Category Archives: Vụn vặt

Most read authors và số 3 “thần thánh” của tôi

Trước khi nhập dữ liệu sách mình đọc lên Goodreads và nhấn vào thống kê “Most read authors” của trang này, tôi đã nhận thấy từ lâu là rất khó khăn để tôi đọc được tới quyển sách thứ ba của cùng một tác giả. Thường tới quyển thứ hai là tôi đã cảm thấy cái mong muốn sẽ tiếp tục đọc tác giả này giảm xuống đáng kể.

Ngay cả trong số bốn tác giả mà tôi đã đọc được tới quyển thứ ba, hay là cứ tính cả ông tác giả mà tôi đang đọc tới quyển thứ ba và nhiều khả năng sẽ kết thúc được quyển thứ ba này là năm tác giả, chỉ có duy nhất một người tôi vẫn còn cảm thấy muốn tiếp tục tìm đọc là Jack London. Bốn người còn lại (Paulo Coelho, Dương Thu Hương, Alvin Toffler, Thomas Friedman) tôi đều không coi là tác giả ưa thích của mình!

Nhưng dẫu sao cũng đã có ba tác giả vượt qua được con số 3 “thần thánh” này của tôi và khả năng là họ sẽ còn nằm chình ình trên đầu bảng thống kê này trong một thời gian rất dài nữa.

Số 1. Nguyễn Nhật Ánh

Trên Goodreads tôi chỉ thống kê được đại khái vài cuốn của Nguyễn Nhật Ánh mà tôi đã đọc nhưng con số thực tế ít nhất cũng phải tầm 20 cuốn. Một lý do con số này nhiều đến thế là vì bác Ánh viết truyện khá là ngắn, nếu so với các cuốn sách của các tác giả khác mà tôi đọc. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy vui vì trong top 3 này của tôi có một nhà văn Việt Nam. Dù tôi không còn đọc bác Ánh nữa nhưng đây là một tác giả ưa thích của tôi chẳng phải nghi ngờ gì nữa.

Số 2. Murakami Haruki

Tôi đọc ông này được tròn 10 cuốn. Như nhiều người khác, tôi rơi vào trạng thái nghiện đọc ổng. Từ năm ngoái đến giờ là tôi chủ động tránh đọc ổng để còn dành thời gian cho các tác giả khác, chứ không thì đọc chắc vẫn như gió vào nhà trống, bao nhiêu cũng không thấy đủ.

Số 3. J.K. Rowling

Nếu không nhìn vào thống kê thì tôi cũng không nhận thấy Rowling chính là nhà văn nữ tôi đã đọc nhiều nhất. Khi phát hiện ra điều đó, tôi rất ngạc nhiên vì với tôi bà chỉ đơn giản là một trong những tác giả nữ tôi đã đọc. Hiện giờ tôi vẫn đang trên đường tìm kiếm một nữ tác giả mà mình ưa thích.

Về Rowling thì rất có thể con số của tôi sẽ dừng lại ở số sáu. Chính là sáu quyển trong bộ Harry Potter. Nghĩa là ngay bộ ấy tôi cũng đọc không hết. Quyển thứ bảy, là quyển cuối cùng trong bộ truyện, tôi đã không vượt qua được. Tôi đã đọc chừng 1/3 quyển ấy rồi không cảm thấy muốn đọc tiếp để biết câu chuyện kết thúc như nào. Trên thực tế, sau khi đọc xong quyển thứ năm tôi đã mất nhiều hứng thú với bộ truyện.

Dĩ nhiên mục tiêu đọc sách của tôi là phải thêm bạn cho top 3 này, nhưng trước khi đạt đến con số 6 khiêm tốn của Rowling tôi cần phải tập trung vào con số 3 thần thánh cái đã. Dưới đây là một số tác giả tôi đã đọc từ hai cuốn tới hai cuốn rưỡi và nhìn thấy có khả năng sẽ nâng cao được thành tích:

  1. Paul Auster: đã đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace và một phần The New York Trilogy.
  2. E.B. White: đã đọc Mạng nhện của CharlotteChiếc kèn Trumpet của Thiên nga và tốt nhất là nên tìm đọc nốt Nhắt Stuart cho trọn bộ 3 cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng của ông này.
  3. Mark Twain: đã đọc Tom Sawyer và Huck Finn và cũng muốn đọc thêm cuốn hồi ký Life on the Mississippi của ổng rồi đọc lại hai cuốn kia nữa.
  4. Stephen King: đã đọc Dặm XanhNgười lửa và một vài truyện ngắn trong Just After SunsetThe Bazaar of Bad Dreams. Cuốn On Writing của ông cũng có vẻ hấp dẫn.
  5. Nguyn Dương Qunh: đã đọc Đ và Th trn ca Chúng ta và sẽ đọc tiếp nếu bạn này ra sách tiếp.
  6. Nguyn Trí: đã đọc hai tập truyện ngắn của bác này là Bãi vàng, Đá quý, Trm hương và Đ t. Tuy bắt đầu thấy có sự lặp lại nhưng vẫn muốn thử đọc sang tiểu thuyết đầu tay của bác là Thiên đường o vng dù cái tựa nghe không được hấp dẫn cho lắm.
  7. Nguyn Phương Mai: vừa đọc xong Tôi là mt con la và Con đường Hi giáo và cũng sẽ mua tiếp quyển nữa nếu chị này ra sách nữa (hy vọng là vềcánh cung phía Đông của con đường Hồi giáo).

Thật ra để nâng thành tích dễ thấy nhất là nên đọc một cuốn của Jack London để đẩy một tác giả nữa vượt qua con số 3 thần thánh. Nhưng bạn biết đấy, đọc sách nhiều khi cũng là do duyên phận!  😀

Khi trầm cảm tôi đã làm gì?

Năm ngoái, tôi loay hoay viết ra vài điều chia sẻ với những người trầm cảm (ở đây). Cũng muốn, và trên thực tế là đã, viết ra vài lời khuyên, nhưng rồi càng viết, càng đọc thêm thì lại càng thấy sự phức tạp của bệnh, các phương pháp điều trị, cũng như trải nghiệm của mọi người (cả người trầm cảm lẫn các nhà tâm lý trị liệu), rốt cục là cảm thấy mình không nên viết thêm các lời khuyên. Thay vào đó, có thể thỉnh thoảng dịch hoặc chia sẻ thêm những bài viết mà tôi cảm thấy là có thể hữu ích cho những người trầm cảm.

Tuy thế, tôi vẫn muốn tổng kết lại ở đây những gì tôi đã làm khi bị trầm cảm lần đầu cách đây mấy năm, như là mô tả lại một trải nghiệm cá nhân. Khi ấy tôi như kiểu có bệnh thì vái tứ phương, thử đủ mọi cách. Chẳng ai biết được là ngày ấy những gì tôi đã làm có gì đúng, có gì sai, và đã góp phần giúp tôi vượt qua được đợt trầm cảm ấy (kéo dài khoảng 8 tháng) ở mức độ nào, nếu như là những việc làm ấy là hữu ích. Bởi vậy, bài viết này chỉ là để những người quan tâm tới bệnh trầm cảm đọc cho biết thôi.

Vì những gì tôi sắp liệt kê ra đây là khá nhiều, tôi hy vọng những người trầm cảm đang đọc bài này không vì thế mà cảm thấy áp lực hay trầm uất thêm trong nỗ lực thoát khỏi trầm cảm của mình, còn những người có người thân, bạn bè bị trầm cảm cũng đừng vì bài viết này mà thúc ép người thân, bạn bè mình thử quá nhiều cách khác nhau. Tôi đã từng viết trên blog này rồi, con đường thoát khỏi trầm cảm của mỗi người là rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Phải bình tĩnh, phải kiên trì.

