Category Archives: Nghĩ ngợi

Nhìn lại chuyện đón đoàn U23

Đoàn U23 ở đây bao gồm cả các cầu thủ, ban huấn luyện, và các cán bộ sang Thường Châu vừa rồi.

Việc tổ chức đón đoàn trở về sau giải đấu là một sự kiện lớn, việc tổ chức dĩ nhiên không phải đơn giản. Có nhiều chuyện đã được nhân dân điểm mặt chỉ tên ra rồi, nhưng với tư cách cá nhân tôi vẫn viết ra đây một vài điều tôi thấy không hài lòng. Sau này rất có thể chúng ta còn phải tổ chức đón đoàn rầm rộ hoành tráng như thế này khi đội tuyển tiếp tục chinh phục được những đỉnh cao mới, hy vọng lúc ấy các nhà tổ chức chuẩn bị tốt hơn.

1- Đồ ăn cho đoàn

Tôi không thể không nhíu mày khi nhìn thấy bức ảnh chụp bữa ăn trên chuyến bay trở về của đoàn. Những lần sau xin làm ơn chuẩn bị cho đoàn một bữa ăn tươm tất hơn, thịnh soạn hơn.

Và chuyện để các “người hùng” nhịn đói đến đêm cho kịp tiến độ chương trình vinh danh thì hy vọng ban tổ chức đã “rút kinh nghiệm sâu sắc” và lần sau sẽ chuẩn bị sẵn các phương án dự trữ lương thực cho đoàn. Thôi thì coi như các cầu thủ được ngay một kinh nghiệm làm người nổi tiếng.

2- Màn diễn bikini trên máy bay

Coi như Vietjet đã tự đào mồ chôn mình. Tự bắn vào chân mình không những một phát mà còn tận hai phát. Màn trình diễn phản cảm thì tôi không nói nữa, đến xin lỗi cũng không chân thành. Lỗi rành rành không nhận lại đi đổ thừa là “tự phát của nhóm hậu cần”. Đến đứa trẻ con cũng hiểu là không có người bày trò, chỉ đạo, tính toán, chuẩn bị thì ở đâu ra cái màn đó.

Tôi đã đọc lời giải thích và xin lỗi của bạn người mẫu H. trong nhóm người mẫu đó. Tôi thấy nó thành thực và có thể chấp nhận được lời xin lỗi đó. Còn lời xin lỗi của Vietjet không thể chấp nhận được. Dĩ nhiên chấp nhận lời xin lỗi không có nghĩa là đồng ý với sự việc đã diễn ra.

Việc đã xảy ra thì đã xảy ra rồi, nhưng ứng xử thế nào trước một sự việc không hay đã lỡ xảy ra cũng là việc quan trọng. Tôi không thấy báo chí có đưa lại một lời xin lỗi nào từ phía VFF về việc đã để một sự việc như thế xảy ra, mà chỉ thấy trích lại là “VFF rất tiếc và hoàn toàn không biết gì”. Tôi nghĩ rằng trong những sự việc như thế này, VFF cũng vẫn nên xin lỗi. Lỗi của VFF là đã không làm việc kỹ với Vietjet về việc tổ chức chuyến bay, để đối tác tự tung tự tác như vậy.

Trong những lần sau, VFF cần làm việc chi tiết và chặt chẽ hơn với các đối tác, quy định rõ là ngoài những hoạt động hai bên cùng thống nhất thì không được phép có các chương trình “tự phát” nào hết. Thiết nghĩ, những ai có mặt trên chuyến chuyên cơ VFF cũng nên nắm được.

Và khi có những sự cố bất thường như vậy, VFF nên có phản ứng nhanh như là yêu cầu ngừng ngay lại.

3 – Ông Lân Trung xí xớn vẫy tay chào trên xe bus của đoàn

Việc này mọi người đã lên án khá nhiều, nhưng tôi vẫn thấy có những ý kiến cho rằng ôi vui tí chả sao, chuyện nhỏ không cần phải làm to… Ơ hay, thế khi đi sinh nhật người khác bạn có vì vui quá mà xông ra ước hộ rồi thổi nến sinh nhật của người ta không??

Cá nhân tôi thấy đây không phải chuyện nhỏ. Phản cảm hơn cả việc trình diễn bikini trên máy bay. Nói nhẹ thì là vô duyên, mà nói cho đúng thì là vô liêm sỉ. Đúng là dạng phần tử cơ hội.

Nghe câu “VFF không bình luận và ông Trung làm đúng phận sự” của ông tổng VFF là hiểu ông Trung có cái ô lớn rồi.

Để tránh những sự việc nhố nhăng như thế này không xảy ra lần nữa, xét thuần túy về mặt tổ chức thì không khó. Nhưng nghe cái câu bao che của ông tổng VFF thì lại thấy rất gian nan.

4 – (Đừng) nói gì với các cầu thủ và ban huấn luyện khi gặp mặt?

Nói gì thì nói, đừng có nói là tôi đã phải chờ mấy giờ mấy phút mấy giây. Nghe nó nhỏ bé lắm. Thế nếu lên tận sân bay đón đoàn chẳng nhẽ khi gặp lại kể rằng đã phải dậy từ sớm thế này thế nọ hay sao? Nếu là tình cảm chân thành không ai người ta nói ra những điều như vậy.

Cũng đừng có nói là đoàn vui thì đói cũng không sao nhỉ. Không cần phải tới tận giờ cơm chiều mà trước tình hình đường đông di chuyển chậm như vậy đã rất nhiều người xót ruột cho đoàn không biết bao giờ họ mới được ăn, không biết trên xe có gì ăn không, không biết buổi trưa họ ăn gì.

Thế mà có người đã không mời các cháu được bữa cơm lại còn vô duyên, vô cảm.

 

Còn một vài chuyện nữa nhưng thôi kể ra nữa thì cũng hơi vụn vặt, nên chỉ nói mấy chuyện khó chịu nhất thôi.

Tưởng được nằm mơ giữa ban ngày một tí ai dè giữa cơn mơ vẫn chạy không thoát khỏi những thực tại đáng buồn. Hy vọng sẽ có những lần sau khá hơn.

Advertisements

Sau trận chung kết

Là khép lại một hành trình. Là bắt đầu một chặng đường chinh phục mới. Đúng như Tiến Dũng viết.

Cảm ơn các chàng trai, ban huấn luyện, và tất cả những người đã đổ bao công sức vào bóng đá Việt Nam để chúng ta có được một hành trình U23 Châu Á đầy cảm xúc như vừa rồi. Nhờ có hành trình ấy, Việt Nam vừa có một ký ức tập thể vô cùng tươi đẹp.

Cảm ơn các chàng trai đã biến tất cả người xem bóng đá Việt Nam trở thành những người đang yêu trong mấy tuần vừa qua.

Với cá nhân tôi, bóng đá là một tình yêu phai nhạt đã lâu. Sau một thời ăn ngủ bóng đá, khóc cười cùng bóng đá, thì mười mấy năm vừa rồi tôi chỉ còn xem bập bõm và thậm chí bỏ xem cả tin tức. Trận bóng lớn cuối cùng mà ký ức tôi còn lưu lại là một trận chung kết C1. Với bóng đá Việt Nam tôi lại càng thờ ơ. Ngoài những ký ức về một “thế hệ vàng” ngày trước, những cái tên như Văn Quyến, Công Vinh không gợi lên cho tôi cảm xúc gì. Tôi cũng không biết đã bao giờ xem CV đá hay chưa nữa.

Cho đến khi U23 Việt Nam thắng Iraq tôi mới bắt đầu quan tâm trở lại. Nhưng trận đá với Qatar ban đầu tôi cũng chẳng dám xem. Tôi không có niềm tin gì vào trận đấu ấy. Hay nói đúng hơn, tôi không dám gieo xuống một niềm tin, vì trong lòng đầy nỗi sợ hãi một sự thất vọng. Chả cần tìm hiểu tôi cũng biết Qatar là đội mạnh. Thắng Qatar thì vào đến chung kết cơ mà. Làm sao tôi dám mơ.

Tôi cứ thấp thỏm vừa làm việc chốc chốc lại mở một cái trang tin tường thuật trận đấu để hóng xem diễn biến thế nào. Việc Qatar ép sân, rồi ghi bàn lại càng khiến tôi không dám xem Việt Nam đá.

Và rồi Quang Hải ghi bàn.

Đến giờ này thì cụm từ “Quang Hải ghi bàn” đã có thể gợi lên vô vàn cảm xúc đối với người xem bóng đá Việt Nam.

Quang Hải ghi bàn. Thật như một câu thần chú.

Lúc ấy tôi không thể chỉ xem tường thuật bằng chữ nữa. Lúc ấy tôi hiểu ra rất nhanh là nếu tôi không xem trận đấu ngay là tôi sẽ bỏ lỡ cuộc sống đang diễn ra, như thể cuộc sống sẽ trôi qua ngay trước mắt tôi mà tôi không còn là một phần của nó.

Sự dõi theo ngắn ngủi của tôi với U23 Việt Nam tại giải đấu này, từ lúc Quang Hải ghi bàn gỡ hòa 1-1 trước Qatar cho đến hết trận chung kết kịch tính ngày hôm qua cũng đã khiến tôi cảm thấy mình quá may mắn vì đã được xem các bạn đá và được sống trong những cảm xúc mà tôi sẽ không bao giờ quên.

