Tôi nhìn mưa

Một lúc nào đó giữa chừng câu chuyện, tôi đã nhìn rõ mưa. Nghĩa là khi ấy mưa xuống mau hơn, như tạo thành một lớp màn mỏng hẳn hoi, chứ không phải chỉ lắc rắc vài hạt như trước đó. Mưa như thế là đủ để người ta phải đứng dậy kiếm một chỗ nào khác có mái che, nhưng tôi cứ ngây người ra nhìn chăm chăm vào màn mưa mỏng ấy, như thể chưa bao giờ được nhìn thấy một thứ gì như thế. Vả lại, tôi đang mặc chiếc áo khoác làm bằng vải không thấm nước nên cũng không cảm thấy khó chịu. Tôi nhìn sang người đang nói chuyện với mình. Anh ta đang mặc một chiếc áo khoác mỏng màu ghi sáng. Chiếc áo ấy làm bằng một thứ vải sẽ ướt nước mưa, nhưng anh ta cũng không có vẻ gì là muốn đứng dậy rời đi chỗ khác. Lúc ấy anh ta vẫn tiếp tục nói hay cả hai chúng tôi cùng bất chợt im lặng, tôi cũng không còn nhớ, bởi giờ đây trong ký ức của tôi chỉ có mỗi tôi đang ngồi ngắm cái màn mưa ấy.

***

Tôi ngồi trong góc một quán ăn nhỏ ở cuối phố, đọc sách, và đợi anh. Như thường lệ, anh tới muộn so với giờ hẹn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy phiền lòng vì chuyện ấy. Mấy đứa bạn gái của tôi mà biết được, thể nào chúng nó cũng sẽ rất không hài lòng chuyện tôi không hề thấy phiền lòng khi chưa một lần nào anh tới đúng giờ trong các cuộc hẹn với tôi. Anh không bao giờ kiếm cớ biện bạch, dù luôn nói xin lỗi vì đã đến muộn. Tôi cũng chẳng bao giờ căn vặn, chẳng bao giờ trách cứ nửa lời. Tôi thậm chí còn chẳng nhắn tin hay gọi điện nói rằng tôi đã tới. Tôi vẫn luôn đến đúng giờ, mang theo một quyển sách để đọc trong lúc ngồi chờ. Không bao giờ thấy sốt ruột. Không bao giờ thấy lo lắng. Như thể việc anh chắc chắn sẽ tới và chắc chắn sẽ tới muộn là những điều hiển nhiên nhất trên đời.

Anh tới, muộn, và xin lỗi vì đã tới muộn. Trời mưa nhưng anh không nghĩ là có thể ướt áo nhiều đến thế. Tóc anh ướt. Bàn tay anh lạnh. Mấy món chúng tôi định gọi thì đã hết, nhưng mấy món mà cuối cùng chúng tôi chọn cũng không tồi. Anh bảo quán ăn này thường quá, lần sau anh sẽ chọn một quán khác. Anh hỏi lần trước chúng mình gặp nhau là khi nào nhỉ, là tuần trước à, sao cứ như vừa mới hôm qua, thời gian trôi đi như một cái chớp mắt.

Thời gian trôi đi như một cái chớp mắt.

***

Tôi quyết định sẽ ăn tối ở ngoài những ngày làm việc trong tuần. Nghĩa là năm ngày một tuần. Không phải là tôi ngại nấu nướng, nhưng tôi muốn giảm bớt thời gian một mình đối diện với bốn bức tường mỗi tối. Tôi đã ở thành phố này được sáu tháng, công việc mới đã quen, nhưng chẳng có bạn bè hay họ hàng thân thích. Tôi cũng chủ động sống thu mình lại, không tham gia hội nhóm nào, cũng từ chối hầu hết các buổi tụ tập mà một số đồng nghiệp đã có nhã ý rủ rê. Tôi cũng chẳng thiết đi xem phim hay tới các buổi triển lãm. Hàng ngày đi làm về tôi chỉ quanh quẩn ở nhà, đọc sách, chăm mấy chậu cây. Thỉnh thoảng vào cuối tuần tôi xỏ giày đi bộ một mình dọc theo con sông vắt ngang thành phố.

Tôi quyết định sẽ ăn tối ở ngoài cũng bởi tôi đã phát hiện ra một quán ăn trên đường đi làm về mà tôi rất ưng ý. Đồ ăn ngon. Chủ quán và nhân viên thân thiện nhưng không quá tọc mạch. Không quá đông cũng không quá vắng. Không quá rộng cũng không quá hẹp. Đi làm về tôi rẽ thẳng vào đó, kiếm một chỗ sát cửa sổ ở trên tầng hai, nhâm nhi một cốc trà trong khi lướt web trên điện thoại, rồi mới gọi cho mình bữa tối.

Tôi không đợi ai ở đó.

***

Thời gian vẫn trôi đi như một cái chớp mắt. Tôi vẫn ở thành phố đó, vẫn làm công việc đó, và vẫn ngày ngày ăn tối một mình ở cái quán ăn đó. Tính ra đã gần sáu năm. Số bạn bè bằng đúng nửa con số ấy. Duy nhất một cuộc hẹn hò. Chính là cái cuộc hẹn mà tôi đã ngây người ra ngắm nhìn màn mưa bất chợt buông xuống. Sau buổi hẹn đó, tôi không gặp lại chàng trai mặc áo màu ghi sáng ấy nữa nhưng tôi lại nhớ rất rõ cái màn mưa màu xám đã phủ xuống những gì trước mắt tôi khi ấy.

Màn mưa ấy đã giúp tôi thoát khỏi thực tại trong chốc lát hay chính cái chốc lát ấy mới là thực tại của cuộc sống mà tôi sống, tôi cũng không biết nữa. Nhưng kể từ ngày đó, tôi rất hay nhìn mưa. Tôi nhìn mưa từ cửa sổ nhà mình, từ cửa sổ văn phòng, từ cửa sổ xe buýt, từ cửa sổ của cái quán ăn quen thuộc. Tôi nhìn mưa buổi sáng, mưa buổi trưa, mưa buổi chiều, và cả mưa khi đêm tối. Tôi nhìn mưa mùa xuân, mưa mùa hè, mưa mùa thu, và mưa mùa đông. Tôi nhìn mưa bóng mây, mưa dầm dề, và mưa với những cơn gió lốc.

Thoảng cũng có lúc tôi nghĩ giá như mình có thể ngồi trong mưa mà đợi ai đó, nhưng phần lớn thời gian tôi chẳng nghĩ gì những khi tôi nhìn mưa.

Truyện ngắn © 2016 Nguyễn Hồng Anh

Advertisements

Khi trầm cảm tôi đã làm gì?

Năm ngoái, tôi loay hoay viết ra vài điều chia sẻ với những người trầm cảm (ở đây). Cũng muốn, và trên thực tế là đã, viết ra vài lời khuyên, nhưng rồi càng viết, càng đọc thêm thì lại càng thấy sự phức tạp của bệnh, các phương pháp điều trị, cũng như trải nghiệm của mọi người (cả người trầm cảm lẫn các nhà tâm lý trị liệu), rốt cục là cảm thấy mình không nên viết thêm các lời khuyên. Thay vào đó, có thể thỉnh thoảng dịch hoặc chia sẻ thêm những bài viết mà tôi cảm thấy là có thể hữu ích cho những người trầm cảm.

Tuy thế, tôi vẫn muốn tổng kết lại ở đây những gì tôi đã làm khi bị trầm cảm lần đầu cách đây mấy năm, như là mô tả lại một trải nghiệm cá nhân. Khi ấy tôi như kiểu có bệnh thì vái tứ phương, thử đủ mọi cách. Chẳng ai biết được là ngày ấy những gì tôi đã làm có gì đúng, có gì sai, và đã góp phần giúp tôi vượt qua được đợt trầm cảm ấy (kéo dài khoảng 8 tháng) ở mức độ nào, nếu như là những việc làm ấy là hữu ích. Bởi vậy, bài viết này chỉ là để những người quan tâm tới bệnh trầm cảm đọc cho biết thôi.

Vì những gì tôi sắp liệt kê ra đây là khá nhiều, tôi hy vọng những người trầm cảm đang đọc bài này không vì thế mà cảm thấy áp lực hay trầm uất thêm trong nỗ lực thoát khỏi trầm cảm của mình, còn những người có người thân, bạn bè bị trầm cảm cũng đừng vì bài viết này mà thúc ép người thân, bạn bè mình thử quá nhiều cách khác nhau. Tôi đã từng viết trên blog này rồi, con đường thoát khỏi trầm cảm của mỗi người là rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Phải bình tĩnh, phải kiên trì.