Dưới đây là những gì tôi đã làm, hầu như là làm cùng một lúc, đan xen, không rõ ràng việc gì trước việc gì sau:

  1. Tìm hiểu về bệnh

Tôi chẳng nhớ là ngày ấy vì sao và từ bao giờ tôi bắt đầu nghĩ là mình bị trầm cảm nữa, nhưng chắc chắn là tôi đã bắt đầu tìm hiểu về bệnh này từ trước khi đi khám (và chính thức được chẩn đoán là bị trầm cảm nhẹ), và vẫn liên tục đọc thêm sau đó. Ngày ấy tôi đã đọc rất nhiều trang web tiếng Anh viết về bệnh này – có thông tin trùng lặp, có thông tin khác nhau, tôi cũng chẳng nhớ nữa, nhưng tôi cứ đọc, đọc, đọc, chẳng biết là có ích gì không, nhưng dần dần tôi cảm thấy hiểu về bệnh của mình rõ hơn, ít nhất cũng nắm được gì cơ bản nhất, ít nhiều cũng bớt bối rối hơn.

(Tìm đọc thông tin về bệnh quan trọng là đọc những nguồn đáng tin cậy. Nếu bạn đọc được tiếng Anh thì rất dễ dàng tìm tới những nguồn đáng tin cậy từ các chuyên gia, hiệp hội chuyên ngành. Các nguồn tiếng Việt hiện ra trên google chủ yếu là báo chí và các nguồn không chuyên khác. Nếu bạn không ngại sách chuyên ngành (quả thực không quá khó đọc đâu), thì ở đây có bản dịch tiếng Việt của mấy chương một cuốn sách chuyên ngành.)

2. Đi khám

Ngày ấy tôi khám ở trung tâm y tế trong trường mà tôi đang học, rất tiện và cũng đáng tin cậy. Theo các tài liệu chuyên môn thì trầm uất kéo dài liên tục hai tuần là được coi là trầm cảm rồi, nhưng có lẽ hầu như ai cũng đi khám chậm hơn, thường là khi tình trạng ấy kéo dài ít nhất vài tháng. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tầm sau 2 tháng cảm thấy liên tục bị trầm uất, ngày càng không kiểm soát được tâm trạng của mình là tôi đã đi khám, so với nhiều người khác vẫn còn là sớm. Tất nhiên con số này chỉ là tương đối, vì gần như không bao giờ xác định được rõ ràng một cơn (đợt) trầm cảm chính xác là bắt đầu từ khi nào.

Tôi cho là bệnh nào cũng vậy thôi, đi khám và can thiệp điều trị càng sớm càng tốt, nếu có thể. Tuy thế, việc đi khám đối với người trầm cảm sẽ trở nên khó khăn hơn khi bệnh này trở lại, chứ không phải là khi nó tới lần đầu tiên. Nếu không muốn đi khám lại thì chắc chỉ có cách học cách sống chung với lũ.

3. Điều trị bằng nói chuyện (Talk therapy)

Sau khi đi khám và có chẩn đoán chính thức của bác sĩ, tôi được cho biết là tôi có thể điều trị hoặc bằng thuốc hoặc bằng nói chuyện với chuyên viên tâm lý hoặc kết hợp cả hai, và tôi cũng được hỏi là mình muốn lựa chọn điều trị như thế nào. Tôi đã chọn điều trị bằng nói chuyện trước và xem kết quả thế nào rồi sẽ quyết định là có dùng thuốc hay không. Sau đó tôi chỉ điều trị bằng nói chuyện mà không dùng thuốc.

Người điều trị cho tôi là một tiến sĩ tâm lý học có nhiều năm kinh nghiệm, là nam giới, và là người gốc Á. Trước khi giới thiệu tôi tới điều trị với vị therapist này, nhân viên y tế có hỏi tôi là tôi muốn làm việc với therapist nam hay nữ, và tôi đã trả lời là tôi không quá quan trọng chuyện ấy. Sau này thì tôi được biết là họ thường ghép cho người trầm cảm làm việc với những therapist có những tương đồng nhất định, nếu không phải là đồng giới thì cũng gần gũi về dân tộc (ethnicity), đại loại thế.

Lịch gặp therapist ban đầu được đặt là hai tuần một lần, sau thì giãn ra. Dù không được báo trước là mỗi buổi nói chuyện sẽ dài bao lâu, nhưng tôi để ý thấy lần nào cũng chừng 45’. Tôi cảm thấy thoải mái với thời lượng ấy, thường một buổi nói chuyện đến chừng ấy là đã cảm thấy đủ. Dĩ nhiên therapist thì luôn khéo léo kết thúc buổi gặp khi gần hết giờ, nhắc lại vài điểm quan trọng đã nói hay những gì sắp tới tôi nên thử làm hoặc tiếp tục làm, rồi đặt lịch cho lần gặp sau.

Gặp therapist nói chuyện gì? Bao giờ therapist cũng hỏi cụ thể tôi ăn ngủ thế nào, có tập thể dục không, các sinh hoạt bình thường ra làm sao, có tự gây thương tích cho mình không, có ý nghĩ hay hành vi tự tử không, rồi gợi ý tôi có thể thay đổi hay làm thêm gì đó. Dĩ nhiên là nói chuyện thoải mái chứ không như hỏi cung, ví dụ hỏi tôi thích ăn gì, thích nấu nướng không, thích nhà hàng nào không… Khuyên bảo nếu có thì cũng nhẹ nhàng chứ không phải là phải làm cái này đi, phải làm cái kia đi.

Ban đầu tôi cũng không để ý đến các câu hỏi kiểu này, nhưng có một lần trước khi đi gặp therapist, tôi tự dưng nghĩ thể nào ông này cũng lại hỏi gần đây ăn gì, ngủ thế nào, có tập thể dục không. Lúc ấy tôi bắt đầu nghĩ ngợi là sẽ trả lời ổng như thế nào, và nhận ra rằng cứ những buổi gặp đều đặn như vậy thực ra giúp theo dõi và điều chỉnh nếp sống của mình rất tốt. Sau đó, tôi tự hình thành thói quen để ý tới nếp ăn nếp ngủ nếp sinh hoạt của mình thường xuyên, có gì bất thường một chút là tôi tìm cách điều chỉnh ngay. Sau này đọc thêm tôi mới biết đó thật ra là một cách hữu hiệu để giúp mình tránh từ trạng thái stress rơi vào trạng thái trầm cảm (coi thêm bài “sống chung với lũ” tôi đã dẫn link ở trên). Mà phòng bệnh thì tốt hơn chữa bệnh, một khi đã để mình sụt vào cái hố trầm cảm thì bò lên rất khó và mệt mỏi, thà rằng tập cách biết khi nào mình ngấp nghé miệng hố để ráng hết sức chuồn trước còn hơn :D.

