự dưng chả ngủ lại được. Rồi chẳng hiểu vì sao lại nhớ tới một chuyện cũ làm tôi nghĩ đến việc viết bài này, thế là nhỏm dậy, bật đèn sáng, viết.

Chuyện cũ ấy xảy ra hồi tôi còn hay lui tới công tác tại một cộng đồng người Thái ở miền Tây Nghệ An. Tôi khi ấy đã trở nên thân thiết với cộng đồng tới mức có thể vào bất cứ nhà nào xin một bát cơm cũng không phải ngần ngại gì. (Dĩ nhiên, không ai lại đi chọn những nhà quá nghèo và những nhà mà mình chưa lui tới bao giờ.) Thường thì tôi sẽ phải tự lo thu xếp chuyện ăn uống của mình, có ăn nhờ nhà ai cũng phải tự mình mua đồ mang đến góp nấu và ăn chung với chủ nhà, hoặc phải gửi tiền, chứ không đi ăn không của những người khó khăn hơn mình rất nhiều. Nhưng bạn biết đấy, khi đã thực sự thân thiết thì nhiều khi cũng không phải quá nguyên tắc những chuyện như thế.

Hôm ấy là tầm buổi trưa, giờ nghĩ lại chẳng hiểu sao tôi lại bơ vơ vào bữa trưa ấy. Có lẽ là do có thay đổi đột xuất trong lịch làm việc cá nhân. Tôi đi từ một bản ở xa ra tới một bản ở gần trung tâm xã và quyết định tạt vào một nhà cũng quen quen ở bản này. Mà có lẽ khi ấy ban đầu tôi vào là có việc gì thật, chứ không phải chủ động để xin bát cơm. Và hình như vì là buổi trưa, chị chủ nhà hỏi tôi đã ăn gì chưa. Chắc là tôi đã trả lời là em chưa ăn gì, nếu gia đình có cơm cho em thì cho em ăn cùng với. Khi ấy gia đình đã ăn cơm trưa rồi, nhưng chị chủ nhà bảo để chị dọn cơm cho, ăn đi đừng ngại. Thế là tôi gật đầu.

Người Thái ăn rất đàng hoàng. Một người ăn cũng phải dọn mâm bát đầy đủ, chứ không phải như dân thành thị ngày nay ăn một mình có thể một mình ôm một tô ngồi bất cứ đâu cũng được. Nên là chị chủ nhà dọn cho tôi một mâm đàng hoàng. Ngoài chén bát và những đĩa đồ ăn cho tôi, tôi thấy trên mâm còn một chiếc bát và một đôi đũa nữa. Tôi thắc mắc. Chị bảo là để em ăn cho đỡ buồn. Chị giải thích là người Thái làm gì cũng phải có đôi, để thêm một chiếc bát không, một đôi đũa trống như thế để không phải ăn một mình. Quả thực là tôi nhớ đại khái vậy, dù giờ nghĩ lại cảm thấy không đúng lắm, vì tôi đã lang thang ở cộng đồng đấy suốt, cũng đã từng thấy những người Thái ăn một mình rồi chứ nhỉ, sao tôi chưa bao giờ thấy họ để bát đũa không bên cạnh. Thôi thì cứ biết đại khái ký ức của tôi là như thế. Là tôi cảm kích cái ý nghĩ và hành động và lời giải thích ấy của chị chủ nhà nên cứ nhớ mãi, dù có thể câu chuyện nhỏ này chưa bao giờ có dịp kể cho ai nghe.

Thật ra thì người Việt mình vốn cũng ăn uống rất đàng hoàng, vì ở nhà tôi cũng được mẹ dạy cho nhiều thứ nho nhỏ mà cũng quan trọng phết quanh chuyện ăn uống, ví dụ như để phần cơm cho người về muộn như thế nào. Chỉ những khi ở một mình nhiều khi tôi mới giản lược chuyện ăn uống xuống thành việc ôm một tô ngồi ăn ở một đâu đó không phải là bàn ăn, như là ở ghế sofa hay tại bàn học/làm việc và dán mặt vào máy tính hay TV. Nhưng nhiều khi khác tôi vẫn có ý thức về chuyện ăn uống phải đàng hoàng, một mình cũng phải bày cho đủ chén bát ra bàn, ăn có thể nhìn ra ngoài cửa sổ, nhưng không xem cái gì cả.

Dân Mỹ cũng tương tự. Nếu sống một gia đình với nhau thì thường trong nhà sẽ có một cái bàn ăn tử tế. Sống độc thân thì tùy, có người ăn là phải ngồi bàn ăn đàng hoàng mới ăn được nhưng cũng có những người có thể ngồi ăn một chỗ khác không phải là bàn ăn cũng không sao, như tôi kể về tôi ở đoạn trên. Còn chuyện ăn một mình mà đặt thêm một chiếc bát không, một đôi đũa trống cho “có đôi”, không phải ăn một mình thì cả đời tôi đến giờ mới có duy nhất một lần trải nghiệm như vậy.