Dưới đây là những gì tôi đã làm, hầu như là làm cùng một lúc, đan xen, không rõ ràng việc gì trước việc gì sau:

  1. Tìm hiểu về bệnh

Tôi chẳng nhớ là ngày ấy vì sao và từ bao giờ tôi bắt đầu nghĩ là mình bị trầm cảm nữa, nhưng chắc chắn là tôi đã bắt đầu tìm hiểu về bệnh này từ trước khi đi khám (và chính thức được chẩn đoán là bị trầm cảm nhẹ), và vẫn liên tục đọc thêm sau đó. Ngày ấy tôi đã đọc rất nhiều trang web tiếng Anh viết về bệnh này – có thông tin trùng lặp, có thông tin khác nhau, tôi cũng chẳng nhớ nữa, nhưng tôi cứ đọc, đọc, đọc, chẳng biết là có ích gì không, nhưng dần dần tôi cảm thấy hiểu về bệnh của mình rõ hơn, ít nhất cũng nắm được gì cơ bản nhất, ít nhiều cũng bớt bối rối hơn.

(Tìm đọc thông tin về bệnh quan trọng là đọc những nguồn đáng tin cậy. Nếu bạn đọc được tiếng Anh thì rất dễ dàng tìm tới những nguồn đáng tin cậy từ các chuyên gia, hiệp hội chuyên ngành. Các nguồn tiếng Việt hiện ra trên google chủ yếu là báo chí và các nguồn không chuyên khác. Nếu bạn không ngại sách chuyên ngành (quả thực không quá khó đọc đâu), thì ở đây có bản dịch tiếng Việt của mấy chương một cuốn sách chuyên ngành.)

2. Đi khám

Ngày ấy tôi khám ở trung tâm y tế trong trường mà tôi đang học, rất tiện và cũng đáng tin cậy. Theo các tài liệu chuyên môn thì trầm uất kéo dài liên tục hai tuần là được coi là trầm cảm rồi, nhưng có lẽ hầu như ai cũng đi khám chậm hơn, thường là khi tình trạng ấy kéo dài ít nhất vài tháng. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tầm sau 2 tháng cảm thấy liên tục bị trầm uất, ngày càng không kiểm soát được tâm trạng của mình là tôi đã đi khám, so với nhiều người khác vẫn còn là sớm. Tất nhiên con số này chỉ là tương đối, vì gần như không bao giờ xác định được rõ ràng một cơn (đợt) trầm cảm chính xác là bắt đầu từ khi nào.

Tôi cho là bệnh nào cũng vậy thôi, đi khám và can thiệp điều trị càng sớm càng tốt, nếu có thể. Tuy thế, việc đi khám đối với người trầm cảm sẽ trở nên khó khăn hơn khi bệnh này trở lại, chứ không phải là khi nó tới lần đầu tiên. Nếu không muốn đi khám lại thì chắc chỉ có cách học cách sống chung với lũ.

3. Điều trị bằng nói chuyện (Talk therapy)

Sau khi đi khám và có chẩn đoán chính thức của bác sĩ, tôi được cho biết là tôi có thể điều trị hoặc bằng thuốc hoặc bằng nói chuyện với chuyên viên tâm lý hoặc kết hợp cả hai, và tôi cũng được hỏi là mình muốn lựa chọn điều trị như thế nào. Tôi đã chọn điều trị bằng nói chuyện trước và xem kết quả thế nào rồi sẽ quyết định là có dùng thuốc hay không. Sau đó tôi chỉ điều trị bằng nói chuyện mà không dùng thuốc.

Người điều trị cho tôi là một tiến sĩ tâm lý học có nhiều năm kinh nghiệm, là nam giới, và là người gốc Á. Trước khi giới thiệu tôi tới điều trị với vị therapist này, nhân viên y tế có hỏi tôi là tôi muốn làm việc với therapist nam hay nữ, và tôi đã trả lời là tôi không quá quan trọng chuyện ấy. Sau này thì tôi được biết là họ thường ghép cho người trầm cảm làm việc với những therapist có những tương đồng nhất định, nếu không phải là đồng giới thì cũng gần gũi về dân tộc (ethnicity), đại loại thế.

Lịch gặp therapist ban đầu được đặt là hai tuần một lần, sau thì giãn ra. Dù không được báo trước là mỗi buổi nói chuyện sẽ dài bao lâu, nhưng tôi để ý thấy lần nào cũng chừng 45’. Tôi cảm thấy thoải mái với thời lượng ấy, thường một buổi nói chuyện đến chừng ấy là đã cảm thấy đủ. Dĩ nhiên therapist thì luôn khéo léo kết thúc buổi gặp khi gần hết giờ, nhắc lại vài điểm quan trọng đã nói hay những gì sắp tới tôi nên thử làm hoặc tiếp tục làm, rồi đặt lịch cho lần gặp sau.

Gặp therapist nói chuyện gì? Bao giờ therapist cũng hỏi cụ thể tôi ăn ngủ thế nào, có tập thể dục không, các sinh hoạt bình thường ra làm sao, có tự gây thương tích cho mình không, có ý nghĩ hay hành vi tự tử không, rồi gợi ý tôi có thể thay đổi hay làm thêm gì đó. Dĩ nhiên là nói chuyện thoải mái chứ không như hỏi cung, ví dụ hỏi tôi thích ăn gì, thích nấu nướng không, thích nhà hàng nào không… Khuyên bảo nếu có thì cũng nhẹ nhàng chứ không phải là phải làm cái này đi, phải làm cái kia đi.

Ban đầu tôi cũng không để ý đến các câu hỏi kiểu này, nhưng có một lần trước khi đi gặp therapist, tôi tự dưng nghĩ thể nào ông này cũng lại hỏi gần đây ăn gì, ngủ thế nào, có tập thể dục không. Lúc ấy tôi bắt đầu nghĩ ngợi là sẽ trả lời ổng như thế nào, và nhận ra rằng cứ những buổi gặp đều đặn như vậy thực ra giúp theo dõi và điều chỉnh nếp sống của mình rất tốt. Sau đó, tôi tự hình thành thói quen để ý tới nếp ăn nếp ngủ nếp sinh hoạt của mình thường xuyên, có gì bất thường một chút là tôi tìm cách điều chỉnh ngay. Sau này đọc thêm tôi mới biết đó thật ra là một cách hữu hiệu để giúp mình tránh từ trạng thái stress rơi vào trạng thái trầm cảm (coi thêm bài “sống chung với lũ” tôi đã dẫn link ở trên). Mà phòng bệnh thì tốt hơn chữa bệnh, một khi đã để mình sụt vào cái hố trầm cảm thì bò lên rất khó và mệt mỏi, thà rằng tập cách biết khi nào mình ngấp nghé miệng hố để ráng hết sức chuồn trước còn hơn :D.

Ngoài chuyện ăn ngủ nghỉ thể dục thể thao đó ra thì dĩ nhiên nói về những gì làm mình bức xúc, mệt mỏi, chán nản, bất lực, tuyệt vọng, vân vân. Nói chung therapist rất khéo, chẳng cố gắng ép tôi nói ra cái gì cả, cứ để tôi nói tự do tùy ý, rồi hỏi và trao đổi thêm về những điều ấy, không có kiểu cố gắng đi tìm nguyên nhân sâu xa là gì, còn vấn đề gì mà tôi đang giấu nữa không. Cũng chẳng bao giờ nói gì phức tạp hay giải thích lằng nhằng về các lý thuyết diễn giải của tâm lý học mà sau này thỉnh thoảng tôi lại đọc được ở đâu đó. Dĩ nhiên đằng sau những lời “nói chuyện, chia sẻ” tưởng như chuyện phiếm của therapist là một nền tảng học vấn và kinh nghiệm vững chắc.

Còn một vấn đề nữa cũng thỉnh thoảng được nói tới là về những việc đang tồn đọng mà tôi cần làm mà không làm nổi, cơ bản là vì chán nản nên cứ trốn tránh và trì hoãn mãi, và càng trì hoãn thì càng căng thẳng. Đại để là therapist hỏi cụ thể về hiện trạng tồn đọng, rồi gợi ý tôi chia nhỏ công việc ra để làm từng bước một. Sau thì cũng có những việc mình hoàn thành được, có những việc tôi bỏ chả làm nữa.

Nói chung tôi thấy điều trị bằng nói chuyện ấy giống mưa dầm thấm lâu, tôi và một vài bạn tôi biết thỉnh thoảng có cảm thấy sốt ruột và đôi khi là cảm thấy vô ích. Nhưng ngẫm lại tôi thấy nó hữu ích cho cả sau này, thời gian hậu trầm cảm, chứ không chỉ khi đang trong cơn (đợt) trầm cảm.

Đi nói chuyện được một thời gian, một lần therapist hỏi tôi có muốn tham gia điều trị theo nhóm (group therapy) không. Nghĩa là một nhóm những người trầm cảm gặp nhau chia sẻ, nói chuyện với sự hướng dẫn của một therapist. Nhưng tôi từ chối. Therapist cũng không nói gì thêm. Tôi cũng quên không hỏi nên không rõ là vì sao ổng lại gợi ý vậy, là do tình trạng mình xấu đi hay làm sao.