Ngoài chuyện ăn ngủ nghỉ thể dục thể thao đó ra thì dĩ nhiên nói về những gì làm mình bức xúc, mệt mỏi, chán nản, bất lực, tuyệt vọng, vân vân. Nói chung therapist rất khéo, chẳng cố gắng ép tôi nói ra cái gì cả, cứ để tôi nói tự do tùy ý, rồi hỏi và trao đổi thêm về những điều ấy, không có kiểu cố gắng đi tìm nguyên nhân sâu xa là gì, còn vấn đề gì mà tôi đang giấu nữa không. Cũng chẳng bao giờ nói gì phức tạp hay giải thích lằng nhằng về các lý thuyết diễn giải của tâm lý học mà sau này thỉnh thoảng tôi lại đọc được ở đâu đó. Dĩ nhiên đằng sau những lời “nói chuyện, chia sẻ” tưởng như chuyện phiếm của therapist là một nền tảng học vấn và kinh nghiệm vững chắc.

Còn một vấn đề nữa cũng thỉnh thoảng được nói tới là về những việc đang tồn đọng mà tôi cần làm mà không làm nổi, cơ bản là vì chán nản nên cứ trốn tránh và trì hoãn mãi, và càng trì hoãn thì càng căng thẳng. Đại để là therapist hỏi cụ thể về hiện trạng tồn đọng, rồi gợi ý tôi chia nhỏ công việc ra để làm từng bước một. Sau thì cũng có những việc mình hoàn thành được, có những việc tôi bỏ chả làm nữa.

Nói chung tôi thấy điều trị bằng nói chuyện ấy giống mưa dầm thấm lâu, tôi và một vài bạn tôi biết thỉnh thoảng có cảm thấy sốt ruột và đôi khi là cảm thấy vô ích. Nhưng ngẫm lại tôi thấy nó hữu ích cho cả sau này, thời gian hậu trầm cảm, chứ không chỉ khi đang trong cơn (đợt) trầm cảm.

Đi nói chuyện được một thời gian, một lần therapist hỏi tôi có muốn tham gia điều trị theo nhóm (group therapy) không. Nghĩa là một nhóm những người trầm cảm gặp nhau chia sẻ, nói chuyện với sự hướng dẫn của một therapist. Nhưng tôi từ chối. Therapist cũng không nói gì thêm. Tôi cũng quên không hỏi nên không rõ là vì sao ổng lại gợi ý vậy, là do tình trạng mình xấu đi hay làm sao.

Đợt điều trị ấy kéo dài tầm nửa năm, rồi kết thúc là do tôi về nước. Trước khi tôi về, therapist có dặn là sau này có rảnh thì viết thư cho ổng biết sức khỏe của mình như nào. Thật ra sau đó thì cuộc sống của tôi cũng ổn định lại ngay, nhưng phải hơn một năm sau đó tôi mới viết thư cho therapist hay, để cho chắc là mình đã thật sự ổn chứ không phải chỉ là ổn tạm thời.

4. Nói chuyện với nhiều người

Song song với việc gặp therapist theo định kỳ thì tôi thường xuyên nói chuyện với bạn bè bằng đủ mọi hình thức: gặp mặt, điện thoại, video chat, chat chit, email. Nhiều khi cũng cảm thấy chán chính mình vì cảm giác có mỗi câu chuyện bế tắc mà cứ nhắc đi nhắc lại với bạn bè, mà nói xong thì bế tắc cơ bản vẫn hoàn bế tắc, chán nản vẫn hoàn chán nản. Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ đó là việc nên làm, và là có ích, dù ích lợi có thể khi ấy mình không nhìn thấy được, không cảm nhận được. Và biết đâu trong số bạn bè mình lại có những người có kinh nghiệm hay hiểu biết gì hữu ích cho mình.

Khi tôi nói chuyện với bạn bè về việc mình bị trầm cảm, một người bạn chia sẻ là bạn ấy cũng đang điều trị trầm cảm, mà còn bắt đầu trước tôi. Thế là sau đó chúng tôi hay gặp nhau nói chuyện về tiến trình trị liệu, cập nhật về những nỗ lực của người kia, ví dụ chuyện chạy bộ. Kể ra như thế đỡ hơn là phải cố gắng điều trị một mình.

Việc nói chuyện này dĩ nhiên còn tùy vào cá tính từng người. Tôi làm việc ấy một cách tự nhiên vì bản tính tôi vốn là người hướng ngoại, quảng giao, lúc nào và đi đâu cũng đông bạn lắm bè. Mà nói đến bạn bè nghĩa là những người tôi có thể nói chuyện thoải mái, không phải e dè gì, thật tình trong cuộc sống tôi rất ít các mối quan hệ xã giao.

5. Viết lách

Nói chuyện với bao người như vậy rồi mà ngày ấy tôi vẫn viết lách rất nhiều, nếu không cái đầu tôi nó nổ tung ra mất. (Cách này thích hợp với những người sống nội tâm hơn chăng?) Tôi nhớ có một lần nói chuyện với therapist, ổng nói tôi nghĩ nhiều quá nên đâm ra khó ngủ, nên phải cố gắng “slow your mind down”. Một lần tôi bảo therapist là khi ấy tôi viết nhật ký rất nhiều, ổng nói là như thế là rất tốt, nên có cách để cho những thứ trong đầu mình đi ra. Vậy nên tôi đoán là việc nói chuyện nhiều và viết lách nhiều của tôi ngày ấy là tốt.

Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có các cách khác nhau, không nhất thiết là nói và viết, mà, theo như tôi biết, có thể là vẽ, gấp giấy, viết nhạc, chơi nhạc, dịch, vân vân. Nhưng có lẽ là cứ phải có một hoạt động mang tính sáng tác, chế tạo ra một cái gì đó.

6. Đọc sách

Đầu óc rối ren như vậy nhưng ngày ấy tôi lại lao vào đọc sách, thật chẳng biết lợi hay hại. Chỉ biết là cảm thấy những thứ trong đầu mình diễn đạt ra đã khó, tìm câu trả lời cho những băn khoăn của mình còn khó hơn. Tại sao thế này, tại sao thế nọ. Không trả lời được thì tôi lại càng không yên, vì câu hỏi này lại chồng chất lên câu hỏi nọ. Bởi thế, ngày ấy đang bức bối vì vấn đề gì là tôi kiếm sách đọc, từ sách tâm lý học cho tới triết học cho tới sách tự-cứu (self-help). Tôi chỉ đơn giản là không thể gác chúng sang một bên “mà vui sống”, hay là quên chúng đi, tôi nhất định muốn hiểu tận gốc rễ của những vấn đề ngày ấy đang làm tôi phát khùng lên.

Dĩ nhiên là việc đọc sách ngày ấy có giúp tôi “hiểu tận gốc rễ” mọi thứ không thì tôi không biết, nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy nó cũng hữu ích, làm tôi suy nghĩ thông thoáng hơn, nhìn cuộc đời rộng rãi hơn, và biết đâu đã góp phần giúp tôi “slow my mind down”.

7. Tập thiền

Ngày ấy tôi chỉ tập thiền đâu có 1-2 tuần, theo hướng dẫn từ xa của một người bạn. Sau này tôi đọc được trong một cuốn sách là tập thiền để điều trị trầm cảm là tùy xem có hợp hay không – nó là một việc kén người, có người thích, có người không. Tôi chắc là không hợp với việc ấy. Ngày ấy tôi tập là vì có bệnh muốn vái tứ phương, và một người bạn của tôi giải thích rằng thiền tập là rất tốt cho cuộc sống hiện nay, nhất là với những người làm việc trí óc, vì hầu như cuộc sống xung quanh lúc nào cũng rối loạn, dễ gây ra nhiều điều ức chế.