Cũng như nhiều người khác, tôi rất khâm phục các bạn và cũng học được nhiều điều từ các bạn.

Hôm nay, 28/1/2018, chào mừng các bạn trở về nhà!

 

Trước trận chung kết

Quá nhiều cảm xúc, quá nhiều suy nghĩ, quá nhiều câu hỏi từ sau trận thắng lịch sử của U23 Việt Nam trước U23 Qatar ngày 23/1/2018. Cũng cố gắng viết ra một vài dòng suy nghĩ, nhưng rồi vẫn lung tung beng, nhiều suy nghĩ vẫn chưa viết ra được thành lời cho chuẩn xác.

Loáng một cái đã đến ngày chung kết. Nhà chẳng có lá cờ nào. Nhưng tóc trên đầu đã kịp đỏ B-) . Không có sao vàng trên đầu. Nhưng không sao cả. Bao nhiêu Sao Vàng đang ở Thường Châu hết rồi. Thời tiết Thường Châu vẫn lạnh.

Ngày nào cũng mải miết đọc tin về U23. Trong khi các cháu gái rồ dại vì các chàng trai, mình lại nhiệt liệt hâm mộ ông già người Hàn. Trai trẻ có thể máu, trông có vẻ tự tin, nhưng dường như về tinh thần ông già vẫn đang làm một chỗ dựa vững chắc. Cho toàn đội. Cho cả một đất nước vừa mới quen.

Việt Nam nên tạc tượng ông Park! Ông ấy không chỉ là Guus Hiddink Việt Nam. Ông ấy là một người Hàn Quốc vĩ đại. Mr Park Hang-Seo is The Great Korean.

Như một bài viết mới đăng trên TTO, chúng ta ai cũng hiểu là Uzbek rất mạnh. Nhưng đã vào trận thì phải quyết thắng. Từ sau cái buổi chiều 23/1/2018, Việt Nam đã vĩnh viễn thay đổi! Đã vào trận phải quyết thắng! Phải dám nghĩ thì mới dám làm!

Một số anh nhà báo trên Fox Sports cứ bàn ra tán vào chuyện Việt Nam chơi phòng thủ, rằng thì là mà phòng thủ không nằm trong DNA của người Việt, blah blah blah. Các anh thân mến, đã từ lâu chúng ta đều biết chẳng có gì bất biến, mọi thứ đều thay đổi.

Việt Nam là một nước nhỏ nằm ở vị trí đắc địa, là nơi cửa ngõ hướng ra biển, là lý do vì sao các nước lớn luôn nhòm ngó. Chính vì thế, trong DNA của chúng tôi luôn dành chỗ cho sự linh hoạt. Chúng tôi luôn buộc phải linh hoạt.

Tại sao người hâm mộ Việt Nam vốn chuộng lối đá tấn công, như ông Park nói là ai cũng muốn đội tuyển đá như Barcelona, nay lại điên cuồng cổ vũ đội nhà chơi một lối chơi phòng thủ chắc chắn hơn, thực dụng hơn?

Đó không phải chỉ vì chúng ta đang đối đầu với những đối thủ lớn. Đó cũng không phải là vì người Việt Nam quá háo một cái danh hiệu cho bóng đá nước nhà.

Đó là vì tròn hai mươi năm trước đây, Việt Nam có một trận thua cay đắng mà trong suốt hai mươi năm qua người Việt chưa bao giờ quên. Đó là trận thua rất ất ơ trước Singapore sau khi đã thắng Thái Lan, đối thủ truyền kiếp, một cách ngoạn mục.

Trước khi U23 Việt Nam làm nên những kỳ tích lần này, ký ức cuối cùng của tôi về đội tuyển chính là cái năm 1998 ấy.

Người Việt Nam lên mây rất nhanh. Thực tế dường như mới là cái chúng ta thiếu.

Chưa bao giờ tôi được thấy một Hà Nội vui ngập tràn từ nhà ra phố như cái đêm ngày 23/1/2018. Chưa bao giờ tôi được thấy Việt Nam lại chung nhau một niềm hạnh phúc vô bờ bến như thế. Xưa giờ người Việt Nam chỉ biết nói “vui như Tết” là hết cỡ, nhưng ngày hôm đó mọi người đã phải nói “vui hơn Tết”. Niềm vui của ngày hôm đó là một đỉnh cao mới của hạnh phúc mà người Việt không còn đủ lời để diễn tả.

Ngày hôm nay, chúng ta đứng trước một đối thủ vô cùng mạnh. Hà Nội đang xám màu mưa. Thường Châu vẫn lạnh và bất lợi. Việc của chúng ta là quyết thắng!

Chúc các chàng trai thật bình tĩnh, tỉnh táo, lì đòn, hỗ trợ lẫn nhau, và tự tin dứt điểm! Cứ bình tĩnh mà thắng!

Nói gì về thất bại?

Một lần một người bạn, tạm gọi là A., tâm sự với tôi rằng tôi là người duy nhất bạn ấy dám kể cho nghe về những thất bại của bạn ấy, còn với những người khác bạn ấy chỉ dám nói về những thành công. Về nhà tôi tự hỏi tại sao lại như thế. Và rồi tôi đặt ra một giả thuyết là phải chăng vì tôi là một kẻ thất bại nên khi kể cho tôi nghe thì A. cảm thấy được an ủi hơn, vì xét cho cùng những thất bại của A. cũng chưa là gì so với tôi. Và tôi cũng hơi chột dạ, phải chăng vì thế mà A. hay chơi với tôi. Nhưng dù có là như vậy thật thì tôi cho là cũng do bản năng, hay tiềm thức gì đó thôi, chứ không phải A. ý thức được điều đó.

Nhưng những suy nghĩ đó làm tôi nhớ những ngày còn đi học, tôi có một người bạn khác, tạm gọi là B., mà tôi có cảm giác là luôn có sự cạnh tranh ngầm với tôi, hay thường than phiền với tôi về những lo lắng trong học hành nhưng rốt cuộc kết quả học tập của B. không bao giờ tệ như những gì B. kêu ca cả, và hình như là đều nhỉnh hơn tôi đôi chút. (Tôi thì không so mình với bất cứ ai cả nên những chuyện hơn kém như vậy quả thực tôi không nhớ.) Tôi duy trì một tình bạn bình thường với B. nhưng chỉ khi một người bạn khác, tạm gọi là C., bước vào cuộc đời tôi thì tôi mới nhận ra rằng B. không phải là một người bạn thực sự của tôi, mà có lẽ chỉ muốn “làm bạn” với tôi để bên cạnh B. luôn có một người kém hơn B. một chút. B. có lẽ giống như kiểu frenemy.

C. luôn thẳng thắn với tôi về những gì C. muốn đạt được và dự định phải cố gắng ra sao để đạt được mục tiêu (thay vì suốt ngày rên rỉ là ôi không đạt được đâu, không đạt được đâu và cuối cùng ồ thế nào mà mình lại vẫn đạt được này). C. và tôi dành nhiều thời gian nói về những gì chúng tôi thích. C. mang đến cho tôi năng lượng tích cực và giúp tôi hiểu thế nào là một người bạn thực sự. Chúng tôi làm bạn đến tận bây giờ.

Quay trở lại câu chuyện thất bại, hay đúng hơn là chuyện tôi thất bại. Sau khi tự hỏi mình rằng tôi có phải một kẻ thất bại không, tôi cũng chẳng biết phải trả lời thế nào cho thỏa đáng. Rõ ràng thất bại và thành công chỉ là những khái niệm tương đối vì mỗi cá nhân, mỗi tập thể, mỗi nền văn hóa tại những thời điểm khác nhau sẽ định nghĩa thất bại và thành công theo những cách khác nhau, có khi còn đối lập nhau. Còn xét về cá nhân thì ai chẳng có cả thất bại lẫn thành công, chẳng có ai là hoàn toàn thất bại hay hoàn toàn thành công.

Nhưng nói một cách tương đối thì có lẽ là kể từ khi bước chân vào cổng trường đại học là cuộc đời tôi bắt đầu thất bại liên tiếp trên mọi mặt trận. Và hành trình thất bại đó kéo dài hơn cả một thập kỷ. Hay nói một cách thời thượng, tôi đã dành cả thanh xuân để thất bại. Dĩ nhiên là cũng có những việc có thể gọi là thành công, nhưng những thành công ấy trở nên thật nhỏ bé trước những thất bại thật vĩ đại.

So no one told you life was gonna be this way

Your job’s a joke, you’re broke, your love life’s D.O.A.

It’s like you’re always stuck in second gear

When it hasn’t been your day, your week, your month, or even your year

(F.R.I.E.N.D.S)

Thật ra ngày ấy tôi không nghĩ nhiều đến chuyện thất bại hay chuyện tôi có phải là một kẻ thất bại hay không, bởi vì đơn giản tôi sinh ra đã là một kẻ không ham thành công gì cho cá nhân mình. Đôi khi tôi cũng thử cố gắng lục lọi trong con người mình xem mình có một ham muốn được thành công trong một lĩnh vực địa hạt nào đó hay không, nhưng tìm mãi vẫn không thấy. Đến tận bây giờ tôi cũng vẫn chưa bao giờ ao ước trở nên giàu có hay có một sự nghiệp rực rỡ hay có một gia đình nhỏ êm ấm hay đơn giản hơn một chút là có bằng cấp này nọ chẳng hạn.