Đợt điều trị ấy kéo dài tầm nửa năm, rồi kết thúc là do tôi về nước. Trước khi tôi về, therapist có dặn là sau này có rảnh thì viết thư cho ổng biết sức khỏe của mình như nào. Thật ra sau đó thì cuộc sống của tôi cũng ổn định lại ngay, nhưng phải hơn một năm sau đó tôi mới viết thư cho therapist hay, để cho chắc là mình đã thật sự ổn chứ không phải chỉ là ổn tạm thời.

4. Nói chuyện với nhiều người

Song song với việc gặp therapist theo định kỳ thì tôi thường xuyên nói chuyện với bạn bè bằng đủ mọi hình thức: gặp mặt, điện thoại, video chat, chat chit, email. Nhiều khi cũng cảm thấy chán chính mình vì cảm giác có mỗi câu chuyện bế tắc mà cứ nhắc đi nhắc lại với bạn bè, mà nói xong thì bế tắc cơ bản vẫn hoàn bế tắc, chán nản vẫn hoàn chán nản. Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ đó là việc nên làm, và là có ích, dù ích lợi có thể khi ấy mình không nhìn thấy được, không cảm nhận được. Và biết đâu trong số bạn bè mình lại có những người có kinh nghiệm hay hiểu biết gì hữu ích cho mình.

Khi tôi nói chuyện với bạn bè về việc mình bị trầm cảm, một người bạn chia sẻ là bạn ấy cũng đang điều trị trầm cảm, mà còn bắt đầu trước tôi. Thế là sau đó chúng tôi hay gặp nhau nói chuyện về tiến trình trị liệu, cập nhật về những nỗ lực của người kia, ví dụ chuyện chạy bộ. Kể ra như thế đỡ hơn là phải cố gắng điều trị một mình.

Việc nói chuyện này dĩ nhiên còn tùy vào cá tính từng người. Tôi làm việc ấy một cách tự nhiên vì bản tính tôi vốn là người hướng ngoại, quảng giao, lúc nào và đi đâu cũng đông bạn lắm bè. Mà nói đến bạn bè nghĩa là những người tôi có thể nói chuyện thoải mái, không phải e dè gì, thật tình trong cuộc sống tôi rất ít các mối quan hệ xã giao.

5. Viết lách

Nói chuyện với bao người như vậy rồi mà ngày ấy tôi vẫn viết lách rất nhiều, nếu không cái đầu tôi nó nổ tung ra mất. (Cách này thích hợp với những người sống nội tâm hơn chăng?) Tôi nhớ có một lần nói chuyện với therapist, ổng nói tôi nghĩ nhiều quá nên đâm ra khó ngủ, nên phải cố gắng “slow your mind down”. Một lần tôi bảo therapist là khi ấy tôi viết nhật ký rất nhiều, ổng nói là như thế là rất tốt, nên có cách để cho những thứ trong đầu mình đi ra. Vậy nên tôi đoán là việc nói chuyện nhiều và viết lách nhiều của tôi ngày ấy là tốt.

Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có các cách khác nhau, không nhất thiết là nói và viết, mà, theo như tôi biết, có thể là vẽ, gấp giấy, viết nhạc, chơi nhạc, dịch, vân vân. Nhưng có lẽ là cứ phải có một hoạt động mang tính sáng tác, chế tạo ra một cái gì đó.

6. Đọc sách

Đầu óc rối ren như vậy nhưng ngày ấy tôi lại lao vào đọc sách, thật chẳng biết lợi hay hại. Chỉ biết là cảm thấy những thứ trong đầu mình diễn đạt ra đã khó, tìm câu trả lời cho những băn khoăn của mình còn khó hơn. Tại sao thế này, tại sao thế nọ. Không trả lời được thì tôi lại càng không yên, vì câu hỏi này lại chồng chất lên câu hỏi nọ. Bởi thế, ngày ấy đang bức bối vì vấn đề gì là tôi kiếm sách đọc, từ sách tâm lý học cho tới triết học cho tới sách tự-cứu (self-help). Tôi chỉ đơn giản là không thể gác chúng sang một bên “mà vui sống”, hay là quên chúng đi, tôi nhất định muốn hiểu tận gốc rễ của những vấn đề ngày ấy đang làm tôi phát khùng lên.

Dĩ nhiên là việc đọc sách ngày ấy có giúp tôi “hiểu tận gốc rễ” mọi thứ không thì tôi không biết, nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy nó cũng hữu ích, làm tôi suy nghĩ thông thoáng hơn, nhìn cuộc đời rộng rãi hơn, và biết đâu đã góp phần giúp tôi “slow my mind down”.

7. Tập thiền

Ngày ấy tôi chỉ tập thiền đâu có 1-2 tuần, theo hướng dẫn từ xa của một người bạn. Sau này tôi đọc được trong một cuốn sách là tập thiền để điều trị trầm cảm là tùy xem có hợp hay không – nó là một việc kén người, có người thích, có người không. Tôi chắc là không hợp với việc ấy. Ngày ấy tôi tập là vì có bệnh muốn vái tứ phương, và một người bạn của tôi giải thích rằng thiền tập là rất tốt cho cuộc sống hiện nay, nhất là với những người làm việc trí óc, vì hầu như cuộc sống xung quanh lúc nào cũng rối loạn, dễ gây ra nhiều điều ức chế.

Tóm lại, với trải nghiệm ít ỏi của tôi ngày ấy thì tôi thấy thiền có thể giúp mình thanh lọc đầu óc. Vì tập thiền là tập hướng tới trạng thái không nghĩ gì cả. Ngày ấy tôi tập theo hướng dẫn của bạn là nhìn vào một đồ vật, tập trung mọi ý nghĩ của mình vào vật đó và không nghĩ tới điều gì khác nữa. Bản chất là lấy vật đó để thu hút sự chú ý của trí não mình khỏi những suy nghĩ rối loạn của mình. Bởi thế nên nhiều người tập thiền bằng việc chú tâm vào nhịp thở của mình, bản chất chính là để tâm trí bận dõi theo hơi thở không thể nghĩ lung tung được.

Nói thì đơn giản vậy mà làm khó muốn chết luôn. Đầu óc ta hóa ra cứ luôn sao nhãng theo các ý nghĩ chứ không chịu không nghĩ gì cả. Nhưng có tập thiền mới biết trong đầu mình sao mà lắm ý nghĩ vậy. Cứ tập như vậy – cố gắng không nghĩ gì, rồi lại chạy theo các ý nghĩ, rồi lại cố gắng không nghĩ gì – giúp tôi tự dưng phát hiện ra là mình có rất nhiều suy nghĩ “rác”. Sau khi phát hiện ra vậy rồi thì việc vứt bỏ những “suy nghĩ rác” ấy đi nó trở thành tự nhiên, quả là đầu óc thanh thản hơn, thời gian ngồi yên không nghĩ bất cứ điều gì cứ thế tăng dần lên cùng với việc luyện tập.

Nhưng tôi cũng chỉ trải nghiệm tí tẹo vậy thôi, rồi bỏ tập, và từ đó tới giờ cũng chẳng muốn tập lại. Có thể đơn giản là thiền tập không hợp với tôi.

8. Chạy bộ

Chạy bộ có lẽ hợp với tôi hơn là thiền tập. Thật ra tôi là loại lười vận động. Ngày ấy dù được khuyên tập thể dục, chơi thể thao nhưng tôi lần lữa chán chê mãi mới thèm vác xác đi chạy. Nhưng rồi bắt đầu thì lại càng ham. Trong những việc tôi làm ngày ấy để thoát trầm cảm có lẽ chạy bộ là việc tôi thích nhất và cũng cảm nhận được tác động của nó rõ rệt nhất.

Giữa những ngày sống không bằng chết, chỉ khi đi chạy tôi mới bắt đầu khôi phục lại được cảm giác của mình về sự sống. Mỗi một bước chạy cho tôi cảm giác rõ rệt về cơ thể mình. Cảm giác rất rõ về trọng lượng cơ thể mình, cơ bắp, nhịp thở, lồng ngực, vân vân, cứ như thể tôi là một cái hồn ma lang thang lâu ngày giờ mới được đầu thai vào một cơ thể sống nào đó, mà cái hồn ma đã quên phéng mất việc có một cơ thể sống, một cuộc sống thật là như thế nào.

Ngày ấy, tôi chạy đều đặn nhiều tháng. Mỗi ngày lại cố gắng chạy nhiều hơn hôm qua một chút. Nhiều khi có cảm giác cả cuộc sống của mình khi ấy chỉ có mỗi cái việc chạy bộ một mình hàng sáng rồi về nhà ngồi bệt trên sàn uống một lon ginger ale là có ý nghĩa. (Thời gian còn lại trong ngày có khi lại rơi vào trạng thái trầm cảm.)