Tóm lại, với trải nghiệm ít ỏi của tôi ngày ấy thì tôi thấy thiền có thể giúp mình thanh lọc đầu óc. Vì tập thiền là tập hướng tới trạng thái không nghĩ gì cả. Ngày ấy tôi tập theo hướng dẫn của bạn là nhìn vào một đồ vật, tập trung mọi ý nghĩ của mình vào vật đó và không nghĩ tới điều gì khác nữa. Bản chất là lấy vật đó để thu hút sự chú ý của trí não mình khỏi những suy nghĩ rối loạn của mình. Bởi thế nên nhiều người tập thiền bằng việc chú tâm vào nhịp thở của mình, bản chất chính là để tâm trí bận dõi theo hơi thở không thể nghĩ lung tung được.

Nói thì đơn giản vậy mà làm khó muốn chết luôn. Đầu óc ta hóa ra cứ luôn sao nhãng theo các ý nghĩ chứ không chịu không nghĩ gì cả. Nhưng có tập thiền mới biết trong đầu mình sao mà lắm ý nghĩ vậy. Cứ tập như vậy – cố gắng không nghĩ gì, rồi lại chạy theo các ý nghĩ, rồi lại cố gắng không nghĩ gì – giúp tôi tự dưng phát hiện ra là mình có rất nhiều suy nghĩ “rác”. Sau khi phát hiện ra vậy rồi thì việc vứt bỏ những “suy nghĩ rác” ấy đi nó trở thành tự nhiên, quả là đầu óc thanh thản hơn, thời gian ngồi yên không nghĩ bất cứ điều gì cứ thế tăng dần lên cùng với việc luyện tập.

Nhưng tôi cũng chỉ trải nghiệm tí tẹo vậy thôi, rồi bỏ tập, và từ đó tới giờ cũng chẳng muốn tập lại. Có thể đơn giản là thiền tập không hợp với tôi.

8. Chạy bộ

Chạy bộ có lẽ hợp với tôi hơn là thiền tập. Thật ra tôi là loại lười vận động. Ngày ấy dù được khuyên tập thể dục, chơi thể thao nhưng tôi lần lữa chán chê mãi mới thèm vác xác đi chạy. Nhưng rồi bắt đầu thì lại càng ham. Trong những việc tôi làm ngày ấy để thoát trầm cảm có lẽ chạy bộ là việc tôi thích nhất và cũng cảm nhận được tác động của nó rõ rệt nhất.

Giữa những ngày sống không bằng chết, chỉ khi đi chạy tôi mới bắt đầu khôi phục lại được cảm giác của mình về sự sống. Mỗi một bước chạy cho tôi cảm giác rõ rệt về cơ thể mình. Cảm giác rất rõ về trọng lượng cơ thể mình, cơ bắp, nhịp thở, lồng ngực, vân vân, cứ như thể tôi là một cái hồn ma lang thang lâu ngày giờ mới được đầu thai vào một cơ thể sống nào đó, mà cái hồn ma đã quên phéng mất việc có một cơ thể sống, một cuộc sống thật là như thế nào.

Ngày ấy, tôi chạy đều đặn nhiều tháng. Mỗi ngày lại cố gắng chạy nhiều hơn hôm qua một chút. Nhiều khi có cảm giác cả cuộc sống của mình khi ấy chỉ có mỗi cái việc chạy bộ một mình hàng sáng rồi về nhà ngồi bệt trên sàn uống một lon ginger ale là có ý nghĩa. (Thời gian còn lại trong ngày có khi lại rơi vào trạng thái trầm cảm.)

9. Buông bỏ những gì gây áp lực

Việc khiến tôi đôi khi lại cảm thấy lấn cấn ở trong lòng, cũng là việc cuối cùng mà tôi làm, chính là buông bỏ những gì gây áp lực và buồn khổ cho tôi nhiều nhất vào lúc ấy. Cũng có khi nhìn lại cảm thấy như mình là kẻ thất bại, yếu đuối, nhưng song song với đó cũng là ý nghĩ rất có thể trên thực tế đó đã là việc quan trọng nhất đã giúp tôi thoát ra khỏi tình trạng trầm cảm ngày ấy. Giống như con khỉ thò tay qua song sắt để nhận một nắm đồ ăn không thể rút tay lại được cho tới khi nó nhận ra rằng để rút tay lại việc duy nhất nó cần làm là buông tay bỏ hết những gì nó đang nắm giữ đi.

Dĩ nhiên, bỏ hay giữ là quyết định của mỗi người, vì chúng ta theo đuổi những giá trị khác nhau. Có người thà chết cũng không chịu thất bại, còn tôi thà thất bại còn hơn là chết :D. Quyết định nào cũng có cái giá của nó, tự lượng sức chịu đựng của mình mà chọn cái giá phải trả thôi.

Như đã nói ở đầu bài, bài viết này chỉ mang tính chất kể chuyện, mô tả lại một trải nghiệm, để ai quan tâm thì đọc cho biết. Tôi không biết mình đã làm đúng điều gì, làm sai điều gì, nhưng nói chung đúng hay sai với tôi cũng chẳng quan trọng. Sau cái mẩu đời mệt mỏi ấy, tôi học được một điều là không nên quá khắt khe với chính mình. Nói như một người bạn của tôi, “chúng ta không chỉ nên rộng lượng với cuộc đời mà còn nên rộng lượng với chính mình”.

Tình yêu của lửa

Tình yêu của lửa là thứ tình yêu không thể giấu được. Chẳng có gì gói được lửa đang cháy. Tình yêu của lửa là loại tình yêu khoe khoang, như ánh dương phủ tràn mặt đất.

Tình yêu của lửa là thứ tình yêu ấm áp, sống động. Không có tháng, ngày, giờ, phút, giây nào trôi qua mà lửa quên cháy. Tình yêu của lửa là phải vui. Tình yêu của lửa là phải lấp lánh. Tình yêu của lửa có thể lan tới bất cứ nơi đâu.

Tình yêu của lửa cũng có thể là thứ tình yêu khó chịu. Thiêu đốt người ta một cách gay gắt. Cháy rụi cả không gian. Yêu đương gì mà khiến người ta ngộp thở, muốn tránh xa để tìm không khí trong lành và những dòng nước mát.

Tình yêu của lửa cũng có những khi tắt ngấm, nếu bị bao vây bởi lạnh lẽo, giá băng. Cháy một lúc rồi đuối sức.

Tình yêu của lửa cũng có những khi tưởng đã tắt ngấm mà hóa ra vẫn âm ỉ trong than hồng. Chỉ chờ một luồng khí thổi vào, tình yêu ấy lại bùng lên. Cháy như chưa bao giờ được cháy.

Nhưng một xô nước hắt vào thì… 😀

Viết cho những ngày cuối cùng của tháng Lửa cuối cùng trong năm.

Viết ra tiền vs. viết không ra tiền

Vừa đọc một bài viết rất nhắng về việc yêu một cô làm nghề viết lách thì như nào, mình mang về đây chế ra phiên bản yêu một cô viết không ra tiền thì sẽ ra làm sao :D.

1. Cô viết ra tiền (RT): Luôn biết cách cho đi trước khi nhận lại. Cô ấy kiên nhẫn và không đòi hỏi những phần-thưởng-có-ngay. Đức tính này được rèn dũa từ những tháng ngày mòn mỏi chờ nhuận bút, nhưng vẫn liên tục bị hối bài.

Cô viết không ra tiền (KRT): Luôn cho đi mà chẳng cần nhận lại gì. Nhưng khi nào cho, cho bao nhiêu, cho thế nào thì rất tùy hứng. Người ta không thích nhận vẫn cứ hào phóng cho. Đức tính này được rèn giũa (ở trên viết sai chính tả ‘giũa’ thành ‘dũa’ nghen) từ những tháng ngày viết blog tùy hứng của cô ấy.