Thật ra trong văn hóa của người Việt cũng có những điều tương tự, nhưng có lẽ là đang bị mất dần đi, chẳng biết sau này có ai để ý đến nữa không. Tôi nhận ra điều ấy khi có một lần em gái tôi tới chơi với tôi ở Mỹ đã mua tặng tôi hai cái bát Nhật làm quà. Hai cái bát cọc cạch. Nghĩa là không phải cùng một đôi. Dù chiếc nào cũng đẹp, chiếc nào tôi cũng thích. Tôi đã bảo nó sao mua quà buồn cười thế, tặng bát thì phải tặng một đôi chứ sao lại tặng cọc cạch thế này. Thật ra tôi cũng không biết vì sao tôi lại nghĩ thế và nói thế, vì tôi cũng không phải là người hay để ý những chuyện quà cáp phải mua ra làm sao. Tôi chỉ có thể đoán là vì tôi vẫn quen được nhìn thấy những thứ như vậy đi thành đôi, thành bộ nên tự dưng thấy chúng đi một mình thì tôi thấy lạ. Chứ nếu là một cái cốc uống nước (mug) thì chắc tôi cũng chẳng ý kiến gì, vì tôi cũng thích cốc đẹp nên hay đi mua lẻ tẻ chứ không mua theo đôi theo bộ.

Một lần khác tôi được tặng một đôi tách-đĩa cô độc. Chính xác ra nó là một cái cốc uống cà phê truyền thống của người Armenia, nhưng nhỏ như cái tách uống trà của người Việt mình, và có một cái đĩa đi kèm. Lần ấy cô bạn người Armenia của tôi về nước chơi và có hỏi tôi có thích quà gì từ Armenia không. Tôi vẫn hay thấy bạn ấy và một người bạn Armenia khác uống cà phê trong chiếc tách ấy, đẹp, nên tôi đã nói là tôi cũng muốn có một cái. Khi bạn ấy tặng tôi chiếc tách và chiếc đĩa đi kèm như vậy, tôi cũng có cảm giác kỳ cục như khi nhận được hai chiếc bát đẹp mà cọc cạch mà em gái tôi mua cho vậy. Vì tôi không quen nhìn một đôi tách-đĩa cô độc như thế. Dĩ nhiên tôi đã chỉ nhận và cảm ơn chứ không nói gì khác.

Đã từ lâu tôi đã nhận ra là con người ngày càng trở nên cô đơn và cô độc hơn trong các xã hội hiện đại và hậu hiện đại. (Theo Dictionary.com thì solitude (cô độc) có nguồn gốc từ sōlitūdō trong tiếng Latinh và đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 14.) Nói như vậy không phải là để phán xét, bởi đó là những bước đi của lịch sử, nhiều khi cảm giác như một cơn lốc của số phận loài người, không thể tránh được. Đôi lúc nghĩ cực đoan, tôi lại cho rằng đỉnh cao của văn minh nhân loại đã lùi xa lắm rồi, chỉ còn lại ít tàn tích mà thôi, ấy là nền văn minh nông nghiệp, khi con người gắn bó với thiên nhiên nhiều hơn, với nhau nhiều hơn, và với chính mình nhiều hơn. Thật ra, nền văn minh nào cũng có những vướng mắc của nó. Đời sống kiểu làng xã cũng nhiều điều gò bó, tàn nhẫn, và bất ổn.

Vả lại, chính sự dư thừa thực phẩm từ các nền văn minh nông nghiệp (và sự trao đổi hàng hóa) đã dẫn tới sự phát triển của các đô thị và theo đó là lối sống thành thị của những tầng lớp không còn là nông dân nữa bởi họ (hay là chính chúng ta, người viết bài này và những người đọc bài này) không cần phải tự làm ra thực phẩm để ăn mà thay vào đó có thể nghiên cứu khoa học, buôn bán, và làm thơ. Rồi xã hội loài người cứ dần dần diễn tiến tiếp như chúng ta về cơ bản vẫn biết.

Sự cô độc và sự cô đơn đã từ lâu trở thành một phần của cuộc sống bình thường. Bài “10 sự thật đáng ngạc nhiên về sự cô đơn” mà tôi nhắc ở đầu bài viết này đại ý tôi dịch tóm tắt thế này (trong ngoặc vuông là chú thích hoặc bình luận của tôi):

  1. Sự cô đơn không phụ thuộc vào việc bạn có bao nhiêu bạn bè và các mối quan hệ, mà nó phụ thuộc vào chất lượng của các mối quan hệ ấy theo cảm nhận của bạn.
  2. Hơn 60% những người cô đơn là những người có gia đình. [Chắc là theo một khảo sát của Tây về một xã hội Tây.]
  3. Sự cô đơn tiêu cực hóa cách chúng ta nhìn nhận về các mối quan hệ của mình.
  4. Sự cô đơn có thể lây lan qua các mạng xã hội.
  5. Sự cô đơn làm cơ thể chúng ta cảm thấy thực sự lạnh hơn. [Vậy hãy nghe lời khuyên của tôi trong hai bài trước thuộc cùng series này, kiếm cái gì đó ấm nóng theo nghĩa đen mà lấp vào những ngày mưa lạnh – cái gì đó là cái gì thì tùy vào hiểu biết và năng lực của bạn :D.]
  6. Sự cô đơn làm cơ thể chúng ta phản ứng như khi bị tấn công (tăng huyết áp và cholesterol, tăng stress…)
  7. Tình trạng cô đơn kéo dài sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.
  8. Sự cô đơn làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể.
  9. Sinh viên năm nhất mà cảm thấy cô đơn thường đáp ứng kém hơn với các mũi tiêm phòng cúm. [Các năm sau sẽ quen dần với sự cô đơn, sức đề kháng sẽ tốt hơn lol.]
  10. Sự cô đơn cũng nguy hiểm như là hút thuốc lá.