9. Buông bỏ những gì gây áp lực

Việc khiến tôi đôi khi lại cảm thấy lấn cấn ở trong lòng, cũng là việc cuối cùng mà tôi làm, chính là buông bỏ những gì gây áp lực và buồn khổ cho tôi nhiều nhất vào lúc ấy. Cũng có khi nhìn lại cảm thấy như mình là kẻ thất bại, yếu đuối, nhưng song song với đó cũng là ý nghĩ rất có thể trên thực tế đó đã là việc quan trọng nhất đã giúp tôi thoát ra khỏi tình trạng trầm cảm ngày ấy. Giống như con khỉ thò tay qua song sắt để nhận một nắm đồ ăn không thể rút tay lại được cho tới khi nó nhận ra rằng để rút tay lại việc duy nhất nó cần làm là buông tay bỏ hết những gì nó đang nắm giữ đi.

Dĩ nhiên, bỏ hay giữ là quyết định của mỗi người, vì chúng ta theo đuổi những giá trị khác nhau. Có người thà chết cũng không chịu thất bại, còn tôi thà thất bại còn hơn là chết :D. Quyết định nào cũng có cái giá của nó, tự lượng sức chịu đựng của mình mà chọn cái giá phải trả thôi.

Như đã nói ở đầu bài, bài viết này chỉ mang tính chất kể chuyện, mô tả lại một trải nghiệm, để ai quan tâm thì đọc cho biết. Tôi không biết mình đã làm đúng điều gì, làm sai điều gì, nhưng nói chung đúng hay sai với tôi cũng chẳng quan trọng. Sau cái mẩu đời mệt mỏi ấy, tôi học được một điều là không nên quá khắt khe với chính mình. Nói như một người bạn của tôi, “chúng ta không chỉ nên rộng lượng với cuộc đời mà còn nên rộng lượng với chính mình”.

Vài lời dành cho những người muốn tự tử

Khi bạn muốn tự sát, có lẽ bạn đang cảm thấy hết sức cô độc. Bạn có thể cảm thấy không còn ai trên thế giới này có thể hiểu mình, chưa nói đến việc có thể giúp bạn vượt qua khó khăn. Bạn thậm chí còn không biết giãi bày những gì đang rối bời trong lòng bạn ra như thế nào. Bạn chán ghét tất cả những lời khuyên. Bạn có thể cảm thấy thực sự không có ai cho bạn có thể tìm đến. Hoặc suy nghĩ và cảm xúc của bạn còn rối rắm hơn tất cả những gì mà tôi đang cố gắng viết ra ở đây.

Tôi đã từng có những ý nghĩ về tự sát xuất hiện trong đầu. Tại sao tôi có những ý nghĩ ấy? Rất đơn giản, tôi thấy bế tắc trước những gì tôi đang đối diện trong cuộc đời vào những thời điểm ấy. Bế tắc vì cái gì? Không quan trọng. Bế tắc là một cảm giác. Tôi chưa bao giờ thực sự muốn chết, nhưng những ý nghĩ ấy cứ tự nhiên xuất hiện. Như đã từng chia sẻ ở đây, chúng xuất hiện khi tôi cảm thấy những gì mình đang trải qua là quá sức chịu đựng của mình. Dưới đây tôi xin trích ý kiến của những người có chuyên môn mà tôi đã dịch lại từ tiếng Anh:

Không bao giờ được từ bỏ những người đã có kế hoạch tự sát. Đối với một người đã quyết tâm tự tử, mong muốn sống chẳng qua đã bị che phủ bởi tình trạng tưởng như vô vọng của căn bệnh [trầm cảm]. Quyết định thực hiện hành vi tự sát thực chất là mong muốn ngừng việc chịu đựng những nỗi đau. Đừng bao giờ từ bỏ một ai đó chỉ vì họ nói rằng họ đã có quyết định cho mình. Trầm cảm là một sự khủng hoảng và can thiệp để giúp người trầm cảm giành lại được niềm tin và chiến đấu quyết liệt với căn bệnh này có thể làm đảo ngược được tiến trình người trầm cảm đến gần hơn với những ý nghĩ cũng như việc thực hiện hành vi tự sát.

Lời khuyên thường được đưa ra với những người đang muốn tự sát là hãy trì hoãn quyết định ấy của bạn lại – “Hy vọng là một điều vô nghĩa khi khủng hoảng đã xảy ra. Điều tốt nhất bạn có thể làm là cho mình thêm 24 giờ, và cố gắng bám vào ý nghĩ rằng những gì tâm trí của bạn đang thôi thúc chỉ là nhất thời.” Theo bài viết mà tôi vừa trích dẫn hai câu, một nghiên cứu cho biết 94% số người đã định tự sát vẫn còn sống sau 25 năm kể từ ngày họ có ý định tự sát hoặc đã chết vì những lý do tự nhiên.

Nói như vậy không có nghĩa là ý muốn tự sát hoàn toàn chỉ là câu chuyện mang tính nhất thời. Tổn thương tâm lý thường không đến từ một chuyện, một sự kiện, hay một vấn đề mà là sự tích tụ của nhiều tổn thương – theo thời gian tổn thương này chồng lên tổn thương nọ trong khi các vết thương cũ có khi còn chưa hết hẳn. Thêm vào đó, có rất nhiều chuyện mang lại chấn thương tâm lý rất nặng nề mà có lẽ đa số nhân loại khó mà tự mình hình dung ra được.

Bạn có thể đã từng thực hiện hành vi tự sát, và có thể không chỉ một lần. Và khi đó có lẽ mỗi lần ý nghĩ tự sát trở lại việc thoát khỏi nó dường như lại khó khăn hơn.

Trải nghiệm này đã bộc lộ hết những điểm yếu nhất của chúng ta, và sâu thẳm bên trong chúng ta không còn tin vào những gì ngày mai có thể mang đến. Chúng ta có thể sẽ vẫn đi lại và hít thở, nhưng chúng ta đã từng cận kề cái chết y như vẫn cận kề sự sống, và tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ để cho chúng ta quên đi điều đó.

Trên blog này tôi có viết và dịch một số bài liên quan đến trầm cảm, nếu quan tâm bạn có thể bắt đầu từ đây. Đoạn tôi vừa trích dẫn là từ bài mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất cho tới thời điểm này, Sống chung với trầm cảm và rối loạn lưỡng cực, do tôi chọn và trích dịch từ một cuốn sách cùng chủ đề. Đại ý bài đó nói về việc về lâu dài cần học cách tự mình tránh cho mình rơi vào khủng hoảng, và chuẩn bị trước nếu khủng hoảng chớm xảy ra thì nên làm gì. Cá nhân tôi nghĩ rằng câu chuyện muốn tự sát nhiều lần, đã từng tự sát nhiều lần cũng có những nét tương đồng với việc sống chung với trầm cảm.

Một vài dòng chia sẻ như vậy. Tôi cũng chẳng biết nói gì nhiều hơn về chuyện sống chết, hạnh phúc, hay khổ đau. Cũng chẳng biết để làm gì, nhưng hy vọng bạn cảm thấy được chia sẻ phần nào khi đọc bài viết này.

Viết lách là gì? Viết lách là lao động.

Chuyện phiếm trong bữa tối tại một quán ăn trên một con phố nhỏ mang tên một nàng công chúa, giữa tôi với một người bạn:

– Kể ra cũng hơi xấu hổ vì đi học thạc sĩ ở bên kia về mà viết lách lại kém quá.

– Ờ thì mày là dân kỹ thuật, chắc không phải viết mấy. Chứ như bọn tao thì viết suốt, toàn viết thôi.

– Ừ chủ yếu là làm việc chứ có viết mấy đâu.

– Đó, bọn tao thì chỉ có viết thôi chứ có làm việc gì đâu.

Đôi khi những người hay (phải) viết lách lại thích tự giễu mình như thế. Nhưng thôi nào, phải công bằng một tí, viết lách cũng là lao động chứ. Kể cả khi bạn viết nhật ký cá nhân thì bản chất nó vẫn là lao động.

Chẳng hiểu sao tôi cứ có cảm giác rằng có một số người nghĩ rằng viết lách là một hoạt động dễ như ăn cháo đối với những người hình như là đẻ ra đã có gien văn hay chữ tốt. Nghĩa là gi gỉ gì gi cái gì họ cũng viết được, viết lúc nào cũng được, cứ đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa trong đầu rào rào chạy ra.

Trên thực tế, những người hay viết lách chẳng sớm thì muộn đều phải đối diện với một tình trạng gọi là writer’s block, tạm dịch là tắc mạch viết. Nghĩa là tự dưng chẳng viết được gì nữa. Có thể là cứ viết một hai từ, hoặc một hai câu lại xóa đi mà cũng có thể là cứ nhìn vào trang giấy hay màn hình máy tính hàng tiếng đồng hồ mà không nặn ra được một chữ nào. Tình trạng tắc mạch viết này có khi kéo dài đến hàng năm trời. Trên mạng có trăm phương nghìn kế người ta mách nhau làm thế nào để thoát khỏi tình trạng tắc mạch viết một cách mau chóng.