2. RT: Cô ấy sẵn sàng thức trắng đêm cho đam mê của mình. Và cô ấy thì có rất nhiều đam mê.

KRT: Cũng vậy à. Nhưng độ sẵn sàng của cô ấy còn tùy thuộc xem sáng mai cô ấy có phải dậy sớm để đi kiếm tiền hay không.

3. RT: Cô ấy không phải gái ngoan, cũng không phải gái hư. Cô ấy có thể đóng nhiều vai, tùy thuộc chủ đề hiện tại cô ấy đang theo đuổi là gì.

KRT: Cũng vậy nốt. Thậm chí thỉnh thoảng cô ấy còn quên mất mình là gái. Thỉnh thoảng nữa cô ấy còn quên mất mình là người. 😀

4. RT: Cô ấy có xu hướng nói ít và hiếm khi hét toáng lên, bởi cô ấy biết thế mạnh của mình là viết lách cơ! Nếu có cãi nhau, cô ấy sẽ viết tâm thư.

KRT: Vì có thể làm việc khác để kiếm sống nên ngoài viết lách ra cô ấy còn nhiều thế mạnh khác. Hét toáng lên chẳng hạn. Nếu có cãi nhau, bạn cứ liệu hồn! 😀

5. RT: Cô ấy đọc rất nhiều sách. Bạn luôn biết phải tặng gì cho cô ấy, dù có yêu nhau 50 năm đi nữa.

KRT: Cũng vậy luôn. Nhưng không phải là sách gì cô ấy cũng thích nhận, kể cả khi bạn đã bỏ công ra yêu cô ấy những 50 năm đi chăng nữa. 😀

6. RT: Cô ấy tôn trọng trải nghiệm, của cô ấy, của bạn và của mọi người. Nghe chuyện của bạn và người yêu cũ, cô ấy sẽ viết truyện ngắn tặng hai người.

KRT: Chuẩn rồi. Và cứ viết được 01 truyện ngắn tặng hai người có nghĩa là cô ấy đã viết được 10 truyện ngắn tặng cho những người yêu cũ của cô ấy nên đơn giản là cô ấy phải đổi nhân vật cho đỡ chán. 😀

7. RT: Cô ấy không chăm chăm đào bới đời tư của bạn. Tin tôi đi, một cô gái làm nghề viết lách có nhiều bí mật cần che dấu hơn bạn nhiều.

KRT: Tuy là không “chăm chăm” nhưng đào được đến đâu cô ấy sẽ đào tới đó, vì cô ấy rất cần chất liệu cho những cuốn tiểu thuyết viết mãi không xong của cô ấy. 😀 (‘Che giấu’ bị viết sai chính tả thành ‘che dấu’ nghen.)

8. RT: Cô ấy thích (viết) ngắn và nhanh.

KRT: Cô ấy thích (viết) lăng nhăng và chẳng bao giờ kết thúc cả. 😀

9. RT: Khi chia tay nhau, cô ấy sẽ không nói xấu bạn. Một thời gian sau, cô ấy sẽ ra sách hoặc thơ.

KRT: Khi chia tay nhau, cô ấy sẽ không nói xấu bạn. Một thời gian sau, cô ấy sẽ mở một blog mới. 😀

Cuối cùng,

RT: Chắc cũng còn nhiều lý do nữa. Mà cũng có thể không có lý do gì ráo. Chỉ là một ngày xấu trời, bạn trót yêu một nàng làm nghề bán chữ. Lúc đó bạn có thể nói với nàng, ở nhà đi anh nuôi, em chỉ cần đọc sách và làm thơ tặng anh là đủ. Nàng sẽ gật đầu cái rụp liền!

Hình mượn của Kênh14

Hình minh họa quá chuẩn của TWOEGGZ, Kênh14 dịch

KRT cũng rất thích điều này!

Kết luận: Nếu bạn yêu một cô thích viết lách thì dù cô ấy có kiếm ra tiền từ việc viết lách của mình hay không thì bạn hãy nhớ rằng cái mà cô ấy cần nhất vẫn là tiền! 😀

Nhật Bản vài điều vụn vặt

Cách đây mấy năm tôi sang Nhật chơi chừng một tuần. Không đi Tokyo mà chỉ đi mấy thành phố ở phía Nam như Kyoto, Osaka, Hiroshima, Beppu, Fukuoka (chẳng biết còn thành phố nào nữa không). Ấn tượng ngày ấy đi về là nhạt nhẽo. Như thể nước Nhật đã bị máy hóa, toàn cầu hóa, thành cái gì ấy chứ không phải Nhật nữa. Cơ sở hạ tầng nhìn chung không khác gì so với Mỹ cả. Đồ ăn ngày ấy ăn ở Nhật tôi cũng không thích. Thậm chí sushi cũng cảm thấy không khác gì sushi ăn ở Mỹ. Có cái lâu đài gì đi vào trong chẳng khác gì một cái bảo tàng theo kiểu phương Tây. Ngay cả nơi ở ngày xưa của Ieyasu Tokugawa là nơi tôi rất háo hức đi vào cũng rất thường, không có gì đặc biệt cả. Thế nhưng thực ra chuyến đi ngày ấy tôi vẫn nhớ nhiều chi tiết vụn vặt, giờ mang ra chuyện phiếm cho vui.

Tôi thích mấy cái nắp cống ở Nhật. Nắp cống ở Nhật được làm rất đẹp. Nghe nói là mỗi thành phố có một thiết kế nắp cống riêng, kiểu như một dạng đặc trưng của thành phố ấy. Lúc đi đường tôi thích nhìn mấy cái nắp cống đèm đẹp ấy.

Tôi thích thời trang đường phố của người Nhật, hay đúng ra là của phụ nữ Nhật. Mấy chỗ tôi đi thì không có gì như là harajuku nhưng tôi vẫn thấy đậm chất cá tính, không phải theo kiểu ngọt ngào của Hàn Quốc mà giờ Hà Nội Sài Gòn đang chạy theo.

Tôi có thích một cái bảo tàng, đó là bảo tàng của thành phố Fukuoka. Mặc dù hôm tôi vào thì cũng vắng, trông cũng buồn, nhưng tôi thấy thiết kế và trưng bày hợp lý. Đặc biệt có một khu trưng bày các đồ chơi, trò chơi dân gian của mấy nước châu Á. Ở đó có không gian cho người tham quan chơi thử và tương tác thoải mái với những gì trưng bày ở đó, một gia đình hay một nhóm đi sẽ rất vui.

Tôi thực ra rất thích bánh của Nhật. Dạng bánh làm bằng bột gạo, đủ kiểu rất ngon. Hình như tôi đi ăn bánh ở một khu ở Kyoto thì phải. (Đi qua mấy thành phố tôi không phân biệt được chúng mấy, mặc dù có nhớ là khi đến Kyoto thấy kiến trúc nhà cửa cũng khác khác.) Bánh thì tha hồ ăn thử rồi mua về làm quà. Những chiếc bánh ngon nhất trên đời mà tôi đã từng được nếm. Giờ ở Hà Nội trong siêu thị cũng có bán một ít, nhưng tôi lại lười mua.