Chà nghe cũng ảm đạm thật đấy. Thành thực xin lỗi bạn đọc nếu làm bạn buồn hơn hay lo lắng hơn.  Nhưng có chuyên gia bảo là để đối phó với nỗi cô đơn cần có ý thức về nó và chấp nhận nó. Một số hướng dẫn khác có thể đọc ở đây. Và xin tiết lộ với bạn là sự cô độc cũng có những giá trị nhất định của nó.

Những bài sau của tôi trong series này nói riêng và trên blog nói chung hy vọng sẽ sáng sủa hơn, vì tôi có nhận được các comment từ người thân, bạn bè nói rằng blog này viết được nhưng buồn quá. Nhưng quả thực cũng như nhiều độc giả của blog này, tôi cũng phải loay hoay với sự cô độc của chính mình, nên mới nảy ra trò viết series này (hay là viết chính cái blog này). Chúng ta cùng cố gắng vậy :P.

Nếu nghe Shayne Ward không làm bạn vui hơn, bạn có thể thử với Bruno Mars hoặc Jason Mraz xem sao. 🙂

Tránh né hay chân thành?

“Mỗi thứ rơi xuống trước mắt anh dường như không có gì khác hơn một hình ảnh có sẵn trong tâm trí anh. Nhiều ngày trôi qua, và mỗi ngày một chút nỗi đau đớn trong anh được kéo lộ ra ngoài. Cảm giác về mất mát tóm lấy anh, và nó không chịu buông anh ra. Có những lúc sự mất mát ấy trở nên quá lớn, và quá ngột ngạt, đến mức anh nghĩ nó sẽ không bao giờ buông anh ra.”

Tôi chép lại những dòng này của Auster trong một bức thư gửi cho một người bạn. Một bức thư than thở, hiển nhiên rồi. Tôi đã định tránh né việc than thở về cuộc đời trên blog, vì cuộc sống của ai cũng đều quá nhiều điều mệt mỏi rồi. Tôi không muốn mọi người đọc thêm những thứ u ám từ blog mình nữa. Nhưng như đã nhắc ở một post cũ, tôi cảm thấy như những nỗi buồn trong lòng tôi nó mới chân thành, còn các niềm vui đều hời hợt cả. (Thật ra cũng có những niềm vui rất chân thành, chỉ là ít hơn các niềm vui hời hợt mà thôi.) Sau khi viết ra như thế, tôi nghĩ là tôi cần học cách yêu những niềm vui cuộc sống một cách chân thành hơn nữa thì mới mong viết ra được nhiều hơn về những niềm vui chân thành.

Thực ra tôi cũng không có ý định biến blog này thành một nơi chỉ có niềm vui, vì bản thân tôi nếu đọc một blog toàn viết về những niềm vui thì lại cảm thấy có một cái gì đó không ổn. Cuộc đời này có cả niềm vui và nỗi buồn, cả hạnh phúc và nỗi đau, cả hy vọng và tuyệt vọng. Nếu bạn chỉ viết về những niềm vui cũng có nghĩa là bạn chưa chân thành với cuộc đời. Dĩ nhiên cuộc đời bạn có thể nhiều niềm vui hơn nỗi buồn – đó là cái phúc lành của bạn – nhưng không viết về những nỗi buồn cũng có nghĩa là bạn đang tránh né chúng. Dĩ nhiên, điều ngược lại cũng đúng, bạn không viết về những niềm vui cũng có nghĩa là bạn muốn tránh né chúng.

Tôi đã từng nghĩ, tôi muốn blog này sẽ nằm đúng trên ranh giới của buồn đau và hạnh phúc, bởi vì cuộc sống này nó là như thế. Khi bạn còn hồn nhiên, bạn đón nhận hạnh phúc cũng rất hồn nhiên, bạn tận hưởng nó mà không phải suy nghĩ gì. Nhưng rồi bạn lớn lên, nhiều niềm hạnh phúc bắt đầu rời bỏ bạn mà ra đi. Có những điều ra đi mãi mãi không bao giờ quay trở lại. Một người thân mất đi. Một người bạn vĩnh viễn bước ra khỏi cuộc đời bạn. Đó chính là những mất mát. Có những mất mát bạn sẽ dễ dàng chấp nhận, nhưng cũng có những mất mát khiến bạn đau đớn và day dứt trong nhiều năm. Cũng có những mất mát sẽ theo bạn trong suốt cuộc đời, dù bạn có thể không bao giờ nói ra, thậm chí không bao giờ thừa nhận.