Vậy với một kẻ không ham thành công thì liệu thất bại có nhẹ tựa lông hồng không?

Câu trả lời là không. Thất bại cũng mang đến cho tôi những cảm giác tiêu cực như chán nản, tự ti, và mất hy vọng như những người khác. Chỉ có điều là trước đây tôi không gọi tên những gì tôi trải qua là thất bại. Tôi chỉ biết là tôi thấy không hài lòng với những gì mình có và cứ loay xoay tìm cách thoát ra để đi tìm một cái gì mới mà không biết chính xác là mình đang đi tìm cái gì. Khi tìm được một cái gì đó khác rồi tôi vẫn thấy không hài lòng và cái vòng tròn chán nản – tìm kiếm ấy nó cứ lặp đi lặp lại. Cho đến một ngày tôi ngừng việc tìm kiếm (vì đã quá chán).

Khi tôi ngừng tìm kiếm thì một công việc tự dưng tìm đến tôi và vô tình nó lại như trở thành một thứ chắp nối lại những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của tôi (như đã khoe khoang hơn một năm nay). Tuy không phải là một thành công gì đáng kể nhưng nó đã trở thành công việc đầu tiên mà tôi cảm thấy hài lòng và muốn gắn bó. Và dĩ nhiên tôi không tránh khỏi việc suy ngẫm xem tại sao công việc này lại khiến tôi hài lòng mặc dù tôi nhận nó hoàn toàn chỉ vì tiền còn những công việc mà tôi đã từng làm trước đây, những công việc tôi đã chủ động tìm kiếm, và đều bắt đầu với ít nhiều hy vọng ấp ủ nào đó, thì lại làm tôi chán nản và bỏ cuộc.

Tôi đã nghĩ ngợi về nhiều yếu tố, nhưng mãi gần đây tôi mới nhận ra rằng một yếu tố quan trọng là cảm giác không thất bại. Các công việc trước đây của tôi hầu hết đều mang tới cho tôi cái cảm giác thất bại. Cái cảm giác không hài lòng, chán nản trước đây của tôi chính là cảm giác thất bại. Các công việc ấy thực ra không phải là thất bại, tôi biết như thế và cũng không ai bảo chúng thất bại cả. Chỉ là sâu thẳm bên trong tôi tự thấy công việc của mình không tạo ra được nhiều giá trị, tôi không hài lòng và tôi bế tắc, dù không biết cụ thể mình muốn đạt đến cái gì để có thể cảm thấy hài lòng.

Trong công việc hiện tại, tôi không còn cảm giác thất bại nữa. Không phải là mọi thứ đều trơn tru, cũng có những khó khăn, có những việc tôi không thích nhưng vẫn phải làm, và cũng có những việc tôi làm không tốt, nhưng sau tất cả tôi vẫn có thể nhìn thấy được giá trị của những gì mình tạo ra, dù cũng khiêm tốn thôi chứ không phải cái gì to tát cả. Nó mang tới cho tôi những năng lượng tích cực mà các công việc trước đây của tôi không mang lại cho tôi.

Nó mang tới cho tôi những năng lượng tích cực, giống như C. Và cũng giúp tôi nhìn về thất bại theo một cách khác, cũng giống như C. đã khiến tôi thay đổi cách nhìn về B. Thất bại đối với tôi hóa ra không phải theo các cách định nghĩa thông thường. Thất bại, với tôi, là một cảm giác.

Giờ thì câu hỏi liệu tôi có phải một kẻ thất bại hay không không còn khiến tôi phải nghĩ ngợi gì nữa. Thất bại chỉ là một cảm giác. Rồi sẽ có những lúc tôi sẽ lại cảm thấy thất bại, không hài lòng, và chán nản. Nhưng hy vọng đến những lúc ấy tôi sẽ không cảm thấy bế tắc nữa. Vì xét cho cùng, thất bại cũng chỉ là một cảm giác.

Miễn là mình đừng có tự nhấn chìm mình trong những cảm xúc tiêu cực mà quên đi rằng đôi khi tư duy logic thuần túy cũng giúp ích được khối việc. Thổ lộ cho hết những cảm xúc tiêu cực ra với ai đó rồi tìm một người lạnh lùng, tỉnh táo mà nói chuyện!

Trôi miên man về đâu một nhành hoa mới nở…

Tiêu đề chỉ mang tính minh họa, không liên quan đến bài viết.

Độ này trời hay mưa. Trong lúc lăn tăn giữa mấy đôi giày để đi những ngày mưa, tôi nhận ra là tôi có ký ức rất mơ hồ về mùa mưa năm ngoái. Hè năm ngoái mưa thế nào nhỉ? Năm ngoái tôi đâu có mất thời gian tần ngần trước mấy đôi giày đâu nhỉ? Năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ? Những ngày mưa năm ngoái tôi đi giày nào nhỉ?

Cảm giác rất lâu rồi cuộc sống của tôi mới được ổn định đến độ tôi có thể so sánh năm hiện tại với năm trước. Dạo này gặp bạn bè tôi rất hay khoe là tôi đã thoát khỏi cái cảnh lúc nào cũng muốn bỏ việc. Thực tế là từ ngày ra trường tới giờ, hơn một chục năm, năm nào cuộc sống của tôi cũng có thay đổi về công việc.

Tôi biết nhiều người cũng luôn muốn nhảy việc, nhưng họ không nhảy. Đôi khi họ cũng muốn nhảy việc nhiều như tôi, hoặc không nhiều thì cũng một đôi lần. Nhưng nhảy việc nhiều cũng ngán như làm mãi một nơi vậy. Năm 30 tuổi, tôi bỏ việc và chán ngán tới mức chả buồn đi tìm việc, ai gọi gì thì làm, sống chết đói hơn một năm trời, cho tới khi một công việc từ trên trời rơi tòm xuống đầu trong lúc tôi cũng bắt đầu ớn cái cảnh phải vay mượn gia đình để sống. Tôi nhận công việc ấy đơn giản là vì tiền, thay vì cứ kén cá chọn canh như trước đây.

Cuộc đời thật khó lường. Cái công việc trên trời rơi xuống mà tôi cũng chẳng trông đợi gì ở nó ngẫu nhiên lại trở thành một công việc phù hợp với tôi, với lối sống hiện tại của tôi, và tới nay gần một năm rưỡi tôi vẫn muốn tiếp tục. Hồi mới nhận việc, tôi có nói với sếp, tui chưa làm ở đâu được tới hai năm cả, giờ nếu tui làm cho ông được tới hai năm là coi như lập được kỷ lục mới đó. Ông sếp gật gù, được để coi sao. Biết ổng hiền, tôi làm tới: ông ráng làm sếp cho tốt nha. Ổng cười ha hả. (Thật ra tôi chỉ tỏ vẻ nguy hiểm, còn sếp tôi mới “nguy hiểm” thật. Ổng chả chấp cái loại như tôi.)

Hiểu được mình thích gì với tôi rất chi là khó. Tôi biết nhiều người chỉ khịt mũi một cái là biết họ có thích hay là không. (Con mèo nhà tôi cũng vậy.) Tôi thì thích khám phá cái mới, nên khịt mũi một cái thì cái gì mới lạ tôi cũng thấy thích hết. Cơ chế của tôi không phải là khịt mũi, cơ chế của tôi là phải trải nghiệm rồi mới biết được.

Thật ra trước đây tôi không nghĩ được như vậy, tôi học được điều này là nhờ đọc các trang phân tích tính cách, ví dụ như thế này:

Like other NP types, ENFPs place high value on their personal experiences when it comes to discerning truth. Though not to the same extent as ESFPs, for ENFPs, “experiencing is believing.” Because of the high value they place on their personal experiences, ENFPs may feel they cannot fully know themselves until they have tried just about everything (contrast this with INJs, who feel they know whether they will like something without needing to experience it).

Nguồn: http://personalityjunkie.com/enfp/

Còn trẻ thì trải nghiệm nhiều thứ thì vui, nhưng cái rủi là nhiều khi trải nghiệm chỉ mang lại một kết luận là mình không thích một thứ gì đó, chứ cũng không nói được cho mình biết là mình thích gì. Không phải A có thể là B, có thể là C, mà cũng có thể là D. Nhưng B hay C hay D thì tôi không biết. Vậy nên ngoài việc ngẫm lại thật kỹ những trải nghiệm trước đây, tôi đành phải cậy nhờ vào dòng đời xô đẩy, kiên nhẫn với những trải nghiệm mới.

Công việc hiện tại của tôi, mà tôi nghĩ là có thể gắn bó, ít nhất là vài năm nếu có cơ hội, chẳng giống như những gì tôi đã từng thử hình dung về một công việc yêu thích. Hồi đầu tôi vẫn có cảm giác mình đang làm gì sai sai, rằng đây không phải lĩnh vực mình muốn cống hiến, không phải nhóm mình muốn target, và một ngày nào đó những cái thôi thúc thuở ban đầu kia cũng sẽ trỗi dậy và lôi tuột tôi sang một công việc khác.