Tôi thích lần đi ăn okonomiyaki ở Hiroshima. Một không gian rất nhỏ và ấm cúng. Chỉ một quầy bếp cùng bàn ghế bao xung quanh luôn. Okonomiyaki là kiểu đồ ăn bạn chọn nguyên liệu rồi người đầu bếp sẽ trộn-nướng ngay trên bếp trước mặt bạn. Tôi chỉ ăn và nghe mọi người nói chuyện vì không biết gì tiếng Nhật. Mọi người là có bác đầu bếp, em gái tôi, và một anh Tây – họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Nhật. Cái “quán” ấy là nằm trên tầng hai của một dạng multi-storey house, mỗi tầng chỉ vừa đủ một cái không gian “quán” bé xinh như thế. Không phải restaurant, cũng không phải đường phố. Nhưng là địa điểm hoàn hảo nhất để dine out mà tôi từng được biết. Đi ăn một mình hay nhiều mình đều ok.

Chắc là hết rồi, ấn tượng vài cái vụn vặt vậy thôi. Nhưng ấn tượng rất sâu sắc, cứ nhớ mãi.

Tản mạn về sách vở (3)

Tôi quen/biết nhiều người đọc sách rất kinh khủng khiếp nên không mấy khi dám tự nhận mình là người thích đọc sách. Tôi là người đọc sách chậm mà lại không phải người đọc sách kỹ. Thế nhưng tôi lại khá hay lảm nhảm về chuyện đọc sách làm cho tôi cảm thấy vui vẻ hạnh phúc như thế nào. Khi đọc lại những gì mình viết tôi thấy là tôi cứ nhắc đến sách ở mọi nơi mọi chốn. Đã vậy, thỉnh thoảng tôi phải lảm nhảm thành cả một bài cho bõ.

Cách đây mấy tháng, thiên hạ rộ lên trò book bucket challenge. Có bạn bảo đọc nhiều quá làm sao mà chọn ra 10 quyển thích nhất được. Thế là bạn ấy liệt kê ra 10 tác giả mà bạn ấy thích nhất. Mỗi tác giả này bạn ấy đã đọc hết hoặc gần hết các tác phẩm của họ. Đấy chính là một người mà tôi biết là đọc sách rất kinh khủng khiếp. May mà những người như vậy lại ít kể chuyện họ đọc sách như thế nào (ít nhất là không kể in public), chắc là vì họ bận đọc sách, chứ họ mà kể ra thì chắc tôi im luôn không dám viết lách lảm nhảm gì nữa.

Về phần tôi, nghĩ mãi mới ra được 5 quyển mà tôi cảm thấy có “ấn tượng đặc biệt sâu sắc và mạnh mẽ”. Cả 5 quyển ấy tôi đều đọc trước khi bước sang tuổi 26. Sau khi đi xem book list của thiên hạ và tán chuyện một vòng, tôi nhận ra là cũng có không ít người nhận thấy rằng những cuốn sách cho họ cảm xúc mạnh mẽ nhất khi đọc đều được đọc những ngày họ còn rất trẻ, tầm từ tuổi teen cho tới 25 tuổi. Tuổi trẻ thường nhiều băn khoăn, trăn trở, nhưng đi qua rồi người ta mới thấy nó đẹp như thế nào.

“Không thể nói rằng khi đó tôi hạnh phúc. Thế nhưng, ký ức về thời ấy lại làm tôi thấy ngập tràn tiếc nuối. Thời ấy tôi trẻ hơn, đói khát hơn, cô độc hơn hiện nay. Nhưng tôi thật sự là mình. Thời đó tận sâu trong tim tôi cảm nhận được từng nốt nhạc mà tôi nghe, từng dòng chữ trong sách mà tôi đọc, như thể là chúng đi thật sâu vào trong tôi.”

(Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời ~ Murakami)

Đây là lần thứ n tôi chép lại mấy câu này, bởi chưa tìm được gì để thay thế, cũng không còn từ ngữ nào để diễn tả cho tốt hơn điều trong lòng mình mà Murakami đã nói hộ.

Trở lại chuyện đọc sách. Dĩ nhiên không phải là từ sau 25 tuổi tôi đọc ít đi. Ngược lại tôi còn đọc nhiều hơn. Đặc biệt là trong hơn hai năm theo đuổi chuyên ngành xã hội học, tôi đắm chìm trong sách vở như một kẻ nghiện ngập. Tuần nào cũng đọc hàng tá paper và book chapters, rồi lại tha lôi thêm từ thư viện về đọc. Đến mức mà khi đọc sách mệt quá, tôi đứng dậy thư giãn bằng cách đi nhìn ngó các giá sách cao ngất đến trần trong thư viện, xem họ chia ra những chủ đề gì, có những sách gì. Thường thì kết quả của một chuyến thư giãn như thế lại là vài ba quyển sách nữa.

Dĩ nhiên, tôi không đọc được hết những cuốn sách mà tôi mượn về, vì riêng bài vở trên lớp cũng đã rất nhiều, chỉ có tranh thủ đọc mỗi cuốn một vài chương. Nhiều khi cũng phải đánh đổi giữa những gì được yêu cầu đọc và những gì mình muốn đọc thêm. Của đáng tội, thư viện trường tôi ngày ấy không giới hạn số sách mượn tối đa cho một lần mượn. Nghĩa là sức mày bê được bao nhiêu đọc được bao nhiêu thì bê về mà đọc. Hồi đầu tôi cứ khệ nệ bê một chồng sách mượn thư viện về, cũng thấy chút xấu hổ khi thấy chẳng ai như mình. Cảm thấy mình như một kẻ chết đói sách giữa một bữa tiệc của những người no đủ, không biết nên lấy cuốn nào bỏ cuốn nào nên cứ ôm tất về rồi đọc thử. Cho tới một lần nhìn thấy một bạn khác cũng bê một chồng sách y như tôi, tôi mới yên tâm thở phào và từ đó không còn lăn tăn gì về sự chết đói của mình nữa.

Trước khi tôi về nước, một bạn hỏi, trừ bạn bè ra không tính thì cậu sẽ nhớ gì nhất về nước Mỹ. Tôi chẳng cần phải nghĩ đến giây thứ hai, tôi bảo đó là sách và thư viện. Tôi trở về ngoài hai valy đồ còn một túi sách to cùng ba thùng sách chuyển qua đường bưu điện, có khi đến 40 tuổi đọc cũng chưa hết chỗ ấy.

Cũng vì cái ký ức tươi đẹp ấy mà mấy năm liền tôi vẫn thỉnh thoảng mơ cái giấc mơ trở thành một học giả (giờ đã từ bỏ). Giữa những ngày xa xưa ấy có một lần ba đứa con gái ngồi chuyện phiếm với nhau là nếu không học tiến sĩ thì làm gì nhỉ. Con bé người Ý bảo là chắc tao về nhà bán rau thôi cho vui vẻ. Nghĩ một tẹo, nó lại bảo, bán rau và đọc paper. Thế là cả bọn gật gù, đúng rồi, bán rau và đọc paper là nhất. Chớp mắt một cái, con bé người Ý lại là đứa duy nhất hoàn thành chương trình tiến sĩ, giờ đã về Ý. Một con bé khác không may phải ngừng chương trình tiến sĩ giữa chừng, giờ lấy một anh chồng người Mỹ và bắt đầu một cuộc sống mới. Còn tôi có vẻ như sẽ là đứa đến được gần nhất với cái giấc mơ “bán rau và đọc paper” của cả bọn ngày nào. 🙂

Lao PDR

Entry for 24 November 2006

Nếu Việt Nam là một cô gái duyên dáng, nhanh nhẹn (tuy có phần lanh chanh) thì Lào có thể ví như một chàng trai hiền lành và ít nói. Ngồi trên ô tô hai ngày đường để đi từ Hà Tĩnh đến Luang Prabang, tôi cảm thấy mình thật may mắn vì được nhìn thấy đất nước nhỏ bé này một cách gần gũi nhất. Với một tiếng đi máy bay từ Hà Nội đến Luang thì tôi sẽ chằng được trải qua những đoạn đường đèo quanh co và những lần nghỉ chân thú vị như thế.