Sau khi nếm trải khổ đau và mất mát, hạnh phúc với bạn sẽ trở nên mong manh hơn. Không phải là bạn không còn tin vào hạnh phúc, không phải là bạn không còn tha thiết với hạnh phúc, nhưng bạn không còn hồn nhiên trong hạnh phúc nữa. Bạn thận trọng hơn. Bạn sẽ biết nói những câu như “biết thế đã” hay “để từ từ coi thế nào”, dù là nói ra miệng hay chỉ nói trong đầu mình cho mình mình biết. Bạn không sợ hạnh phúc, bạn chỉ sợ hạnh phúc rồi sẽ lại tan thành sương khói, “tỉnh ra lại thấy mình lênh đênh”.

Những mất mát trong cuộc đời tôi không chỉ là sự mất mát những con người cụ thể mà nó là sự mất dần đi niềm tin rằng cuộc đời này còn có những gì đẹp đẽ để mà hướng tới, để mà phải nỗ lực mà vươn tới. Thỉnh thoảng cũng lóe lên một chút hy vọng là mình vẫn có thể hướng tới một điều gì đó tốt đẹp, nhưng rồi lại cảm thấy cái hy vọng của mình nó cứ như ánh sáng đến từ một ngôi sao thực ra đã chết từ ngàn năm trước.

Đôi hôm trước tôi hẹn bạn đi cà phê. Trong lúc chờ bạn, tôi mua một tờ Tuổi Trẻ đọc. Thề có trời đất, lúc ấy tôi cảm thấy như mình đang đọc một tập truyện cười. Những câu chuyện nực cười. Từ nông nghiệp cho tới y tế cho tới chuyện tính phí đường bộ. Không chỉ nực cười mà còn toàn là những câu chuyện quá cũ. Tôi đã giảm thiểu việc xem thời sự và đọc báo từ nhiều tháng nay. Tôi cũng đã đóng hẳn facebook. Công việc phân tích chính sách thì tôi đã bỏ được gần một năm tròn.

Nói chuyện với bạn về, tôi đã viết một bài thơ đặt tên là “Cô gái mặc áo ca-rô và cơn bão hoàn hảo”. Cô gái ấy là bạn tôi. Cơn bão hoàn hảo chính là thế giới đang rối tung rối mù này. Ý tưởng viết bài thơ ấy đến khi tôi chạy xe máy đằng sau cô bạn đạp xe đạp đi đằng trước trên phố Hàng Bạc. Sau những câu chuyện về thế giới hỗn loạn, tôi thấy một hình ảnh trái ngược, là một cô gái đạp xe trên phố dưới ánh nắng cuối hè đầu thu của Hà Nội, nhìn rất thanh bình, nên muốn ghi lại cái hình ảnh đấy.

Cô gái mặc áo ca-rô
Màu đỏ
Đạp xe trên phố
Giữa
Một cơn bão hoàn hảo
 
Phía sau là tôi
Đứng
Ở rìa cơn bão
Nhìn theo

Tôi đã từng muốn mỗi một bài viết của tôi trên blog này sẽ là một sự pha trộn của cả niềm vui và nỗi buồn, cả khổ đau và hạnh phúc, để từ đó những người đọc blog này có thể nhìn cuộc đời từ cả hai phía. Nhưng rồi tôi nhận ra là mình chẳng nên ép mình vào bất cứ khuôn mẫu nào cả. Không phải khi nào trong tuyệt vọng chúng ta và cuộc đời cũng có thể học được cách tha thứ cho nhau như lời Trịnh Công Sơn đã viết. Là một người viết, tôi rất hiểu là đôi khi có những thứ người viết viết ra trước tiên là để an ủi chính họ, để lưu giữ lấy những khoảnh khắc mà hy vọng lấn át tuyệt vọng, chứ cuộc đời này không nhất thiết là luôn luôn như những khoảnh khắc ấy. 

Là một người viết, tôi nghĩ rằng mình không những cần phải chân thực với bản thân mình mà còn phải chân thực với cả độc giả của mình nữa. Tôi không nên vì không thấy một niềm hạnh phúc hay một tia hy vọng nào đó lấp lánh đằng sau những khổ đau của cuộc đời mà tránh né không viết về chúng. Muốn sống sót giữa cuộc đời này, tôi tin là chúng ta cần hết sức chân thành với nó, cả niềm vui cũng như nỗi buồn.

Những cuộc đời lành lặn

Nhiều người chỉ trích Hillary Clinton là bà ấy quá giàu thì không thể thực sự hiểu được những vấn đề của tầng lớp lao động mà bà ấy lên tiếng muốn bảo vệ. Dù tuổi thơ của Hillary có chút vướng mắc trong gia đình nhưng với nhiều người, cuộc đời của bà về cơ bản là yên ổn, may mắn, thành đạt, và giàu có hơn rất rất nhiều người. Dĩ nhiên, không phải là Hillary không biết điều đó. Trong cuốn hồi ký Living History, bà có viết:

“Thỉnh thoảng chúng tôi đi trượt băng trên sông Des Plaines trong khi các ông bố sưởi ấm và chuyện trò bên đống lửa về các vấn đề thời sự, chính trị. Tuy nhiên, “cuộc chiến tranh lạnh” là một khái niệm mơ hồ đối với tôi và thế giới của tôi lúc ấy dường như vẫn an toàn và ổn định. Tôi không biết đứa trẻ nào có cha mẹ ly hôn và mãi đến khi học trung học, tôi mới biết ngoài chết già thì người ta có thể chết vì những thứ khác nữa. Tôi nhận thấy tình trạng được bảo bọc chở che yên bình này tạo nên những nhận thức ngây thơ, nhưng đây là điều mà tôi mong ước cho mọi trẻ em.”