Nhưng công việc này mang tới cho tôi một ích lợi mà tôi không có nhiều từ các công việc trước đây, đó là sự trưởng thành. Hồi mới ra trường đi làm tôi cảm thấy không làm chủ được công việc và nghĩ là do mình không được học hành bài bản tử tế. Rồi tôi đi học. Học rồi lại về đi làm thì tôi lại thấy mình loay hoay trong những mớ bòng bong của thế giới bên ngoài sách vở. Chỉ đến khi làm công việc này tôi mới dần dần học được một số kỹ năng cần thiết để làm việc, mà người ta vẫn gọi là kỹ năng mềm đó. Điều đó giúp tôi chủ động hơn trong công việc và không cảm thấy rối ren nữa. Tôi cũng học cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanh thay vì thảy lên bàn sếp một cái đơn xin nghỉ việc khi thấy quá tải và stress.

Thôi thì cũng tạm biết thế. Mai này không phải tự xin nghỉ mà bị sếp tống cổ đi thì lại từ từ tính tiếp. Ít ra từ giờ cũng bắt đầu hiểu rõ hơn một công việc như thế nào thì phù hợp với mình, hy vọng không còn trở lại những ngày tháng cứ lồng lộn lao vào những công việc đầy mệt mỏi và nhiều áp lực.

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…

Nếu không đọc sách

Nếu không đọc sách, có lẽ tôi sẽ cảm thấy rất cô đơn.

Đó là điều tôi nghĩ khi đọc một cuốn sách lúc chiều nay.

Đó là một cuốn sách kỹ thuật để phục vụ cho công việc, nhưng nó giúp tôi mở mắt ra rất nhiều. Nó giải thích được nhiều điều về những kinh nghiệm trước đây của tôi. Nó cũng nói cho tôi biết những gì trực giác tôi đã từng mách bảo, những bước tôi đã từng mày mò dò dẫm là đúng hay là sai. Nó cũng nói với tôi về những sai lầm thường gặp, về một vài kinh nghiệm để tránh những sai lầm đó. Giá như khi đi làm có một senior giảng giải và chỉ bảo cho tôi những điều này thì có lẽ tôi đã không nhảy việc nhiều đến vậy :D. Cách đây hơn tháng chuyện phiếm với mấy bạn đồng nghiệp tôi có nói một lý do tôi nhảy việc nhiều là bởi tôi thường cảm thấy cô đơn trong công việc.

Nhìn rộng ra, chẳng phải mỗi trong công việc mà trong cuộc sống nói chung sách vở với tôi không phải chỉ là một thú giải trí giết thời gian mà nó đã chia sẻ và nâng đỡ tinh thần cho tôi rất nhiều . Khi vui, tôi đọc sách. Khi buồn, tôi cũng đọc sách. Khi hoang mang, tôi lại càng tìm đến với sách. Ruột gan tác giả dốc ra thành con chữ thì tôi cũng mang tim phổi mình ra mà đọc chứ không phải đọc bằng não bộ với các chiến thuật đọc nhanh hiểu nhiều. Sách chia sẻ với tôi những điều tôi đã rõ mười mươi nhưng cũng chia sẻ được cả với tôi những điều tôi còn thấy mơ hồ hư ảo.

Nếu không đọc sách, biết đâu tôi cũng đã gia nhập một giáo phái cực đoan nào rồi cũng nên.

Ý nghĩa của giải Nobel Văn học

Sự so sánh sau đây là rất khập khiễng, nhưng về một khía cạnh nhỏ nào đó, tôi thấy giải Nobel Văn học cũng không khác gì một giải thưởng Hoa hậu. Tuy những người được đề cử cho this noble Nobel không tự ghi tên mình vào “cuộc thi” tưởng tượng này như các chị em (hay như các nhà văn Việt Nam phải tự nộp đơn xin xét giải thưởng tôn vinh gì gì đó), thì rốt cục người được trao giải đều là lựa chọn của một nhóm nhỏ những người được gọi là chuyên gia. Vậy nhưng công chúng lúc nào cũng hồi hộp theo dõi kết quả của sự lựa chọn ấy và luôn luôn chia thành hai “phe” lớn mỗi khi quyết định cuối cùng được đưa ra: ủng hộ hoặc phản đối. Giữa hai phe lớn này là hai nhóm nhỏ hơn: hoang mang chả biết đằng nào mà lần hoặc thấy chả ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới cả.

Cách đây năm năm (2011), nhà văn, dịch giả, và cũng là nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn học và dịch thuật Tim Parks có viết một bài mà tôi tin là tựa ban đầu của nó là “Why the Nobel Prize in Literature is silly” (Vì sao giải Nobel Văn học là ngớ ngẩn), sau đã được sửa thành “What’s wrong with the Nobel Prize in Literature” (Vấn đề của giải Nobel Văn học) cho dễ nghe hơn. Tôi không hẳn đồng ý với ông Parks về các lý lẽ mà ông đưa ra trong bài viết này, nhưng tôi lại hết sức đồng tình với quan điểm cơ bản của ông, đó là không nên quá coi trọng giải Nobel Văn học (“our foolishness at taking it seriously”).

Xét cho cùng, một cái mác của giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn từ không thích chuyển sang thích một tác giả nào đó không? KHÔNG! Và thiếu đi một cái mác giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn bớt yêu quý một tác giả ưa thích của mình không? KHÔNG nốt! Nếu bạn trả lời có cho một trong hai câu hỏi trên thì xin hỏi bạn đọc sách vì điều gì vậy?

Nếu bạn cảm thấy tiếc nuối vì nhà văn bạn yêu thích không được giải Nobel Văn học? Tốt nhất bạn hãy viết thư cho nhà văn ấy để hỏi ông ấy hay bà ấy có mong muốn được giải Nobel Văn học như bạn mong muốn ông ấy hay bà ấy được giải hay không. Và rất có thể trước khi viết thư, bạn hãy dành chút thời gian tìm hiểu xem vì sao Jean-Paul Sartre đã từng viết một bức tâm thư rất dài gửi tới Hội đồng chấm giải để giải thích tại sao ông từ chối nhận giải thưởng này.

Vậy ý nghĩa của giải Nobel Văn học là gì?

Trước hết, như mọi giải thưởng khác, giải Nobel Văn học tôn vinh một tập hợp giá trị nào đó, mà ở đây nôm na là giá trị của văn học. Nghĩa là những tác giả nào theo Hội đồng chấm giải được xem là tạo ra những giá trị đáng quý cho văn học. (Dù những tiêu chí lựa chọn cụ thể chưa bao giờ được công bố mà chỉ thỉnh thoảng lại thấy một thành viên hội đồng lên tiếng giải thích rằng tiêu chí này hay tiêu chí nọ mà công chúng đồn đoán (ví dụ, ảnh hưởng chính trị) không phải là tiêu chí mà họ xem xét để trao giải.)

Tuy tiêu chí không được công bố với công chúng, phải thừa nhận rằng xưa giờ giải Nobel Văn học toàn được trao cho những người viết có chất lượng. Bởi vậy mà người ta tin vào kết quả lựa chọn của Hội đồng chấm giải. Kết quả là, giải Nobel Văn học đã và đang mang tính định hướng công chúng rất lớn. Các con số thống kê chỉ ra rằng cứ mỗi khi kết quả của giải Nobel Văn học được công bố thì ngành xuất bản bắt đầu đổ xô đi xuất bản, tái bản, và dịch sách của những nhà văn được giải còn công chúng thì đổ xô đi mua và tìm đọc, kể cả với những người đã nổi tiếng ngất trời và giàu sụ như Bob Dylan! Giữa một biển tác giả tác phẩm, vàng thau lẫn lộn, biết chọn ai bây giờ? Thôi thì đọc thử một ông/bà được giải Nobel xem thế nào.

Nhưng dù có bao nhiêu người hết sức tin tưởng vào Hội đồng chấm giải Nobel, đây vẫn là câu chuyện về giá trị nên hiển nhiên là mọi lựa chọn của Hội đồng đều làm hài lòng một phần công chúng và không làm hài lòng một phần khác. (Chỉ là nhóm công chúng không hài lòng có làm ầm ĩ lên không mà thôi.)

Vậy khía cạnh tích cực của việc tôn vinh này là gì?

Tôi nghĩ là ít nhất họ tăng sự chú ý của công chúng tới một tác giả có chất lượng. Dĩ nhiên vì luật chơi là mỗi năm một người nên mỗi năm họ chỉ giới thiệu được có một mà thôi. Nếu bạn thật lòng quan tâm tới việc tìm kiếm những tác giả, tác phẩm có chất lượng, việc bạn cần làm không phải là hàng năm chỉ hồi hộp chờ đợi kết quả của giải Nobel Văn học hay bất cứ giải thưởng văn học nào khác mà hãy hàng ngày (hay hàng tuần) theo dõi các mục điểm sách, giới thiệu sách, giới thiệu tác giả từ vô vàn những tờ báo, chuyên mục, website, hay tài khoản twitter mà bạn thích.