Kể cả khi không bị tắc mạch viết, nhiều người viết cũng cần có những điều kiện nhất định mới có thể viết được. Thường gặp nhất là nhu cầu được yên tĩnh không ai làm phiền. Ôi sao mà tôi yêu cái cau mày của Nicole Kidman trong phim “The hours” trong phân cảnh Virginia Woolf đang viết lách thì bị làm phiền đến thế chứ! Một trong những nỗi khó chịu lớn nhất cuộc đời tôi là đang viết thì có ai đó tự dưng bắt chuyện hoặc hỏi một câu hoặc có một âm thanh nào đó tự dưng gắt lên. Khi viết lách tôi thường cần một sự tập trung cao độ, kể cả khi đó là việc viết ra một thứ nhảm nhí cho mình mình đọc.

Tuy nhiên, giống như nhiều phụ nữ hay viết lách có con mọn, với tôi một ngoại lệ đáng yêu hoàn toàn chấp nhận được là con mèo :D. Những người viết ở nhà trông con hay trông mèo đều biết cách làm thế nào để viết được với một đứa nhóc đang cắn chân mình hoặc chạy khắp nhà và la toáng lên :D.

Ngoài nhu cầu phổ biến về sự yên tĩnh, mỗi một người viết sẽ có một hoặc vài nhu cầu khác để có thể viết lách được. Có những nhu cầu đơn giản và dễ hiểu, ví dụ như hút thuốc, đồng thời cũng có đầy nhu cầu vô cùng kỳ quái và khó hiểu. Nếu bạn có hứng thú tìm hiểu thêm, bạn có thể google “weird writing habits” thì sẽ ra một lô một lốc những bài viết tiết lộ cho bạn biết những chuyện kiểu như ai thì thích đứng viết, ai thì thích nằm viết, và ai thì thích không mặc gì khi viết.

Nhắc tới “tìm hiểu thêm”, tính chất lao động của việc viết lách thể hiện rõ ở công việc này hơn là ở những đòi hỏi về “điều kiện lao động”. Tôi có cảm giác rằng một trong những thất bại lớn nhất của việc dạy văn ở bậc phổ thông ở Việt Nam hiện nay là không dạy cho học sinh hiểu được rằng viết lách cũng cần phải có tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể đó là lý do vì sao tôi có cảm giác rằng nhiều người nghĩ rằng viết lách nghĩa là cứ đặt bút hoặc đặt tay xuống bàn phím là viết được, như có viết ở trên. Chuyện cũ nói lại: dạy văn ở phổ thông cơ bản đang là dạy học sinh cần phải học thuộc cái gì. Các thầy cô giáo giảng văn không phải là để gợi mở cho học trò tư duy mà là để “truyền đạt” lại một số cách hiểu một tác phẩm văn học và rồi sẽ chấm điểm các bài văn dựa vào sự ghi nhớ và nhắc lại được những cách hiểu đó. Barem chấm điểm môn văn luôn luôn phải có “đúng ý, đủ ý” bên cạnh một số yêu cầu khác dường như không quan trọng bằng.

Người bạn tốt của cách dạy như thế là các “bài văn mẫu” – một khái niệm với tôi là hơi nực cười. Không phải là chúng ta không cần các bài văn sẵn có để tham khảo; ngược lại, cái chúng ta cần chính là các bài văn để tham khảo – chứ không phải để làm mẫu. Tham khảo có nghĩa là đọc để biết người khác người ta nghĩ như thế về tác phẩm ấy, tác giả đó, chứ không phải là à người ta đã tổng kết là tác phẩm ấy, tác giả đó được hiểu như thế đó, ta chỉ cần ghi nhớ và viết lại y chang. Thảo luận văn học là một điều cần có ngay ở bậc phổ thông ở mọi lớp chứ không phải chỉ ở các lớp chuyên văn hay tới tận bậc đại học trong các chuyên ngành liên quan tới văn chương. Việc thảo luận ấy không chỉ tốt cho việc cảm thụ văn học mà còn vô cùng tốt cho việc tư duy về các vấn đề xã hội, nhân tình thế thái, vân vân. (Các vấn đề mà sớm hay muộn đám học trò cũng sẽ xôn xao bàn tán chém gió với nhau trong các hàng trà đá vỉa hè hay trong các quán cà phê hay trên các diễn đàn ảo tung chảo khi chúng lớn lên làm người lớn như ai :D.)

Trên thực tế, phải tới bậc thạc sĩ tôi mới nhận ra mình đã bị ảnh hưởng nhiều như thế nào bởi lối học viết lách thụ động ấy. Dù nhiều giáo sư bảo tôi viết lách tốt, có hai người đã viết nhận xét vào bài luận của tôi đại ý là em tóm tắt những bài đọc rất tốt, nhưng tôi muốn em viết nhiều hơn về quan điểm của cá nhân em về chủ đề của bài luận. Em nghĩ gì về những quan điểm của các bài báo và các cuốn sách mà chúng ta đọc?

Sau các nhận xét ấy, mỗi khi viết luận tôi lại tự hỏi mình, thế rốt cục là tôi nghĩ gì về cái vấn đề mà tôi đang viết? Rồi tôi nhận ra là điều ấy thật khó. Những gì người ta – các học giả nghiên cứu lâu năm – đã nghĩ ra trước khi tôi kịp nghĩ gì có khi đọc tới đọc lui còn chưa hiểu được hết, thử hỏi tôi còn biết nghĩ gì nữa. Tôi nói chuyện với mấy bạn học người Mỹ và tụi nó bảo cũng thấy khó khăn như tôi trong việc “nghĩ gì nữa”. Nhưng rồi chúng tôi cứ phải tập nghĩ từ bài luận này sang bài luận khác cho tới khi hình thành một thói quen cứ đọc là phải nghĩ: tôi nghĩ gì về việc ông bà nào đó nghĩ gì, viết gì, nói gì, bất kể ông bà ấy là ai, được thiên hạ tung hô hay bị nhân gian chửi rủa như thế nào.

Khi bạn viết, điều quan trọng nhất không phải là ai đó nghĩ gì mà là bạn nghĩ gì.

Tóm lại, những gì viết nãy giờ là muốn nói đến hai khía cạnh mang tính chất lao động của công việc viết lách: (1) là phải tìm hiểu, nghiên cứu, đọc tài liệu tham khảo về vấn đề mà mình viết; (2) là phải nghĩ cho ra bản thân mình chứ không phải bất kỳ một ai khác nghĩ gì về vấn đề mà mình viết.

Giờ nói tới khía cạnh thứ ba thể hiện tính chất lao động của việc viết lách, ấy chính là việc viết. Hay đúng hơn là việc viết đi viết lại, viết tới viết lui cho tới khi nào cảm thấy những gì mình viết ra là đúng với cái mà mình đang nghĩ trong đầu mà khi người khác đọc người ta có thể hiểu được mình muốn nói gì.

Dĩ nhiên có những bài viết là sản phẩm của “viết phát ăn liền”, quả thực là đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa rào rào chạy ra lấp đầy những trang trắng trước mặt người viết, rồi gần như không phải sửa sang gì cứ thế đem xuất bản (post) là thiên hạ rào rào nhảy vào like và phát tán. Nhưng với những người viết lách thường xuyên, chuyện viết đi viết lại, viết tới viết lui, viết viết xóa xóa, thậm chí viết đến phát khóc, bỏ ăn, mất ngủ vì viết mãi mà không ra được như mình mong muốn là chuyện rất bình thường. Bởi thế nên nếu bạn đang phải viết gì đó mà thấy viết mãi không ra cái gì, thậm chí là mãi không viết được ra cái gì, thì điều đó không có nghĩa là bạn không có khả năng viết lách về cái mà bạn đang phải viết mà chỉ là có thể bạn sẽ phải bước vào một giai đoạn lao động khổ sai hơn nữa trước khi có thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm mà thôi. Thường thì những lúc như thế cứ viết bừa ra mọi thứ đang nhảy múa trong đầu bạn, không cần chúng phải có nghĩa, không cần chúng phải logic hay liên quan tới nhau, cứ phải viết ra rồi tính tiếp.

Một mô tả về công việc viết lách của Paulo Coelho có thể được đọc ở đây.

Mà nhân tiện nhắc tới việc viết đi viết lại, xin chia sẻ một lời khuyên dành cho người viết lách mà tôi đọc được cách đây nhiều năm, có bắt chước làm theo, và cảm thấy vô cùng chí lý, ấy là đừng vứt đi bất cứ thứ gì mình viết. Làm được việc này không phải dễ vì đôi khi (hoặc nhiều khi) đọc lại vài thứ mình viết thấy chúng sao mà ngô nghê, nông cạn, sai bét, buồn cười không phải lối, quá đau khổ, quá sướt mướt, hoặc chứa đựng muôn vàn sự dở hơi khác.