Sau này, tôi đọc được một câu chuyện có điểm tương đồng với câu chuyện về Hillary và những người kém may mắn hơn bà trong một cuốn sách khác – Teaching Hope (được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Người gieo Hy vọng). Erin Gruwell là một giáo viên hay dạy các lớp học sinh cá biệt. Cá biệt ở đây có nghĩa là các em quậy phá không chỉ ở trên lớp mà trong chính cuộc đời mình, một số có tiền án, một số mang vũ khí đến lớp, một số thường xuyên vào trại cải tạo. Đằng sau các em là những gia đình và cộng đồng hết sức phức tạp. Sau này, Erin đã khéo léo sử dụng phương pháp viết văn tự do để giúp các em học cách giãi bày về cuộc đời mình và chia sẻ nó với người khác. Erin thành công ngoài sức tưởng tượng, nhiều học sinh của chị học được cách kết nối với người khác và tự hàn gắn cuộc đời mình, một số quay lại giúp đỡ những người kém may mắn như mình. Họ gọi mình là những nhà văn tự do (freedom writer). Teaching Hope là cuốn sách Erin Gruwell và những nhà văn tự do kể lại những câu chuyện họ tiếp tục mang phương pháp viết văn tự do để giúp đỡ những học sinh tại các trường học, lớp học cá biệt.

Câu chuyện mà tôi muốn kể là như thế này. Một giáo viên kể lại câu chuyện anh/chị ấy đã khơi gợi để học sinh của mình kể ra những chuyện buồn trong cuộc đời mình như thế nào. Người giáo viên ấy đã quen với việc nghe những câu chuyện như vậy được chia sẻ trên lớp của mình và “thật sự không bao giờ nghĩ về nó cho đến khi… nhận được một lá thư từ một trong những học sinh ít nói… Cậu ấy tỏ ra bức xúc với cuộc thảo luận một chiều trong lớp. Có vẻ như cậu ấy thấy lạc lõng vì hiếm ai kể về những ông bố tốt, những gia đình trung lưu, những giá trị của tầng lớp trung lưu, và các vấn đề khác mà cậu ấy và một số em khác trong lớp biết rõ.” Người giáo viên này đã viết một bức thư cho cậu học trò của mình như sau:

“Nick thân mến!

Tôi không nghĩ rằng khi có những bạn nói rằng mẹ và cả nhà của mình đã phải vất vả như thế nào thì bạn đó xem việc có nhiều đứa trẻ được sinh ra ngoài giá thú và sống ở khu ổ chuột là “một thứ huân chương danh dự” như em nói trong thư của mình. Tôi chỉ nghĩ các bạn đang nói ra những điều mình biết. Tôi cũng giống em ở chỗ tôi lớn lên ở vùng ngoại ô với cả bố và mẹ của mình, bố tôi và tôi đã dành rất nhiều thời gian cho nhau, và tôi (cũng như em) thật sự không thể hiểu được nhiều điều mà những bạn sống trong những khu nhà công cộng kể ra.

Nhưng còn có một khía cạnh khác của câu chuyện. Nhiểu người chỉ trích trường công lập, nhưng một điều tốt của trường công là trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tầng lớp xã hội được học chung một chỗ. Điều này có thể mang lại lợi ích cho tất cả những người liên quan. Em, tôi, và những người lớn lên ở vùng ngoại ô nên biết ơn bố mẹ mình hơn vì đã làm việc chăm chỉ để cho chúng ta một mái ấm bình yên và thoải mái, và những học sinh sống ở nhà công cộng có thể nghe câu chuyện của em và biết rằng vẫn còn hy vọng. Hy vọng rằng có một cuộc sống khác. Một cuộc sống trong đó những người bố người mẹ cùng nhau nuôi dạy con họ; một cuộc sống trong đó cảnh bắn súng nơi công cộng không phải là chuyện thường ngày; một cuộc sống trong đó điện, nước, lò sưởi, ti vi lúc nào cũng có; một cuộc sống trong đó không ai phải nhìn vào mắt con mình và nói rằng đã hết thứ để ăn.

…Vì vậy, thay vì phản đối các bạn kể ra câu chuyện của mình, em hãy lắng nghe chuyện của họ và chia sẻ chuyện của mình, và hãy nhớ rằng không có cuộc sống nào hoàn hảo, chỉ có cuộc sống, và nó là do em tạo ra.