Năm 2016 này, với việc trao giải Nobel Văn học cho một người được biết đến với tư cách một nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn hay nhà thơ, giải Nobel Văn học đã (một lần nữa) đẩy một giá trị khác của nó từ cánh gà lên sân khấu chính: tái định nghĩa văn học. Nobel năm nay không chỉ đưa ra định nghĩa về giá trị của văn học mà nó đã định nghĩa lại về chính khái niệm này.

Dù bạn muốn hay không, mọi khái niệm trên đời này vẫn luôn được định nghĩa và tái định nghĩa liên tục trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Khái niệm “văn học” cũng vậy. Người ta đang phản ứng ồn ào với việc trao giải Nobel Văn học cho Bob Dylan vì hành động này đang thách thức cách hiểu của tất cả mọi người về khái niệm “văn học”. Nếu chiểu theo cách hiểu truyền thống thông thường về văn học, thì có lẽ chỉ có một tập thơ và một cuốn hồi ký của Dylan được xếp vào địa hạt này – mà đó thì hiển nhiên không phải là di sản có giá trị nhất của ông và cũng không thể sánh được với các di sản văn học ở dạng truyền thống hơn của rất nhiều nhà văn khác. Phải chăng những ca từ trong các bài hát của Dylan cũng được xếp vào phạm trù “văn học”?

Có vẻ như Hội đồng giải Nobel Văn học đã xếp như thế!

Thật ra thì các lời bài hát của Dylan đã được giới học giả văn chương nghiên cứu lâu rồi, nhưng công chúng bên ngoài chẳng mấy ai quan tâm làm gì. Vả lại, ngay trong giới học giả cũng không thống nhất xem các lời ca ấy khi đứng độc lập, không đi với âm nhạc, mang tính văn chương tới đâu.

Dĩ nhiên Dylan cũng không phải là ngoại lệ.

Xin hỏi có bao nhiêu người nghe nhạc trên Trái đất này đã dành thời gian chỉ đọc lời bài hát mà không cần nghe phần nhạc? Bao nhiêu người đã từng chép lời bài hát vào sổ tay (khi đang không nghe nhạc)? Bao nhiêu người đã ngồi dịch lời một bài hát nào đó sang một ngôn ngữ khác? Bao nhiêu người đã từng trích dẫn một câu trong lời bài hát lên facebook hay twitter hay một chốn nào khác tương tự? Nếu nghĩ về những điều ấy, có thể bạn sẽ thấy rằng ranh giới giữa lời bài hát và phạm trù văn học cũng không thật quá rõ ràng.

Nếu nhìn về giải Nobel Văn học vượt ra ngoài ý nghĩa rất dễ thấy và phổ biến của nó là tôn vinh một cá nhân xuất sắc, hay là tôn vinh những giá trị nào đó của văn học, thì giải Nobel năm 2016 này đã làm được một điều mà rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển đã làm được (và chính nhờ thế mà đã được tôn vinh): thách thức tư duy của cả nhân loại.

Đọc bình luận của Tim Parks về giải Nobel Văn học năm nay:

Bob Dylan: The Music Travels, The Poetry Stays Home

Viết lách là gì? Viết lách là lao động.

Chuyện phiếm trong bữa tối tại một quán ăn trên một con phố nhỏ mang tên một nàng công chúa, giữa tôi với một người bạn:

– Kể ra cũng hơi xấu hổ vì đi học thạc sĩ ở bên kia về mà viết lách lại kém quá.

– Ờ thì mày là dân kỹ thuật, chắc không phải viết mấy. Chứ như bọn tao thì viết suốt, toàn viết thôi.

– Ừ chủ yếu là làm việc chứ có viết mấy đâu.

– Đó, bọn tao thì chỉ có viết thôi chứ có làm việc gì đâu.

Đôi khi những người hay (phải) viết lách lại thích tự giễu mình như thế. Nhưng thôi nào, phải công bằng một tí, viết lách cũng là lao động chứ. Kể cả khi bạn viết nhật ký cá nhân thì bản chất nó vẫn là lao động.

Chẳng hiểu sao tôi cứ có cảm giác rằng có một số người nghĩ rằng viết lách là một hoạt động dễ như ăn cháo đối với những người hình như là đẻ ra đã có gien văn hay chữ tốt. Nghĩa là gi gỉ gì gi cái gì họ cũng viết được, viết lúc nào cũng được, cứ đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa trong đầu rào rào chạy ra.

Trên thực tế, những người hay viết lách chẳng sớm thì muộn đều phải đối diện với một tình trạng gọi là writer’s block, tạm dịch là tắc mạch viết. Nghĩa là tự dưng chẳng viết được gì nữa. Có thể là cứ viết một hai từ, hoặc một hai câu lại xóa đi mà cũng có thể là cứ nhìn vào trang giấy hay màn hình máy tính hàng tiếng đồng hồ mà không nặn ra được một chữ nào. Tình trạng tắc mạch viết này có khi kéo dài đến hàng năm trời. Trên mạng có trăm phương nghìn kế người ta mách nhau làm thế nào để thoát khỏi tình trạng tắc mạch viết một cách mau chóng.

Kể cả khi không bị tắc mạch viết, nhiều người viết cũng cần có những điều kiện nhất định mới có thể viết được. Thường gặp nhất là nhu cầu được yên tĩnh không ai làm phiền. Ôi sao mà tôi yêu cái cau mày của Nicole Kidman trong phim “The hours” trong phân cảnh Virginia Woolf đang viết lách thì bị làm phiền đến thế chứ! Một trong những nỗi khó chịu lớn nhất cuộc đời tôi là đang viết thì có ai đó tự dưng bắt chuyện hoặc hỏi một câu hoặc có một âm thanh nào đó tự dưng gắt lên. Khi viết lách tôi thường cần một sự tập trung cao độ, kể cả khi đó là việc viết ra một thứ nhảm nhí cho mình mình đọc.

Tuy nhiên, giống như nhiều phụ nữ hay viết lách có con mọn, với tôi một ngoại lệ đáng yêu hoàn toàn chấp nhận được là con mèo :D. Những người viết ở nhà trông con hay trông mèo đều biết cách làm thế nào để viết được với một đứa nhóc đang cắn chân mình hoặc chạy khắp nhà và la toáng lên :D.

Ngoài nhu cầu phổ biến về sự yên tĩnh, mỗi một người viết sẽ có một hoặc vài nhu cầu khác để có thể viết lách được. Có những nhu cầu đơn giản và dễ hiểu, ví dụ như hút thuốc, đồng thời cũng có đầy nhu cầu vô cùng kỳ quái và khó hiểu. Nếu bạn có hứng thú tìm hiểu thêm, bạn có thể google “weird writing habits” thì sẽ ra một lô một lốc những bài viết tiết lộ cho bạn biết những chuyện kiểu như ai thì thích đứng viết, ai thì thích nằm viết, và ai thì thích không mặc gì khi viết.

Nhắc tới “tìm hiểu thêm”, tính chất lao động của việc viết lách thể hiện rõ ở công việc này hơn là ở những đòi hỏi về “điều kiện lao động”. Tôi có cảm giác rằng một trong những thất bại lớn nhất của việc dạy văn ở bậc phổ thông ở Việt Nam hiện nay là không dạy cho học sinh hiểu được rằng viết lách cũng cần phải có tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể đó là lý do vì sao tôi có cảm giác rằng nhiều người nghĩ rằng viết lách nghĩa là cứ đặt bút hoặc đặt tay xuống bàn phím là viết được, như có viết ở trên. Chuyện cũ nói lại: dạy văn ở phổ thông cơ bản đang là dạy học sinh cần phải học thuộc cái gì. Các thầy cô giáo giảng văn không phải là để gợi mở cho học trò tư duy mà là để “truyền đạt” lại một số cách hiểu một tác phẩm văn học và rồi sẽ chấm điểm các bài văn dựa vào sự ghi nhớ và nhắc lại được những cách hiểu đó. Barem chấm điểm môn văn luôn luôn phải có “đúng ý, đủ ý” bên cạnh một số yêu cầu khác dường như không quan trọng bằng.

Người bạn tốt của cách dạy như thế là các “bài văn mẫu” – một khái niệm với tôi là hơi nực cười. Không phải là chúng ta không cần các bài văn sẵn có để tham khảo; ngược lại, cái chúng ta cần chính là các bài văn để tham khảo – chứ không phải để làm mẫu. Tham khảo có nghĩa là đọc để biết người khác người ta nghĩ như thế về tác phẩm ấy, tác giả đó, chứ không phải là à người ta đã tổng kết là tác phẩm ấy, tác giả đó được hiểu như thế đó, ta chỉ cần ghi nhớ và viết lại y chang. Thảo luận văn học là một điều cần có ngay ở bậc phổ thông ở mọi lớp chứ không phải chỉ ở các lớp chuyên văn hay tới tận bậc đại học trong các chuyên ngành liên quan tới văn chương. Việc thảo luận ấy không chỉ tốt cho việc cảm thụ văn học mà còn vô cùng tốt cho việc tư duy về các vấn đề xã hội, nhân tình thế thái, vân vân. (Các vấn đề mà sớm hay muộn đám học trò cũng sẽ xôn xao bàn tán chém gió với nhau trong các hàng trà đá vỉa hè hay trong các quán cà phê hay trên các diễn đàn ảo tung chảo khi chúng lớn lên làm người lớn như ai :D.)