Coi trong phim hoặc trong chính đời thực của chúng ta có một phân cảnh dễ gặp là người viết vo nát mảnh giấy chứa đựng những gì mình vừa viết ra, có khi là cả nguyên một trang chữ hoặc có khi chỉ là một hai câu, rồi ném cái viên giấy ấy vào sọt rác hoặc vào góc nhà cho bõ tức vì viết chán quá. Tốt nhất là nên ném vào góc nhà, hoặc vào một cái thùng rác sạch (chuyên đựng giấy bỏ chẳng hạn) để khi cơn tức giận qua đi thì hãy gom chúng lại, mở ra, vuốt cho phẳng phiu, rồi đem cất vào một cái hộp nào đó. Thực tế là nhiều khi đọc lại những gì ta đã từng cho là dở hơi và đáng xấu hổ lại cho ta những ý tưởng viết lách mới hoặc soi sáng ra một điều gì đó cho cái đầu lúc nào cũng ngổn ngang suy nghĩ của ta.

(Giờ tôi hầu như không viết trên giấy, nhưng trong máy tính phải có vài file để phục vụ cho việc viết đủ thứ lăng nhăng xì cuội không đầu không cuối và cứ giữ lại hết tất tật những thứ chổi cùn rế rách ấy.)

Tóm lại, bài này tuy viết theo văn phong lan man nhưng chỉ có một ý chính thôi: viết lách có thể là nhiều thứ – là nghề nghiệp tay trái hoặc chân phải hoặc là sở thích cá nhân hoặc là một công việc dù ghét cay ghét đắng nhưng vẫn phải làm – nhưng dù là gì thì nó cũng là một dạng lao động đòi hỏi người lao động phải bỏ thời gian và công sức ra để làm, có lúc buồn, có lúc vui, có lúc nhàn hạ, có lúc lại khốn khổ không ai bằng :D.

Ông Donald đó đó và người quyết định

Tác giả: Paul Krugman. Blog của bác (Lương tâm của một người theo chủ nghĩa tự do) ở đây còn Twitter của bác ở đây. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The Donald and the Decider” đăng trên The New York Times ngày 21/12/2015.

Khoảng sáu tháng đã trôi qua kể từ khi Donald Trump vượt qua Jeb Bush trong các trưng cầu của các cử tri Cộng hòa. Vào thời điểm đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng hiện tượng Trump chỉ là nhất thời và dự đoán rằng các cử tri sẽ sớm quay về với các ứng viên truyền thống hơn. Tuy nhiên, thay vào đó, sự dẫn đầu của ông này cứ ngày càng tách xa các đối thủ. Thậm chí đáng chú ý hơn thế, bộ ba chuyên nói linh tinh — ông Trump, Ben Carson, và Ted Cruz — giờ đây nhận được sự ủng hộ của khoảng 60% nhóm cử tri chính yếu.

Nhưng tại sao lại thế? Xét cho cùng thì các ứng viên phi truyền thống đang lấn lướt hiện nay, ngoài việc thiếu hiểu biết sâu sắc về chính sách, có một thói quen là đưa ra những tuyên bố sai lệch, rồi không thèm đính chính bao giờ. Tại sao các cử tri Cộng hòa dường như lại không quan tâm tới điều đó?

2015_NYT_politicians-lie

Biểu đồ do Bill Marsh làm từ dữ liệu của PolitiFact cho bài “Tất cả các chính trị gia đều nói dối. Một số nói dối nhiều hơn những người khác.” của tác giả Angie Holan đăng ngày 11/12/2015 trên The New York Times.

Chậc, một phần của câu trả lời hẳn là đảng này đã dạy họ là không cần phải quan tâm. Lấy khoác lác và hiếu chiến thay cho phân tích, thái độ khinh khỉnh thay cho trả lời có cân nhắc ở bất kỳ dạng nào, gạt đi những thực tế khó chịu mà “đám truyền thông mang tư tưởng tự do” đưa ra – tất cả những điều này không phải đột nhiên mới xuất hiện trên sân khấu của đảng Cộng hòa. Ngược lại, chúng đã từ lâu là những thành phần chính tạo nên thương hiệu của đảng này. Vậy làm thế nào các cử tri có thể biết được đâu là giới hạn?

Trước hết hãy nói về di sản của Kẻ Mà Chớ Gọi Tên Ra.

Tôi không biết bao nhiêu độc giả còn nhớ cuộc bầu cử năm 2000, nhưng trong suốt chiến dịch tranh cử các ứng viên Cộng hòa đã cố gắng – và thành công to – trong việc biến cuộc bầu cử trở thành câu chuyện ai dễ mến hơn ai, thay vì là câu chuyện chính sách. Kiểu: George W. Bush nên nhận được phiếu bầu của bạn bởi ông ta là người bạn sẽ thích ngồi uống bia cùng, không như cái gã Al Gore khô khan, tẻ nhạt suốt ngày cứ số liệu với chả thực tế.

Và khi ông Gore cố gắng nói chuyện về những khác biệt chính sách, ông Bush không trả lời vào phần chính mà bằng cách móc mỉa “bài toán khó nhằn” của đối thủ – một cụm từ mà những người ủng hộ ông bắt chước đem xài một cách thích thú. Các tập đoàn truyền thông bám theo ngay bài dìm hàng cố ý này: ông Gore được cho là đã thua trong các cuộc tranh luận, không phải vì ông ấy sai, mà bởi vì ông ấy, như các phóng viên cho biết, có vẻ kênh kiệu và trên cơ người khác, không giống như ngài W. thiếu trung thực nhưng theo kiểu dễ mến.

Sau đó thì xảy ra vụ 11/9, và ngài dễ mến biến thành một nhà lãnh đạo chiến tranh. Nhưng vụ biến hình này đã không bao giờ đi kèm với những tranh luận tử tế về chính sách đối ngoại. Thay vào đó, ông Bush và các cận thần chỉ thể hiện một sự huyênh hoang. Kiểu: ông ấy là người bạn có thể tin tưởng là sẽ đảm bảo an toàn cho chúng ta bởi vì ông ấy nói chuyện một cách cứng rắn và ông ấy có cách ăn mặc giống như một phi công chiến đấu. Ông ấy đã tự tin tuyên bố rằng ông ấy là “người quyết định” – và ông ấy ra quyết định dựa vào “trực giác.”

Ngụ ý là những người lãnh đạo thực sự không mất thời gian vào việc suy nghĩ quá nhiều, lắng nghe các chuyên gia chỉ là một dấu hiệu của sự yếu đuối, và quan trọng là cái thái độ. Và trong khi những thất bại của ông Bush ở Iraq và New Orleans cuối cùng cũng đặt dấu chấm hết cho niềm tin của người Mỹ vào trực giác của ông, sự tôn vinh thái độ cao hơn con số lại càng bùng lên trong đảng của ông, thể hiện rõ khi John McCain, người mà xưa kia đã từng có tiếng về sự độc lập về chính sách, đã chọn một Sarah Palin rõ ràng là không đủ năng lực để làm cánh tay phải của mình trong tranh cử.

Vì thế Donald Trump như một hiện tượng chính trị là một tiếp nối quá chuẩn của một dòng chảy từ ngài W. tới bà Palin, và trên nhiều khía cạnh ông là một đại diện tiêu biểu cho cốt lõi của đảng Cộng hòa. Ví dụ, bạn có sốc không khi ông Trump tiết lộ sự ngưỡng mộ của ổng dành cho Vladimir Putin? Ông ấy chỉ là đang nói ra một cảm xúc vốn đã tràn ngập trong đảng của ổng.

Trong khi đó, những ứng viên truyền thống có gì khác để show ra nào? Về mặt chính sách mà nói, chẳng có gì khác mấy. Hãy nhớ rằng, ở thời điểm mà Jeb Bush được xem là ứng viên hàng đầu, ông này đã tập hợp một nhóm “chuyên gia” chính sách đối ngoại là những người có bằng cấp hàn lâm và vị trí trong những nhóm think-tank cánh hữu. Nhưng đội ngũ này phần lớn là những người tân bảo thủ cứng rắn, những người mà bất chấp những sai lầm trong quá khứ vẫn trung thành với niềm tin rằng cứ gây sốc và gây khiếp 😀 (nguyên văn “shock and awe”, một chiến lược quân sự nổi tiếng của Mỹ – ND) là giải quyết được hết.