Thân mến,
Người giáo viên hiểu thế nào là cuộc sống của em”

Vậy đó, nếu bạn không tự nhận dạng ra được giá trị của một cuộc đời lành lặn như Hillary, nếu bạn cũng không có một ai đó nói cho bạn biết điều mà người giáo viên trong câu chuyện kể trên nói với cậu học trò của mình, thì giờ đây tôi đang nói cho bạn biết:

Bạn không cần phải có một cuộc đời vỡ nát để có thể hiểu được những khổ đau của người khác. Nhiều khi bạn phải là một người ăn cơm có thịt thì mới biết day dứt trước những đứa trẻ ăn cơm với muối. Điều quan trọng là bạn có muốn hiểu hay không thôi. Nếu bạn có lòng, tất sẽ có lúc bạn hiểu.

Ngược lại, nếu bạn có một cuộc đời vỡ nát và nghĩ rằng những người sống một cuộc đời lành lặn sẽ không bao giờ hiểu mình, thì rất có thể bạn đã nhầm. Biết đâu, chính một trong số những người có một cuộc đời lành lặn kia lại là người duy nhất có thể sưởi ấm được cho những nỗi đau trong lòng bạn.

Nói tóm lại là, những người khác sẽ cần chính xác cái cuộc đời mà bạn đã, đang, và sẽ sống. Cuộc đời này cần bạn là chính xác con người mà bạn đã là, đang là, và sẽ là.

Một tháng mới đã sang bạn nhé…

Người canh giấc ngủ

Năm 1841, Hans Christian Andersen sáng tác ra một nhân vật đặt tên là Ole Lukøje, sau này được biết đến rộng rãi trong văn hóa dân gian phương Tây như một vị thần canh giấc ngủ cho trẻ em, với cái tên thân mật hơn là Sandman. Tôi biết đến nhân vật này nhờ xem bộ phim hoạt hình Rise of the Guardians (đã được dịch sang tiếng Việt là Sự Trỗi dậy của các Vệ thần). Vệ thần là các vị thần bảo vệ cho sự bình an và những niềm vui trong cuộc sống của trẻ em.

Khi chúng ta trở thành người lớn, chúng ta không còn tin vào truyện cổ tích, không còn tin vào các vị thần bảo hộ nữa. (Một số sẽ chuyển sang tin vào thần tài, thần lộc – vì họ cần tài lộc hơn là bình an.) Nhưng chúng ta có thể không nhận ra rằng chính chúng ta phải trở thành các vị thần trong cuộc đời của những người khác. Các Vệ thần. Chúng ta sẽ phải canh giấc ngủ cho nhau.

Tôi có mấy cô bạn gái thân. Thỉnh thoảng tôi sẽ nhân dịp họ mời hoặc tự mình kiếm cớ đến chơi và ngủ lại với họ. Vào những ngày hoàn toàn bình thường thôi, không phải là những khi đau khổ buồn rầu chuyện gì. Đã hơn một lần tôi ngủ thiếp đi khi bạn tôi vẫn còn thức. Có khi là giữa một bộ phim mà chúng tôi cùng xem. Có khi chỉ là tôi ngủ trước khi họ còn đọc sách hoặc làm gì đó trên mạng. Những khi nhớ lại về những ký ức ấy, tôi nhận ra là lòng tôi rất an bình vào cái khoảnh khắc ngay trước khi tôi chìm vào giấc ngủ, mơ màng thấy bạn mình vẫn ngồi đó trong ánh đèn màu vàng ấm áp. Tôi thích cái cảm giác khi nhớ lại những khoảnh khắc ấy. Từ trước khi biết đến vị thần canh giấc ngủ của phương Tây, tôi đã nhận ra là tôi có những người canh giấc ngủ cho mình như thế, khi mình đã không còn là một đứa trẻ có mẹ canh giấc cho. (Đó là những ngày hoàn toàn bình thường trong cuộc đời, còn khi tôi nằm viện chẳng hạn, đã có gia đình họ hàng thân thiết thay phiên nhau canh giấc cho tôi.)

Nhưng không phải cứ ai canh giấc ngủ cho ta thì ta cũng có cơ hội canh giấc ngủ cho họ. Và bản thân chúng ta cũng đi canh giấc ngủ cho những người có lẽ chẳng bao giờ canh giấc ngủ cho ta. Nhưng cuộc đời là vậy. Chúng ta trả ơn cuộc đời bằng cách tiếp tục cho đi. Chúng ta pay it forward. Hiện giờ tôi là người canh giấc ngủ cho con mèo. Con mèo lại không canh giấc ngủ cho tôi (nó toàn phá giấc ngủ của tôi). Nhưng nó đã từng là vị thần canh giấc ngủ cho em gái tôi. Em tôi bảo, nhiều khi nửa đêm giật mình tỉnh giấc vì một giấc mơ không lành nào đó, chỉ cần nhìn thấy Nimo đang cuộn tròn ngủ dưới chân là mọi nỗi sợ của nó tan biến hết, nó lại chìm vào giấc ngủ ngon.