Trên thực tế, phải tới bậc thạc sĩ tôi mới nhận ra mình đã bị ảnh hưởng nhiều như thế nào bởi lối học viết lách thụ động ấy. Dù nhiều giáo sư bảo tôi viết lách tốt, có hai người đã viết nhận xét vào bài luận của tôi đại ý là em tóm tắt những bài đọc rất tốt, nhưng tôi muốn em viết nhiều hơn về quan điểm của cá nhân em về chủ đề của bài luận. Em nghĩ gì về những quan điểm của các bài báo và các cuốn sách mà chúng ta đọc?

Sau các nhận xét ấy, mỗi khi viết luận tôi lại tự hỏi mình, thế rốt cục là tôi nghĩ gì về cái vấn đề mà tôi đang viết? Rồi tôi nhận ra là điều ấy thật khó. Những gì người ta – các học giả nghiên cứu lâu năm – đã nghĩ ra trước khi tôi kịp nghĩ gì có khi đọc tới đọc lui còn chưa hiểu được hết, thử hỏi tôi còn biết nghĩ gì nữa. Tôi nói chuyện với mấy bạn học người Mỹ và tụi nó bảo cũng thấy khó khăn như tôi trong việc “nghĩ gì nữa”. Nhưng rồi chúng tôi cứ phải tập nghĩ từ bài luận này sang bài luận khác cho tới khi hình thành một thói quen cứ đọc là phải nghĩ: tôi nghĩ gì về việc ông bà nào đó nghĩ gì, viết gì, nói gì, bất kể ông bà ấy là ai, được thiên hạ tung hô hay bị nhân gian chửi rủa như thế nào.

Khi bạn viết, điều quan trọng nhất không phải là ai đó nghĩ gì mà là bạn nghĩ gì.

Tóm lại, những gì viết nãy giờ là muốn nói đến hai khía cạnh mang tính chất lao động của công việc viết lách: (1) là phải tìm hiểu, nghiên cứu, đọc tài liệu tham khảo về vấn đề mà mình viết; (2) là phải nghĩ cho ra bản thân mình chứ không phải bất kỳ một ai khác nghĩ gì về vấn đề mà mình viết.

Giờ nói tới khía cạnh thứ ba thể hiện tính chất lao động của việc viết lách, ấy chính là việc viết. Hay đúng hơn là việc viết đi viết lại, viết tới viết lui cho tới khi nào cảm thấy những gì mình viết ra là đúng với cái mà mình đang nghĩ trong đầu mà khi người khác đọc người ta có thể hiểu được mình muốn nói gì.

Dĩ nhiên có những bài viết là sản phẩm của “viết phát ăn liền”, quả thực là đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa rào rào chạy ra lấp đầy những trang trắng trước mặt người viết, rồi gần như không phải sửa sang gì cứ thế đem xuất bản (post) là thiên hạ rào rào nhảy vào like và phát tán. Nhưng với những người viết lách thường xuyên, chuyện viết đi viết lại, viết tới viết lui, viết viết xóa xóa, thậm chí viết đến phát khóc, bỏ ăn, mất ngủ vì viết mãi mà không ra được như mình mong muốn là chuyện rất bình thường. Bởi thế nên nếu bạn đang phải viết gì đó mà thấy viết mãi không ra cái gì, thậm chí là mãi không viết được ra cái gì, thì điều đó không có nghĩa là bạn không có khả năng viết lách về cái mà bạn đang phải viết mà chỉ là có thể bạn sẽ phải bước vào một giai đoạn lao động khổ sai hơn nữa trước khi có thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm mà thôi. Thường thì những lúc như thế cứ viết bừa ra mọi thứ đang nhảy múa trong đầu bạn, không cần chúng phải có nghĩa, không cần chúng phải logic hay liên quan tới nhau, cứ phải viết ra rồi tính tiếp.

Một mô tả về công việc viết lách của Paulo Coelho có thể được đọc ở đây.

Mà nhân tiện nhắc tới việc viết đi viết lại, xin chia sẻ một lời khuyên dành cho người viết lách mà tôi đọc được cách đây nhiều năm, có bắt chước làm theo, và cảm thấy vô cùng chí lý, ấy là đừng vứt đi bất cứ thứ gì mình viết. Làm được việc này không phải dễ vì đôi khi (hoặc nhiều khi) đọc lại vài thứ mình viết thấy chúng sao mà ngô nghê, nông cạn, sai bét, buồn cười không phải lối, quá đau khổ, quá sướt mướt, hoặc chứa đựng muôn vàn sự dở hơi khác.

Coi trong phim hoặc trong chính đời thực của chúng ta có một phân cảnh dễ gặp là người viết vo nát mảnh giấy chứa đựng những gì mình vừa viết ra, có khi là cả nguyên một trang chữ hoặc có khi chỉ là một hai câu, rồi ném cái viên giấy ấy vào sọt rác hoặc vào góc nhà cho bõ tức vì viết chán quá. Tốt nhất là nên ném vào góc nhà, hoặc vào một cái thùng rác sạch (chuyên đựng giấy bỏ chẳng hạn) để khi cơn tức giận qua đi thì hãy gom chúng lại, mở ra, vuốt cho phẳng phiu, rồi đem cất vào một cái hộp nào đó. Thực tế là nhiều khi đọc lại những gì ta đã từng cho là dở hơi và đáng xấu hổ lại cho ta những ý tưởng viết lách mới hoặc soi sáng ra một điều gì đó cho cái đầu lúc nào cũng ngổn ngang suy nghĩ của ta.

(Giờ tôi hầu như không viết trên giấy, nhưng trong máy tính phải có vài file để phục vụ cho việc viết đủ thứ lăng nhăng xì cuội không đầu không cuối và cứ giữ lại hết tất tật những thứ chổi cùn rế rách ấy.)

Tóm lại, bài này tuy viết theo văn phong lan man nhưng chỉ có một ý chính thôi: viết lách có thể là nhiều thứ – là nghề nghiệp tay trái hoặc chân phải hoặc là sở thích cá nhân hoặc là một công việc dù ghét cay ghét đắng nhưng vẫn phải làm – nhưng dù là gì thì nó cũng là một dạng lao động đòi hỏi người lao động phải bỏ thời gian và công sức ra để làm, có lúc buồn, có lúc vui, có lúc nhàn hạ, có lúc lại khốn khổ không ai bằng :D.

Học hành: vui và không vui

Sau khi tôi viết bài “Những niềm vui học hành”, có bạn hỏi, thế những bất mãn học hành là gì đấy? Hỏi thế cũng có cái lý của nó nhưng mà thôi, gọi là bất mãn làm gì cho hại sức khỏe với mau già. Ta phải tập nhìn các sự vật hiện tượng một cách khách quan, không phán xét, không káu giận, để lấy cái ánh sáng đó mà soi sáng cho hiện tại mông lung :D.

Thật ra khi bắt đầu viết bài đấy, tôi đang nghĩ và đã bắt đầu viết về những nỗi buồn học hành, nhưng rồi viết một lúc, các niềm vui học hành thuở nào lại từ ký ức tràn về trong khi những nỗi buồn cứ luẩn quẩn, viết mãi cũng không thấy ra cái hình thù gì. Thế nên kết quả là bài đó đó :D.

Thế tại sao sau này đi học tôi lại thấy buồn nhiều hơn vui?

Hết năm thứ nhất đại học, tức là sau hai học kỳ cùng với một kỳ nghỉ hè dài phè phỡn mà những năm học phổ thông nhẽ ra cũng đã phải có mà thực tế thì trong nhiều năm liền đã không có, tôi phát hiện ra một vấn đề là những môn mình được 9 điểm và những môn mình được 5 điểm chả khác gì nhau, ấy là nghỉ hè xong mình quên sạch. Thế là từ đó tôi bắt đầu nghĩ ngợi về chuyện học mà rồi quên sạch thế thì học để làm gì.

Phát hiện ra vấn đề không khó: tôi không thích ngành mình đã chọn. Nói cho chính xác hơn, ngành ấy phải học rất nhiều Hóa và tôi thì chưa bao giờ thích môn này cả. Tôi không dốt hóa, bởi vì việc giải mớ bài tập hóa học ở bậc phổ thông, hay kể cả thi đại học, xét cho cùng cũng chỉ đòi hỏi tư duy logic là chính, mà cái đó thì tôi không thiếu. Nhưng học theo kiểu vị lợi, tức là để qua được bài kiểm tra, qua được kỳ thi đại học, thì cũng khó mà sinh ra được niềm vui, nhất là khi ngay từ đầu niềm vui ấy đã không tồn tại. Học gạo mãi thì cũng ức chế.

Sau thì tôi vẫn học hết cái ngành ấy, cầm tấm bằng đại học, rồi đi làm một nghề chẳng liên quan. Đi làm được hai năm, tôi có một cơ hội đi học trở lại, lần này là một ngành mình thích, và cũng rất liên quan đến cái nghề mình đã làm. Hơn thế nữa, lại còn được đi học ở một nền giáo dục xét về nhiều mặt tôi cho là tử tế hơn nền giáo dục mình vẫn biết.