Sang Lào 

Chiếc coaster già lăn trên con đường quốc lộ số 8 chạy qua huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đưa chúng tôi đến với nước bạn Lào qua cửa khẩu Cầu Treo. Cầu Treo là tên cửa khẩu bên Việt Nam, còn sang bên kia biên giới, cửa khẩu nước bạn có tên là Namphao. Kiến trúc Namphao mang một nét rất đặc trưng của phong cách Lào-Thái với những chóp mái màu vàng cầu kỳ đậm chất Phật giáo. Sau khi làm xong thủ tục, đoàn chúng tôi hô nhau ra chụp ảnh kỷ niệm Tôi rú lên “Lào!” và giơ một tay lên trời cứ như thể mình vừa tìm ra một châu lục mới vậy. Thế rồi xốc ba lô lên, chạy long cong lên xe với một niềm háo hức khám phá đất nước tuy gần mà đầy mới mẻ này, quên luôn khuôn mặt nhăn nhó của ông cán bộ cửa khẩu cứ càu nhàu vì sao tôi lại điền sai vào tờ khai cơ chứ.( Được cái là mặt ông ta cũng giãn ra một tí khi tôi giở giọng nịnh nọt “Khap chay lai lai!” – tiếng Lào nghĩa là “cảm ơn rất nhiều” – khi cuối cùng thì cũng xong được công đoạn giấy tờ.)

Chúng tôi đi qua tỉnh Bolikhamxay để đến thủ đô Viên Chăn vào lúc chiều muộn. Nghỉ tại Viên Chăn một đêm, sáng hôm sau chúng tôi lại tiếp tục lên đường đi suốt một ngày trời để đến Luang Prabang theo những đoạn đường đèo quanh co nổi tiếng. Mắt tôi cứ dán vào cửa kính, không khỏi xuýt xoa khi được nhìn những ngôi nhà Lào nhỏ nhắn xinh xinh hay khi được chiêm ngưỡng núi rừng hùng vĩ. Ở Việt Nam tôi cũng chưa được đi nhiều, thành thử khi nhìn núi non của Lào tôi thấy ngợp lắm. Tôi chưa từng thấy núi cao và rừng già như thế – không chỉ là ngước mắt lên nhìn mà phải ngửa cả cổ lên vì những dãy núi cao chót vót. Con đường đi qua Bolikhamxay đến Viên Chăn phải đi qua rất nhiều núi rừng như thế. Nhiều lúc cảm giác như con đường là một khe nước nhỏ chảy âm thầm, lặng lẽ qua những kẽ núi, hàng cây. Rồi lại đến những đoạn đường với những cánh đồng ruộng trải dài như đến vô tận. Khác với Việt Nam, ta rất dễ bắt gặp những cây cổ thụ to nằm xen giữa những cánh đồng lúa này, như những chiếu nghỉ tự nhiên cho những bác nông dân đi làm đồng. Miền quê Lào trông thật thanh bình. Không rõ đằng sau sự thanh bình ấy liệu có những dòng chảy gì đang theo thời gian từng bước đổi thay đất nước và con người nơi đây?

Đẹp!

Tôi đặc biệt thích những ngôi nhà Lào mà mình bắt gặp trên đường đi. Một số là nhà sàn giống một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, còn chủ yếu là nhà hai tầng, vừa đẹp, nho nhỏ và xinh xinh. Thường tầng một được xây bằng gạch, có thể để màu gạch đỏ, cũng có thể trát màu trắng xám hoặc màu tro nhạt. Tầng hai thì được làm bằng gỗ. Cái hay là những tấm gỗ được ghép ngang thay vì ghép dọc như những ngôi nhà tôi đã thấy ở Việt Nam, mà lại được ghép rất cẩn thận, rất đều, rất đẹp. Màu gỗ từ nâu đỏ cho đến nâu đen, tạo ra một cảm giác ấm cúng của gia đình, mà không hề bức bối kể cả trong cái nắng gay gắt. Những ngôi nhà ấy chỉ có màu gỗ làm màu chủ đạo, nên rất trang nhã. Nhìn toàn cảnh, hàng loạt những ngôi nhà cùng kiểu dáng, cùng một gam màu trầm nóng, tương tự về kích cỡ, lại đặt trong một màu xanh thiên nhiên khiến cho cảnh quan chung rất ưa nhìn. Mỗi căn nhà lại được trang điểm bằng những khóm hoa màu sắc rực rỡ, chủ yếu là vàng và đỏ, được trồng thành từng bụi nhỏ hoặc trong những chậu cây xinh xinh. Sau này vào thành phố Viên Chăn, tôi cũng thấy họ đặt những chậu hoa như thế trước cửa nhà. Giá tôi có thể chụp hẳn một series ảnh về những ngôi nhà gỗ nhỏ với những chậu hoa như thế để mãi lưu giữ được những cảm xúc vui vẻ, hạnh phúc mà mình đã cảm thấy khi được nhìn một đất nước Lào như thế!

Tôi cũng yêu những khóm lau phơ phất hai bên đường, những bông cúc rừng vàng rực cả một góc trời, những sườn núi mịn như nhung thoai thoải trải xuống trên những đoạn đường đèo quanh co khúc khuỷu từ thủ đô Viên Chăn đến cố đô Luang Prabang, nhất là đoạn đường khi sắp đến huyện Ka Si, nơi mà chúng tôi nghỉ ăn trưa. Chao ôi! Bạt ngàn là hoa cúc vàng. Những bông cúc rừng mọc tự nhiên màu vàng đậm như những bông hướng dương mini đua nhau khoe sắc dưới ánh sáng mặt trời rực rỡ. Chỉ muốn dừng xe lại mà ngắm cho thật đã mắt, chụp ảnh cho thật đã tay. Tôi ngây ngất trước những dải cúc vàng mọc sát vệ đường. Đi thêm chút nữa, còn được nhìn thấy cả thảm cúc màu vàng phía xa xa mọc trên triền đồi, chỉ lấm tấm như chút phấn hoa ai đó rải lên cỏ.

Lào thật đẹp! Nếu có đủ sức khỏe, tôi cũng muốn được thử sức mình chinh phục cả quãng đường ấy bằng xe đạp. Trên đường đi, chúng tôi bắt gặp hai anh chị Tây cùng nhau đạp xe đi theo chiều ngược lại, trông như dân đua xe đạp chuyên nghiệp. Một ví dụ cho những gì chị Vera kể, là dân Tây hay đi du lịch bằng xe đạp trên đoạn đường này lắm.

 Con người

Ấn tượng nhất đối với tôi về người Lào là những em học sinh áo trắng mang khăn quàng đỏ, con trai thì mặc quần đồng phục thẫm màu, con gái mặc chiếc váy Lào duyên dáng cùng màu với đường thêu trang trí đơn giản ở chân váy. Tôi thích hình ảnh những nữ sinh Lào cầm ô đi bộ hoặc đạp xe chầm chậm. Mặc dù trời nắng gắt nhưng trên những khuôn mặt ấy vẫn nở những nụ cười tươi mà tôi chắc rằng ai bắt gặp cũng sẽ cảm thấy cuộc đời này thật là tuyệt!