Keith Ferrazzi có viết một cuốn sách là Who’s got your back, được dịch sang tiếng Việt là Ai che lưng cho bạn. Cuốn ấy tôi chưa đọc, nhưng đã từng đọc lướt qua cuốn Đừng bao giờ đi ăn một mình của tác giả này, nên cũng biết đại khái là tác giả viết về việc thiết lập những mối quan hệ xã hội chân tình để cuộc sống vững vàng hơn, sự nghiệp thành đạt hơn. Tôi nghĩ là cái tựa cuốn ấy được dịch rất hay, mặc dù trong ngôn ngữ thường ngày người Việt có lẽ ít dùng từ “che lưng”. Chúng ta hay nói “chống lưng” nhiều hơn. Theo cách hiểu thông dụng ngày nay, người có thể chống lưng cho bạn thường được hàm ý người phải có quyền lực, có thế lực (nghĩa gốc thì tôi không rõ).

Nhưng người che lưng cho bạn, người chống lưng cho bạn chưa chắc đã phải là người canh giấc ngủ cho bạn. Chúng ta ít nói về khái niệm người canh giấc ngủ, thậm chí có khi chẳng có cả cái khái niệm ấy, dù chúng ta vẫn canh giấc ngủ cho nhau. Những người yêu nhau canh giấc ngủ cho nhau. Những người thương nhau cũng canh giấc ngủ cho nhau (thương theo nghĩa của miền Bắc).

Ai là người canh giấc ngủ cho bạn? Bạn là người canh giấc ngủ cho ai? Hôm nay tôi vừa đi ăn tối với một người đã từng canh giấc ngủ cho tôi, nên mới ngồi viết ra những dòng này. Vào những giờ phút cuối cùng của một ngày (tính theo giờ Việt Nam) mà 125 năm trước đây có một người tên là Vincent đã qua đời trong cô đơn cùng cực. Mai sẽ là một ngày mới an lành và ấm áp hơn cho bạn và cho tôi. Chúc các bạn ngủ ngon!

Nỗi đau nào cho ai

Ngày tôi bị trầm cảm nhiều người xung quanh biết vì tôi không cảm thấy chuyện ấy có gì đáng giấu. Tôi loay hoay muốn cứu lấy chính mình nên rất hay nói chuyện với bạn bè (dĩ nhiên ở các mức độ khác nhau), đến mức thấy phát chán vì mình cứ nói đi nói lại một câu chuyện mà không biết đường ra ở đâu. Sau khi biết chuyện của tôi, khá nhiều người (bằng tuổi và lớn tuổi hơn tôi rất nhiều, tầm tuổi cha mẹ tôi nữa) tiết lộ cho tôi biết họ đã từng trầm cảm, đã từng nghĩ đến tự sát, và thậm chí có những người tiết lộ họ cũng đang đi điều trị trầm cảm giống tôi. Ở ngoài nhìn vào, họ hoàn toàn bình thường. Họ cố gắng gồng mình lên để làm một người bình thường. Ngày ấy một cô bạn của tôi cũng rối loạn cảm xúc, nhiều cái giống tôi, mà tôi khuyên cô ấy thử đi điều trị tâm lý nhưng cô ấy nhất quyết không chịu vì cho rằng cô ấy nhất định phải mạnh mẽ, phải tự mình vượt qua chuyện đó chứ không yếu đuối dựa dẫm vào ai cả (nhờ Trời, sau ấy cô ấy tự vượt qua được thật).

Bản thân tôi cuối cùng cũng vượt qua được những ngày tháng đó, một phần nhờ việc quyết định buông bỏ những gì đã khiến tôi suy nghĩ quá nhiều, quá rối, và quá bế tắc. Giữa những ngày sau khi đã vượt qua được khó khăn lớn nhất – thi tốt nghiệp (sau khi đã bỏ dở đề tài nghiên cứu) – tôi đang thu xếp mọi thứ để về nước thì nhận được điện thoại của một cô bé, tạm gọi là A. A. xin tôi một lời khuyên vì cô bé ấy cũng rất bế tắc với cuộc đời mình. Tôi khuyên cô bé ấy nếu không chịu đựng được thì nên buông bỏ mọi thứ và trở về với gia đình, bởi vì không có gì quan trọng với bố mẹ cô ấy hơn chính bản thân cô ấy – bản thân cô ấy chứ không phải là những gì cô ấy khoác lên người.

Chúng tôi đã nói chuyện khá lâu và kết thúc thì cô bé ấy vẫn khá rối vì A. không buông bỏ được mọi thứ dễ dàng như tôi. Cũng rất dễ hiểu, tôi khi ấy đang học thạc sỹ và A. thì đang học đại học. Người ta có thể sống mà không cần cái bằng thạc sỹ nhưng ra đời thiếu một cái bằng đại học là khá khó khăn. Thực ra chúng tôi cũng đã nói về khả năng A. trở về Việt Nam để lấy một tấm bằng ở nhà, nhưng sau khi gia đình A. cũng khá vất vả để cô ấy được sang Mỹ học, bản thân cô bé cũng trải qua – đúng hơn là vượt qua – những ngày tháng rất lận đận khi mới sang Mỹ để đến được cái ngày mà cô bé nói chuyện với tôi, thì việc buông bỏ lại càng khó khăn.