Niềm vui học hành mau chóng trở lại. Tôi lao đầu vào học, như nắng hạn gặp mưa rào, lại một lần nữa chẳng vì cái gì cả. Học là vui. Đến giờ tôi vẫn nhớ những buổi lên thư viện, nhớ những lần ngây ngất đi giữa những giá sách cao ngất đến trần, nhớ sức nặng của những chồng sách ôm về từ thư viện, nhớ những góc mình đã ngồi đọc sách vào nhiều buổi sáng, trưa, chiều, tối. Nhớ những bài luận dù được điểm A vẫn chi chít bút đỏ của giáo viên, để hiểu rằng điểm số chỉ là tương đối còn chân trời để tiếp tục khám phá thì thênh thang. Nhớ lời phê của một giáo sư nghiêm khắc trong một lớp học rất khó khăn với tôi, đại khái là you really need to improve your English writing ở cuối một trang mà ổng ngồi chữa cho tôi từng lỗi một. Nếu không có lời phê ấy và cái trang ấy, tôi sẽ vẫn còn tưởng tiếng Anh của mình là ok vì các giáo sư khác không ai nói gì về tiếng Anh của mình bao giờ lol.

Dĩ nhiên, thiên đường nào cũng có những bóng tối :D. Nói có thể hơi cường điệu một chút thì không chỉ nền giáo dục phương Tây mà cả xã hội phương Tây đã bán mình cho một chữ: efficiency. Nghĩa là “tính hiệu quả”. Tính hiệu quả nghĩa là gì? Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary mà tôi có, efficiency is the quality of doing something well with no waste of time or money. Dịch đại khái sang tiếng Việt: hiệu quả là làm tốt một việc gì đó mà không lãng phí thời gian hay tiền bạc.

“Hiệu quả” không nhất thiết là một điều xấu. Hai năm đi học ở bển là hai năm tôi đã học được nhiều điều nhất trong một thời gian ngắn nhất, nếu so sánh với các trải nghiệm khác trong cuộc đời cũng chưa dài lắm của mình tính đến thời điểm này. Đó là một nền giáo dục được thiết kế để người học có điều kiện lĩnh hội được nhanh nhất những điều thiết yếu quan trọng nhất đã được tinh chế ra từ một lịch sử khám phá tri thức của giới trí thức phương Tây. Ở đây lịch sử cần được hiểu là phần lịch sử đã được ghi nhận, a perceived history, bởi vì con người không bao giờ hiểu hết được toàn bộ lịch sử như nó thực sự đã là. Bởi vậy nếu mong muốn lớn nhất của bạn với việc học hành là học được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, nền giáo dục kiểu phương Tây có lẽ là lựa chọn tốt nhất mà bạn có thể có được trên thiên đường hạ giới này :D.

“Hiệu quả” thật ra chẳng tốt cũng chẳng xấu. Vấn đề nằm ở hai chữ “bán mình” kia. Tôi cho là từ ngày ông kỹ sư cơ khí Frederick Taylor phát minh ra phương pháp quản lý mang tính khoa học (scientific management) và đặc biệt là từ ngày ông Henry Ford quyết định đầu tư vào phát triển và ứng dụng dây chuyền lắp ghép (assembly line) trong sản xuất ô tô thì xã hội phương Tây bắt đầu thực sự chuyển mình: rốt cục thì họ cũng tìm ra cách để tôn thờ giá trị của sự hiệu quả. Một sự tôn thờ tận tâm, chân thành, chung thủy mà có lẽ không cần tốn tới ngàn tỉ xây tượng đài. Với tôi thì tôn thờ cái gì quá mức cũng đồng nghĩa với việc bán linh hồn của mình cho thứ đó – bán đứt hay bán một phần thì còn tùy vào mức độ tôn thờ.

“Ba thói xấu lớn nhất của người Mỹ là tính hiệu quả, đúng giờ, và khao khát thành công. Chính chúng khiến người Mỹ cảm thấy cuộc sống của họ bất hạnh và quá căng thẳng.”

The Importance of Living, Lâm Ngữ Đường

Khi tôi bước chân vào nền giáo dục hiệu quả ấy, hai thực thể “bán mình” gặp nhau, có điều là mỗi thằng thờ một chủ :D. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã trở thành một nô lệ trung thành của niềm vui. Thiếu vắng niềm vui tôi không chỉ buồn mà còn đau khổ lol. Thật ra sống trong nền giáo dục ấy tôi cũng có niềm vui, như đã kể ở trên, chỉ có điều khi phát hiện ra người mình yêu tôn thờ những thứ khác, không giống với mình, thì cũng ít nhiều thất vọng :P. Rồi thêm một chút sóng gió bên ngoài xô đẩy, thế là tình nghĩa đôi ta đến thế thôi :D.

Về chuyện học hành, xét cho cùng, vui hay không vui cũng chỉ là một chiều kích để đánh giá – và không nhất thiết là chiều kích quan trọng nhất. Nhìn lại chuyện học hành của mình tôi nghĩ nó giống như một lát cắt từ cuộc sống, có thể cho mình biết mình đã và đang sống cuộc sống của mình như thế nào: như một kẻ nô lệ nghiện ngập đầy tự hào chẳng hạn.

Mà nô lệ cho cái gì, nghiện ngập bất cứ thứ gì thì cũng đều khổ cả :P.

Độc thân. Mưa. Thì làm gì? (3)

Có thể hãy nên dành một ngày mưa không biết làm gì để suy nghĩ nghiêm túc về sự cô độc của loài người.

Chiều tối qua Hà Nội mưa to lúc tôi định ra khỏi nhà, nên tôi lại đổi kế hoạch mà nằm nhà ăn tối một mình. Nhưng không phải vì thế mà tôi nghĩ đến chuyện viết bài này. Từ vài bữa trước khi đọc bài báo “10 Surprising Facts About Loneliness” tôi đã nghĩ đến chuyện viết phần thứ ba cho series này, có điều lười chưa viết, và cũng chưa có ý gì hay để bắt đầu viết. Tối qua tôi vẫn chỉ biết nằm nghe Shayne Ward mãi sau khi vô tình nghe nhạc của bạn này đúng lúc trời mưa và phải viết thư cho một người bạn chỉ để bảo một câu rằng, sao bạn Shayne Ward hát hay thế mà giờ tớ mới biết nhỉ. Bạn hỏi, ai vừa giới thiệu Shayne Ward cho bạn à. Đâu, lúc chiều tớ đang lang thang nghe nhiều thứ thì gặp bạn Shayne này.

Lúc một rưỡi sáng con mèo gọi tôi dậy cho nó ăn vì tôi đã lười biếng ngủ luôn trên sofa trong phòng khách thay vì cho con mèo ra ban công rồi chui vào phòng ngủ để tránh bị nó làm phiền vào giữa đêm và sáng sớm. Cho mèo ăn xong tôi mới làm việc đó. Nhưng tự dưng chả ngủ lại được. Rồi chẳng hiểu vì sao lại nhớ tới một chuyện cũ làm tôi nghĩ đến việc viết bài này, thế là nhỏm dậy, bật đèn sáng, viết.

Chuyện cũ ấy xảy ra hồi tôi còn hay lui tới công tác tại một cộng đồng người Thái ở miền Tây Nghệ An. Tôi khi ấy đã trở nên thân thiết với cộng đồng tới mức có thể vào bất cứ nhà nào xin một bát cơm cũng không phải ngần ngại gì. (Dĩ nhiên, không ai lại đi chọn những nhà quá nghèo và những nhà mà mình chưa lui tới bao giờ.) Thường thì tôi sẽ phải tự lo thu xếp chuyện ăn uống của mình, có ăn nhờ nhà ai cũng phải tự mình mua đồ mang đến góp nấu và ăn chung với chủ nhà, hoặc phải gửi tiền, chứ không đi ăn không của những người khó khăn hơn mình rất nhiều. Nhưng bạn biết đấy, khi đã thực sự thân thiết thì nhiều khi cũng không phải quá nguyên tắc những chuyện như thế.

Hôm ấy là tầm buổi trưa, giờ nghĩ lại chẳng hiểu sao tôi lại bơ vơ vào bữa trưa ấy. Có lẽ là do có thay đổi đột xuất trong lịch làm việc cá nhân. Tôi đi từ một bản ở xa ra tới một bản ở gần trung tâm xã và quyết định tạt vào một nhà cũng quen quen ở bản này. Mà có lẽ khi ấy ban đầu tôi vào là có việc gì thật, chứ không phải chủ động để xin bát cơm. Và hình như vì là buổi trưa, chị chủ nhà hỏi tôi đã ăn gì chưa. Chắc là tôi đã trả lời là em chưa ăn gì, nếu gia đình có cơm cho em thì cho em ăn cùng với. Khi ấy gia đình đã ăn cơm trưa rồi, nhưng chị chủ nhà bảo để chị dọn cơm cho, ăn đi đừng ngại. Thế là tôi gật đầu.