Nói cách khác, ông Bush không phải đã đưa ra một chính sách khác biệt gì đáng kể so với những gì mà giờ đây chúng ta nghe được từ Trump và các cộng sự; tất cả những gì ông ấy trưng ra là sự hiếu chiến có phết bên ngoài một lớp tư cách đáng kính. Marco Rubio, người tiếp sau ông được coi là ứng viên truyền thống được ưa chuộng, cũng giống hệt vậy, thêm một vài cuộc xâm lược nữa. Vì sao lại phải ngạc nhiên khi thấy điệu bộ [chính trị] này giờ đây được ngửa bài bởi sự hiếu chiến thẳng thừng của các ứng viên không truyền thống?

Trong trường hợp bạn có chút băn khoăn, những chuyện như thế này không xảy ra ở bên phe Dân chủ. Khi Hillary Clinton và Bernie Sanders tranh luận, ví dụ là về việc điều tiết tài chính đi, thì đó là một cuộc thảo luận thật sự, với cả hai ứng viên rõ ràng là nắm thông tin rất tốt về những vấn đề liên quan. Thảo luận chính trị ở Mỹ về tổng thể chưa hề chìm xuồng, nó chỉ là vấn đề của cánh bảo thủ mà thôi.

Trở lại với những người Cộng hòa, có phải điều này nghĩa là ông Trump sẽ thực sự là một ứng viên của họ? Tôi chịu. Nhưng điều quan trọng cần thấy là ông này không phải bỗng nhiên đột nhập vào nền chính trị Cộng hòa từ một thiên hà khác. Ông ấy, hoặc một ai đó như ông ấy, là nơi mà đảng này đã hướng tới từ lâu rồi.

Học hành: vui và không vui

Sau khi tôi viết bài “Những niềm vui học hành”, có bạn hỏi, thế những bất mãn học hành là gì đấy? Hỏi thế cũng có cái lý của nó nhưng mà thôi, gọi là bất mãn làm gì cho hại sức khỏe với mau già. Ta phải tập nhìn các sự vật hiện tượng một cách khách quan, không phán xét, không káu giận, để lấy cái ánh sáng đó mà soi sáng cho hiện tại mông lung :D.

Thật ra khi bắt đầu viết bài đấy, tôi đang nghĩ và đã bắt đầu viết về những nỗi buồn học hành, nhưng rồi viết một lúc, các niềm vui học hành thuở nào lại từ ký ức tràn về trong khi những nỗi buồn cứ luẩn quẩn, viết mãi cũng không thấy ra cái hình thù gì. Thế nên kết quả là bài đó đó :D.

Thế tại sao sau này đi học tôi lại thấy buồn nhiều hơn vui?

Hết năm thứ nhất đại học, tức là sau hai học kỳ cùng với một kỳ nghỉ hè dài phè phỡn mà những năm học phổ thông nhẽ ra cũng đã phải có mà thực tế thì trong nhiều năm liền đã không có, tôi phát hiện ra một vấn đề là những môn mình được 9 điểm và những môn mình được 5 điểm chả khác gì nhau, ấy là nghỉ hè xong mình quên sạch. Thế là từ đó tôi bắt đầu nghĩ ngợi về chuyện học mà rồi quên sạch thế thì học để làm gì.

Phát hiện ra vấn đề không khó: tôi không thích ngành mình đã chọn. Nói cho chính xác hơn, ngành ấy phải học rất nhiều Hóa và tôi thì chưa bao giờ thích môn này cả. Tôi không dốt hóa, bởi vì việc giải mớ bài tập hóa học ở bậc phổ thông, hay kể cả thi đại học, xét cho cùng cũng chỉ đòi hỏi tư duy logic là chính, mà cái đó thì tôi không thiếu. Nhưng học theo kiểu vị lợi, tức là để qua được bài kiểm tra, qua được kỳ thi đại học, thì cũng khó mà sinh ra được niềm vui, nhất là khi ngay từ đầu niềm vui ấy đã không tồn tại. Học gạo mãi thì cũng ức chế.

Sau thì tôi vẫn học hết cái ngành ấy, cầm tấm bằng đại học, rồi đi làm một nghề chẳng liên quan. Đi làm được hai năm, tôi có một cơ hội đi học trở lại, lần này là một ngành mình thích, và cũng rất liên quan đến cái nghề mình đã làm. Hơn thế nữa, lại còn được đi học ở một nền giáo dục xét về nhiều mặt tôi cho là tử tế hơn nền giáo dục mình vẫn biết.

Niềm vui học hành mau chóng trở lại. Tôi lao đầu vào học, như nắng hạn gặp mưa rào, lại một lần nữa chẳng vì cái gì cả. Học là vui. Đến giờ tôi vẫn nhớ những buổi lên thư viện, nhớ những lần ngây ngất đi giữa những giá sách cao ngất đến trần, nhớ sức nặng của những chồng sách ôm về từ thư viện, nhớ những góc mình đã ngồi đọc sách vào nhiều buổi sáng, trưa, chiều, tối. Nhớ những bài luận dù được điểm A vẫn chi chít bút đỏ của giáo viên, để hiểu rằng điểm số chỉ là tương đối còn chân trời để tiếp tục khám phá thì thênh thang. Nhớ lời phê của một giáo sư nghiêm khắc trong một lớp học rất khó khăn với tôi, đại khái là you really need to improve your English writing ở cuối một trang mà ổng ngồi chữa cho tôi từng lỗi một. Nếu không có lời phê ấy và cái trang ấy, tôi sẽ vẫn còn tưởng tiếng Anh của mình là ok vì các giáo sư khác không ai nói gì về tiếng Anh của mình bao giờ lol.

Dĩ nhiên, thiên đường nào cũng có những bóng tối :D. Nói có thể hơi cường điệu một chút thì không chỉ nền giáo dục phương Tây mà cả xã hội phương Tây đã bán mình cho một chữ: efficiency. Nghĩa là “tính hiệu quả”. Tính hiệu quả nghĩa là gì? Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary mà tôi có, efficiency is the quality of doing something well with no waste of time or money. Dịch đại khái sang tiếng Việt: hiệu quả là làm tốt một việc gì đó mà không lãng phí thời gian hay tiền bạc.

“Hiệu quả” không nhất thiết là một điều xấu. Hai năm đi học ở bển là hai năm tôi đã học được nhiều điều nhất trong một thời gian ngắn nhất, nếu so sánh với các trải nghiệm khác trong cuộc đời cũng chưa dài lắm của mình tính đến thời điểm này. Đó là một nền giáo dục được thiết kế để người học có điều kiện lĩnh hội được nhanh nhất những điều thiết yếu quan trọng nhất đã được tinh chế ra từ một lịch sử khám phá tri thức của giới trí thức phương Tây. Ở đây lịch sử cần được hiểu là phần lịch sử đã được ghi nhận, a perceived history, bởi vì con người không bao giờ hiểu hết được toàn bộ lịch sử như nó thực sự đã là. Bởi vậy nếu mong muốn lớn nhất của bạn với việc học hành là học được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất, nền giáo dục kiểu phương Tây có lẽ là lựa chọn tốt nhất mà bạn có thể có được trên thiên đường hạ giới này :D.

“Hiệu quả” thật ra chẳng tốt cũng chẳng xấu. Vấn đề nằm ở hai chữ “bán mình” kia. Tôi cho là từ ngày ông kỹ sư cơ khí Frederick Taylor phát minh ra phương pháp quản lý mang tính khoa học (scientific management) và đặc biệt là từ ngày ông Henry Ford quyết định đầu tư vào phát triển và ứng dụng dây chuyền lắp ghép (assembly line) trong sản xuất ô tô thì xã hội phương Tây bắt đầu thực sự chuyển mình: rốt cục thì họ cũng tìm ra cách để tôn thờ giá trị của sự hiệu quả. Một sự tôn thờ tận tâm, chân thành, chung thủy mà có lẽ không cần tốn tới ngàn tỉ xây tượng đài. Với tôi thì tôn thờ cái gì quá mức cũng đồng nghĩa với việc bán linh hồn của mình cho thứ đó – bán đứt hay bán một phần thì còn tùy vào mức độ tôn thờ.

“Ba thói xấu lớn nhất của người Mỹ là tính hiệu quả, đúng giờ, và khao khát thành công. Chính chúng khiến người Mỹ cảm thấy cuộc sống của họ bất hạnh và quá căng thẳng.”

The Importance of Living, Lâm Ngữ Đường

Khi tôi bước chân vào nền giáo dục hiệu quả ấy, hai thực thể “bán mình” gặp nhau, có điều là mỗi thằng thờ một chủ :D. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã trở thành một nô lệ trung thành của niềm vui. Thiếu vắng niềm vui tôi không chỉ buồn mà còn đau khổ lol. Thật ra sống trong nền giáo dục ấy tôi cũng có niềm vui, như đã kể ở trên, chỉ có điều khi phát hiện ra người mình yêu tôn thờ những thứ khác, không giống với mình, thì cũng ít nhiều thất vọng :P. Rồi thêm một chút sóng gió bên ngoài xô đẩy, thế là tình nghĩa đôi ta đến thế thôi :D.