Sau cuộc điện thoại ấy, tôi lại loay hoay thu xếp lại cuộc đời mình, bẵng đi một thời gian sau mới nhớ ra đi hỏi thăm bạn bè về cô bé ấy. Khi ấy, A. đã về Việt Nam sau một đợt phải vào viện cấp cứu vì suy nhược nghiêm trọng. Tôi không biết chính xác “suy nhược nghiêm trọng” ấy là gì, và tôi cũng mất liên lạc với A. nên không biết được sau này cô bé ấy sống như thế nào. Nhưng tôi mong là em được sống an lành hơn, nhiều may mắn hơn. Ở tuổi của em mà phải gánh chịu nhiều thứ phức tạp như những gì em đã trải qua (mà tôi biết) thì quả thực rất quá sức chịu đựng của một con người. Tôi đến bây giờ vẫn nhớ nụ cười của em. Ngày ấy em vẫn như một đứa trẻ trước cuộc đời. Ngày em mới đến, chúng tôi đã ngỡ cuộc đời em sau những sóng gió cuối cùng đã cập bến an bình. Vậy mà cuộc đời vẫn rất nhẫn tâm.

A. hay vẽ. Một lần tôi bảo với em là biết vẽ thì thích thật, tiếc là tôi không biết vẽ. A. bảo, chẳng thích đâu chị ơi. Những lúc “tự kỷ” nhất là những lúc em vẽ. Vẽ ra những nỗi buồn của mình. Lần đầu tiên tôi biết nhìn thấy mặt bên kia của nghệ thuật, mặc dù chính tôi ngày ấy (và nhiều lúc khác trong cuộc đời) cũng viết ra không biết bao nhiêu là thơ cho vợi bớt đau buồn. Khác với những dòng văn xuôi viết ở đây, thơ tôi giữ cho riêng mình nhiều hơn vì đa phần là rất buồn. Một số bài còn nhắc đến cái chết, đã từng đưa lên mạng, nay lại xóa đi để đỡ góp phần nhấn chìm người khác vào nỗi tuyệt vọng.

Cách đây mấy ngày, tôi tự dưng muốn nghe Starry Starry Night do Nana Mouskouri hát (Don McLean sáng tác năm 1971, tên chính thức của bài hát là Vincent). Bài hát ấy rất tha thiết, nhưng buồn. Sau khi nghe nhiều lần, tôi bắt đầu lục tìm lyrics để đọc (khi nghe nhạc, tôi chủ yếu là nghe nhạc – melody – chứ lời câu nào lọt vào tai thì vào). Từ cái lyrics ấy tôi đi lần mò giải nghĩa và được biết rằng đó là một bài hát viết về những năm sáng tác tranh của Vincent Van Gogh. Từ ấy tôi lại lần mò đọc về cuộc đời của Van Gogh. Một cuộc đời rất buồn. Đáng buồn nhất là Van Gogh đã để lại cho nhân loại những kiệt tác như thể được rút ra từ từng tế bào của mình trong nỗi cô đơn cùng cực.

Van Gogh bị nghi là tự sát năm 37 tuổi (đến giờ vẫn không đủ bằng chứng). Trong cuộc đời ngắn ngủi ấy ông vẽ tranh được chừng mười năm. Một số tác phẩm nổi tiếng nhất của ông được vẽ ra vào những năm cuối đời, khi ông đang ở trong một bệnh viện tâm thần với khá nhiều chẩn đoán – nghĩa là có thể mắc khá nhiều chứng bệnh (trong đó có tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực). Việc ông thường xuyên nghe thấy những tiếng nói ảo giác được nhiều trang web ghi chép lại. Van Gogh đã sống một cuộc đời rất cô đơn, dù có một người em trai rất gần gũi và hết lòng với ông. Theo Van Gogh là người đã hỗ trợ chính về tài chính cũng như động viên tinh thần cho Vincent Van Gogh trong suốt cuộc đời của người họa sĩ. Sáu tháng sau cái chết của Vincent, Theo cũng ra đi, ở tuổi 33, và họ được chôn cạnh nhau.

Hai ngày nữa là đến ngày mất của Vincent Van Gogh (29/7). Ban đầu tôi đã định đến đúng ngày ấy sẽ viết riêng một hoặc vài bài cho cuộc đời buồn thảm của ông, nhưng tôi sợ viết ra tôi sẽ trầm cảm mất, vì mới mấy ngày hôm trước tôi đã viết một bài về Amy Winehouse. Bài ấy tôi cố gắng viết cho tích cực, nhưng đọc lại tôi lại cảm thấy mình như đang bơi trong tuyệt vọng để thoát ra khỏi những xót thương cho cuộc đời của cô ca sĩ đã viết ra và hát lên những giai điệu, những lời ca buồn thảm nhất mà tôi đã từng được nghe trong cuộc đời mình.

Tôi cảm thấy cuộc đời có những nỗi đau rất giống nhau. Tôi tìm thấy chính mình trong những nỗi đau của những người khác. Nửa đêm giật mình thức giấc vì một cơn ác mộng, chẳng biết phải làm gì, tôi bật đèn sáng và viết về những nỗi đau.

Hà Nội, 5h13′ sáng ngày 27 tháng 07 năm 2015.

Vincent do Don McLean hát ở đây.
Vincent do Josh Groban hát ở đây.

(Cập nhật ngày 29/07/2015, 125 năm ngày mất của Vincent Van Gogh)