Trưa ngày đầu tiên, đoàn chúng tôi dừng xe ở một quán ăn ven đường gần cầu Nam Theun. Trong khi chờ quán làm thức ăn, tôi tản bộ đi ngược lại con đường về phía cầu. Đúng lúc ấy có một trường vừa tan học. Từng tốp từng tốp học sinh tiểu học đang nhanh nhẹn rảo bước về nhà. Tôi nhìn những gương mặt sáng sủa ấy mà thấy vui vui. Tôi vẫy tay chào các em. Chúng đều nở một nụ cười tươi và vẫy tay chào lại, rất thân thiện. Khi đến trước tấm biển ghi tên cây cầu, tôi cố gắng đọc rồi đưa mắt cầu cứu một cậu học trò đang nhìn tôi tò mò. “Nạm Thơn” – tôi nhắc lại theo cậu bé trước khi được “thầy giáo” gật gù “Ô-kê!”

Người Lào nhìn chung rất thân thiện. Từ những người bán hàng ăn tại quán ăn mà chúng tôi ăn bữa trưa đầu tiên, cho đến những người dân bản mà sau này chúng tôi đến và nghỉ lại nhà. Vốn tiếng Lào của tôi chỉ vỏn vẹn được 2 câu “Sabaidi” – tức là “xin chào” (khi nói phải chắp hai tay đưa lên chào như một tín đồ Phật giáo), và “Khap chay lai lai” – tức là “cảm ơn rất nhiều”. Sau này mới hóa ra là tiếng Lào và tiếng Thái rất gần nhau, người Lào và người Thái hoàn toàn có thể nói chuyện được với nhau, thế nên tôi có thể bi bô được một chút nữa và lõm bõm hiểu được vài từ. Được cái, nhiều người Lào cũng biết chút ít tiếng Việt. Nhưng nhìn chung thì tôi rơi vào tình trạng “ra nước ngoài mà không biết tiếng”, chỉ biết cười và chủ yếu nói đi nói lại “xin chào” với “cảm ơn”! Ngoài ra thì tôi chỉ biết dùng máy ảnh để “giao tiếp” với mọi người. Mặc dù tôi đã được chia sẻ kinh nghiệm là cần cẩn thận khi sử dụng những đồ dùng như điện thoại, headphone, … khi tiếp xúc với bà con nông dân, nhưng tôi đã dùng chiếc máy ảnh của mình để làm quen và lại gần những người lạ mà tôi gặp. Ai ai cũng hân hoan khi được nhìn thấy ảnh của mình, vì thế động tác chụp ảnh và cho họ xem ảnh là cách tôi nói xin chào. Kể cả khi có bất đồng ngôn ngữ hay không thì bức ảnh cũng trở thành một sợi dây vô hình nối người chụp ảnh và người được chụp lại với nhau mà khi đó con người ta không cần phải nói gì nhiều.

Nhưng người Lào không biết bán hàng. Các cửa hàng thổ cẩm thì mời chào rơi rụng, nói thách nhưng lại cực kỳ dễ trả giá. Cũng như nhiều nơi ở Việt Nam, nhiều khi đưa giá xong họ hỏi luôn là mình trả bao nhiêu (!) Nhưng khá hơn Việt Nam (hay đúng hơn là Hà Nội) là họ không bao giờ quên nói cảm ơn sau khi khách mua hàng. Một lần tôi đi mua hàng ở chợ đêm thổ cẩm ở Luang Prabang, tôi thấy người bán sau khi bán được một món đồ nào đó vừa cảm ơn khách, vừa cười và cầm số tiền mà khách vừa trả vẩy vẩy lên sạp hàng của họ để lấy may. Giật mình mà nhớ lại cái trò “đốt vía” ở Hà Nội. Ở chợ đêm thổ cẩm sướng một cái là có thể nói tiếng Anh, vì rất nhiều sạp hàng người bán là những em bé gái chỉ chừng 12-13 tuổi, phát âm tiếng Anh rất tốt. Tuy nhiên, tiếc là không ai dạy cho những cô bé ấy cách bán hàng. Họ quá khẩn khoản khi mời khách mua hàng “Please buy to help us” hoặc “7 dollars luckyyyyy” …

Ẩm thực Lào

Ăn ở Lào sướng nhất là được ăn bốc! Thật đấy! Thực ra thì đó gọi là ăn-bằng-tay-không, chứ ăn bốc thì hơi thiếu lịch sự trong tiếng Việt. Nghe nói là người Ấn Độ cũng ăn cơm bằng tay không, tôi vẫn lăm le làm quen với một người Ấn để học cách ăn này. Ai dè, tôi đã được học sớm hơn mong đợi, và được học ở Lào.

Người Lào hay ăn xôi, và họ hay ăn bằng tay không. Một bữa ăn thường có xôi trắng đựng trong những chiếc hộp hình trụ bằng mây xinh xắn, một vài món rau luộc hoặc xào hoặc cả hai, hai món thịt và một món canh. Ngoài ra có thể có một hai món trộn và rau sống ăn kèm. Khi ăn xôi, người ta dùng tay vắt thành nắm nhỏ rồi chấm với một món nước chấm sền sệt đỏ màu ớt rất cay và hơi có vị chua chua, kèm theo xả và một vài ba loại hành gia vị gì đó rất thơm. Ăn xôi cũng ăn với món trộn hoặc thịt, vì thế vắt xôi phải nhỏ để có thể dùng tay lấy thức ăn để ăn cùng. Nghe thì tưởng khó nhưng tôi chỉ cần nhìn người Lào dùng 4 ngón tay lấy thức ăn ăn cùng với vắt xôi nhỏ là tôi học được theo ngay. Tự dưng thấy ngón tay mình lấy thức ăn cũng khéo léo. Có lẽ là vì tôi vốn sẵn thích học, chứ nhiều người Việt khác vẫn chọn cách dùng đũa và thìa theo thói quen. Ăn rau cũng có thể dùng tay, nhưng cũng như khi lấy thức ăn, phải biết cuộn cho gọn và cho vừa ăn.

Đồ ăn của Lào cũng ngon! Hoặc là tôi toàn được ăn những món ngon!!! Nói chung thì tôi cũng dễ ăn, và cái gì cũng phải thử một tí. Bữa tối đầu tiên ở Viên Chăn tôi được thưởng thức món “lạp bò” cuộn với rau sống và chấm món ớt cay sệt sệt (đã mô tả ở trên). Lạp bò thì đắng, món chấm thì cay xé lưỡi và có vị chua chua, thế mà ăn ngon gần chết! Tối hôm đó tôi chủ yếu ăn cái món đó, uống nước liên tục vì cay không chịu được, thỉnh thoảng phải bổ sung cà rốt cho đỡ cay. Giờ nghĩ lại lại thấy thèm :P.

 Đoạn kết

Lào còn nhiều điều thú vị mà tôi chưa viết được hết ra. Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ đây là đất nước đầu tiên ngoài Việt Nam mà mình đặt chân đến. Một đất nước nhỏ bé, ít tên tuổi, đang hờ hững giữa sự tranh thủ của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc. Để hiểu được Lào thì còn cần nhiều thời gian hơn một chuyến đi, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn hài lòng vì được tiếp xúc với một nền văn hóa tuy gần gũi mà khác lạ. Mừng cho người Lào vẫn giữ được nhiều nét truyền thống mặc dù tôi biết rằng dưới sự bình lặng ấy là những thay đổi, những chuyển dịch không thể tránh khỏi theo thời đại.