Người Thái ăn rất đàng hoàng. Một người ăn cũng phải dọn mâm bát đầy đủ, chứ không phải như dân thành thị ngày nay ăn một mình có thể một mình ôm một tô ngồi bất cứ đâu cũng được. Nên là chị chủ nhà dọn cho tôi một mâm đàng hoàng. Ngoài chén bát và những đĩa đồ ăn cho tôi, tôi thấy trên mâm còn một chiếc bát và một đôi đũa nữa. Tôi thắc mắc. Chị bảo là để em ăn cho đỡ buồn. Chị giải thích là người Thái làm gì cũng phải có đôi, để thêm một chiếc bát không, một đôi đũa trống như thế để không phải ăn một mình. Quả thực là tôi nhớ đại khái vậy, dù giờ nghĩ lại cảm thấy không đúng lắm, vì tôi đã lang thang ở cộng đồng đấy suốt, cũng đã từng thấy những người Thái ăn một mình rồi chứ nhỉ, sao tôi chưa bao giờ thấy họ để bát đũa không bên cạnh. Thôi thì cứ biết đại khái ký ức của tôi là như thế. Là tôi cảm kích cái ý nghĩ và hành động và lời giải thích ấy của chị chủ nhà nên cứ nhớ mãi, dù có thể câu chuyện nhỏ này chưa bao giờ có dịp kể cho ai nghe.

Thật ra thì người Việt mình vốn cũng ăn uống rất đàng hoàng, vì ở nhà tôi cũng được mẹ dạy cho nhiều thứ nho nhỏ mà cũng quan trọng phết quanh chuyện ăn uống, ví dụ như để phần cơm cho người về muộn như thế nào. Chỉ những khi ở một mình nhiều khi tôi mới giản lược chuyện ăn uống xuống thành việc ôm một tô ngồi ăn ở một đâu đó không phải là bàn ăn, như là ở ghế sofa hay tại bàn học/làm việc và dán mặt vào máy tính hay TV. Nhưng nhiều khi khác tôi vẫn có ý thức về chuyện ăn uống phải đàng hoàng, một mình cũng phải bày cho đủ chén bát ra bàn, ăn có thể nhìn ra ngoài cửa sổ, nhưng không xem cái gì cả.

Dân Mỹ cũng tương tự. Nếu sống một gia đình với nhau thì thường trong nhà sẽ có một cái bàn ăn tử tế. Sống độc thân thì tùy, có người ăn là phải ngồi bàn ăn đàng hoàng mới ăn được nhưng cũng có những người có thể ngồi ăn một chỗ khác không phải là bàn ăn cũng không sao, như tôi kể về tôi ở đoạn trên. Còn chuyện ăn một mình mà đặt thêm một chiếc bát không, một đôi đũa trống cho “có đôi”, không phải ăn một mình thì cả đời tôi đến giờ mới có duy nhất một lần trải nghiệm như vậy.

Thật ra trong văn hóa của người Việt cũng có những điều tương tự, nhưng có lẽ là đang bị mất dần đi, chẳng biết sau này có ai để ý đến nữa không. Tôi nhận ra điều ấy khi có một lần em gái tôi tới chơi với tôi ở Mỹ đã mua tặng tôi hai cái bát Nhật làm quà. Hai cái bát cọc cạch. Nghĩa là không phải cùng một đôi. Dù chiếc nào cũng đẹp, chiếc nào tôi cũng thích. Tôi đã bảo nó sao mua quà buồn cười thế, tặng bát thì phải tặng một đôi chứ sao lại tặng cọc cạch thế này. Thật ra tôi cũng không biết vì sao tôi lại nghĩ thế và nói thế, vì tôi cũng không phải là người hay để ý những chuyện quà cáp phải mua ra làm sao. Tôi chỉ có thể đoán là vì tôi vẫn quen được nhìn thấy những thứ như vậy đi thành đôi, thành bộ nên tự dưng thấy chúng đi một mình thì tôi thấy lạ. Chứ nếu là một cái cốc uống nước (mug) thì chắc tôi cũng chẳng ý kiến gì, vì tôi cũng thích cốc đẹp nên hay đi mua lẻ tẻ chứ không mua theo đôi theo bộ.

Một lần khác tôi được tặng một đôi tách-đĩa cô độc. Chính xác ra nó là một cái cốc uống cà phê truyền thống của người Armenia, nhưng nhỏ như cái tách uống trà của người Việt mình, và có một cái đĩa đi kèm. Lần ấy cô bạn người Armenia của tôi về nước chơi và có hỏi tôi có thích quà gì từ Armenia không. Tôi vẫn hay thấy bạn ấy và một người bạn Armenia khác uống cà phê trong chiếc tách ấy, đẹp, nên tôi đã nói là tôi cũng muốn có một cái. Khi bạn ấy tặng tôi chiếc tách và chiếc đĩa đi kèm như vậy, tôi cũng có cảm giác kỳ cục như khi nhận được hai chiếc bát đẹp mà cọc cạch mà em gái tôi mua cho vậy. Vì tôi không quen nhìn một đôi tách-đĩa cô độc như thế. Dĩ nhiên tôi đã chỉ nhận và cảm ơn chứ không nói gì khác.

Đã từ lâu tôi đã nhận ra là con người ngày càng trở nên cô đơn và cô độc hơn trong các xã hội hiện đại và hậu hiện đại. (Theo Dictionary.com thì solitude (cô độc) có nguồn gốc từ sōlitūdō trong tiếng Latinh và đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 14.) Nói như vậy không phải là để phán xét, bởi đó là những bước đi của lịch sử, nhiều khi cảm giác như một cơn lốc của số phận loài người, không thể tránh được. Đôi lúc nghĩ cực đoan, tôi lại cho rằng đỉnh cao của văn minh nhân loại đã lùi xa lắm rồi, chỉ còn lại ít tàn tích mà thôi, ấy là nền văn minh nông nghiệp, khi con người gắn bó với thiên nhiên nhiều hơn, với nhau nhiều hơn, và với chính mình nhiều hơn. Thật ra, nền văn minh nào cũng có những vướng mắc của nó. Đời sống kiểu làng xã cũng nhiều điều gò bó, tàn nhẫn, và bất ổn.

Vả lại, chính sự dư thừa thực phẩm từ các nền văn minh nông nghiệp (và sự trao đổi hàng hóa) đã dẫn tới sự phát triển của các đô thị và theo đó là lối sống thành thị của những tầng lớp không còn là nông dân nữa bởi họ (hay là chính chúng ta, người viết bài này và những người đọc bài này) không cần phải tự làm ra thực phẩm để ăn mà thay vào đó có thể nghiên cứu khoa học, buôn bán, và làm thơ. Rồi xã hội loài người cứ dần dần diễn tiến tiếp như chúng ta về cơ bản vẫn biết.

Sự cô độc và sự cô đơn đã từ lâu trở thành một phần của cuộc sống bình thường. Bài “10 sự thật đáng ngạc nhiên về sự cô đơn” mà tôi nhắc ở đầu bài viết này đại ý tôi dịch tóm tắt thế này (trong ngoặc vuông là chú thích hoặc bình luận của tôi):

  1. Sự cô đơn không phụ thuộc vào việc bạn có bao nhiêu bạn bè và các mối quan hệ, mà nó phụ thuộc vào chất lượng của các mối quan hệ ấy theo cảm nhận của bạn.
  2. Hơn 60% những người cô đơn là những người có gia đình. [Chắc là theo một khảo sát của Tây về một xã hội Tây.]
  3. Sự cô đơn tiêu cực hóa cách chúng ta nhìn nhận về các mối quan hệ của mình.
  4. Sự cô đơn có thể lây lan qua các mạng xã hội.
  5. Sự cô đơn làm cơ thể chúng ta cảm thấy thực sự lạnh hơn. [Vậy hãy nghe lời khuyên của tôi trong hai bài trước thuộc cùng series này, kiếm cái gì đó ấm nóng theo nghĩa đen mà lấp vào những ngày mưa lạnh – cái gì đó là cái gì thì tùy vào hiểu biết và năng lực của bạn :D.]
  6. Sự cô đơn làm cơ thể chúng ta phản ứng như khi bị tấn công (tăng huyết áp và cholesterol, tăng stress…)
  7. Tình trạng cô đơn kéo dài sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.
  8. Sự cô đơn làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể.
  9. Sinh viên năm nhất mà cảm thấy cô đơn thường đáp ứng kém hơn với các mũi tiêm phòng cúm. [Các năm sau sẽ quen dần với sự cô đơn, sức đề kháng sẽ tốt hơn lol.]
  10. Sự cô đơn cũng nguy hiểm như là hút thuốc lá.

Chà nghe cũng ảm đạm thật đấy. Thành thực xin lỗi bạn đọc nếu làm bạn buồn hơn hay lo lắng hơn.  Nhưng có chuyên gia bảo là để đối phó với nỗi cô đơn cần có ý thức về nó và chấp nhận nó. Một số hướng dẫn khác có thể đọc ở đây. Và xin tiết lộ với bạn là sự cô độc cũng có những giá trị nhất định của nó.

Những bài sau của tôi trong series này nói riêng và trên blog nói chung hy vọng sẽ sáng sủa hơn, vì tôi có nhận được các comment từ người thân, bạn bè nói rằng blog này viết được nhưng buồn quá. Nhưng quả thực cũng như nhiều độc giả của blog này, tôi cũng phải loay hoay với sự cô độc của chính mình, nên mới nảy ra trò viết series này (hay là viết chính cái blog này). Chúng ta cùng cố gắng vậy :P.

Nếu nghe Shayne Ward không làm bạn vui hơn, bạn có thể thử với Bruno Mars hoặc Jason Mraz xem sao. 🙂