Về chuyện học hành, xét cho cùng, vui hay không vui cũng chỉ là một chiều kích để đánh giá – và không nhất thiết là chiều kích quan trọng nhất. Nhìn lại chuyện học hành của mình tôi nghĩ nó giống như một lát cắt từ cuộc sống, có thể cho mình biết mình đã và đang sống cuộc sống của mình như thế nào: như một kẻ nô lệ nghiện ngập đầy tự hào chẳng hạn.

Mà nô lệ cho cái gì, nghiện ngập bất cứ thứ gì thì cũng đều khổ cả :P.

Tình yêu của lửa

Tình yêu của lửa là thứ tình yêu không thể giấu được. Chẳng có gì gói được lửa đang cháy. Tình yêu của lửa là loại tình yêu khoe khoang, như ánh dương phủ tràn mặt đất.

Tình yêu của lửa là thứ tình yêu ấm áp, sống động. Không có tháng, ngày, giờ, phút, giây nào trôi qua mà lửa quên cháy. Tình yêu của lửa là phải vui. Tình yêu của lửa là phải lấp lánh. Tình yêu của lửa có thể lan tới bất cứ nơi đâu.

Tình yêu của lửa cũng có thể là thứ tình yêu khó chịu. Thiêu đốt người ta một cách gay gắt. Cháy rụi cả không gian. Yêu đương gì mà khiến người ta ngộp thở, muốn tránh xa để tìm không khí trong lành và những dòng nước mát.

Tình yêu của lửa cũng có những khi tắt ngấm, nếu bị bao vây bởi lạnh lẽo, giá băng. Cháy một lúc rồi đuối sức.

Tình yêu của lửa cũng có những khi tưởng đã tắt ngấm mà hóa ra vẫn âm ỉ trong than hồng. Chỉ chờ một luồng khí thổi vào, tình yêu ấy lại bùng lên. Cháy như chưa bao giờ được cháy.

Nhưng một xô nước hắt vào thì… 😀

Viết cho những ngày cuối cùng của tháng Lửa cuối cùng trong năm.

Nói cho dễ hiểu về hội nghị thượng đỉnh khí hậu

Tác giả Cathy Alexander là nghiên cứu viên tại Viện Xã hội Bền vững Melbourne (Melbourne Sustainable Society Institute), Đại học Melbourne, Úc. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “Plain-language explanation of the climate summit”.

Đang có chuyện gì?

Hàng năm Liên Hiệp Quốc (LHQ) tổ chức một hội nghị thượng đỉnh khí hậu. Hội nghị năm nay diễn ra tại Paris từ ngày 30/11 đến ngày 11/12. Người ta hy vọng hội nghị này sẽ chốt được một thỏa thuận mới về biến đổi khí hậu sẽ bắt đầu được thực hiện từ năm 2020.

Sao lại là Liên Hiệp Quốc?

Các quốc gia đã quyết định rằng LHQ sẽ là đầu tàu của quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Việc này tới nay vẫn luôn gặp khó khăn, và một số bên nghĩ rằng một giải pháp thực sự là nằm ngoài tầm tay.

Vậy nó toàn là về các quốc gia sao?

Phải. Hệ thống này nhìn vào các hành động ở tầm quốc gia, hơn là làm việc với các cá nhân, các khu vực hay các ngành.

Ai sẽ tới hội nghị này?

Bạn cần có thẻ chính thức để vào bên trong. Một số nhà lãnh đạo thế giới sẽ có mặt, các bộ trưởng nữa. Nơi đó sẽ có đủ các nhà ngoại giao, quan chức, những nhà hoạt động xã hội và giới doanh nhân.

Điều gì sẽ diễn ra tại hội nghị?

Các quốc gia đã đồng ý với nhau rằng họ muốn giới hạn mức trái đất nóng lên tới 2oC thôi. Hầu hết các nước đều đã đưa ra cam kết của mình để kiểm soát được các phát thải khí nhà kính sau năm 2020. Về tổng thể thì chưa ổn; trái đất sẽ nóng lên quá 2oC. Hội nghị lần này hướng tới việc đạt được một thỏa thuận chính thức để chốt lại các mục tiêu này, và xây dựng một tiến trình để các quốc gia từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình.

Thế thì hội nghị này cầm chắc thất bại?

À thì nó sẽ không chốt được một thỏa thuận là giữ cho mức nóng lên là 2 độ – trừ phi các nhà lãnh đạo thế giới làm tất cả mọi người ngạc nhiên bằng cách đặt ra các mục tiêu cao hơn. Có lẽ là nó sẽ nằm đâu đó giữa ‘các thương lượng chưa ngã ngũ’ và ‘một bước tiến tốt’. Nếu đây như một tiền sảnh cao cấp nơi có thể khuyến khích các chính phủ làm nhiều hơn để giảm phát thải, thì cũng hữu ích.

Sao việc thông qua này lại khó thế?

Hầu hết các chính phủ đều có vẻ muốn vấn đề biến đổi khí hậu được xử lý, nhưng họ thường muốn người khác làm phần việc khó. Các chính phủ lo lắng rằng cắt giảm phát thải sẽ khiến họ mất tiền (và phiếu bầu), vì thế họ có xu hướng muốn người khác đi trước, còn họ tìm lý do lý trấu để đi tụt lại đằng sau (mặc dù có các dấu hiệu cho thấy những thái độ này đang thay đổi). Thêm vào đó, LHQ hoạt động dựa trên cơ chế đồng thuận – tất cả mọi người phải cùng đồng ý – nên dễ bị sa lầy.

Thế tôi có nên từ bỏ hy vọng không?

Không. Nếu mọi người trên toàn thế giới quyết định rằng vấn đề này cần được xử lý, các chính phủ sẽ đi nhanh hơn. Có rất nhiều nỗ lực tại các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp để cắt giảm phát thải. Và thay đổi, khi nó tới, có thể tới rất nhanh.

Nào thì nói chuyện “ế ẩm”

Hồi đầu tháng tôi đi ăn một đám cỗ cưới ở quê. Không phải quê tôi, mà ý muốn nói là ở một chốn không phải thị thành. Như thông lệ thì đàn ông hai họ uống rượu làm quen khề khà ầm ĩ, còn đám đàn bà con gái bên nhà tôi là khách nên không phải lo phục vụ bữa cỗ, tha hồ tập trung chuyên môn là ăn. Tàn cỗ, các ông thì lảo đảo, vài ông thì bắt đầu hát, đám đàn bà con gái nước chè chuyện phiếm chán thì kéo nhau đi chơi loanh quanh vì vẫn còn một ít thủ tục cần làm sau bữa cỗ, chưa về ngay được. Thiếu vắng mấy đứa em út nên chả có ai chơi cùng, tôi ngồi một chỗ nghịch điện thoại, và như thường lệ thỉnh thoảng vẫn đảo mắt quan sát tất tần tật mọi thứ xung quanh :D.

Một ông chú bên họ nhà gái đã say ngất ngất, ngồi phịch xuống bàn chỗ tôi ngồi, bắt đầu bắt chuyện với tôi. Ông hỏi: “Không biết là chị đã được mấy cháu rồi?” Chưa kịp nói gì thì ông cậu ruột tôi ngồi bên cạnh, cũng đã ngất ngất, cười bảo: “Nó được hai đứa rồi.” Thế là tôi nảy ra một trò vui, tôi trả lời:

– Cháu được một đứa thôi ạ.

– Trai hay gái?

– Trai ạ.

– Mấy tuổi rồi?

– Ba tuổi ạ.

Dĩ nhiên là tôi đang nói đến con mèo ở nhà. Nhưng ông này vẫn tiếp tục hỏi:

– Thế anh chị hiện giờ đang công tác ở đâu?

Ôi giời ạ, tôi thật không muốn tiếp tục cái trò này nữa. Nghĩ vậy, tôi bảo:

– Nãy giờ cháu đùa thôi. Cháu đã lấy chồng đâu.

– Hả? Thế chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

– Cháu gần bốn mươi rồi.

– Ôi thế làm sao mà lại chưa lấy chồng! Sao chị kén thế?

– Vâng, phải kén chứ ạ.

Rồi tôi kiếm cớ lượn, mặc kệ ông chú bên họ nhà gái vẫn mắt chữ O mồm chữ A, chắc đang băn khoăn không biết là có phải tôi tiếp tục bịa chuyện trêu chọc ổng nữa không. Mấy bà ngồi bàn bên cạnh cùng đoàn nhà giai, tuy không phải họ hàng với tôi nhưng cũng biết tỏng tôi là đứa nào đấy, nãy giờ ngồi nghe toàn bộ cuộc hội thoại thì bò lăn ra cười. Một bà hỏi tôi, sao mày bịa chuyện giỏi thế. Tôi trả lời, có mỗi một chuyện mà ai cũng hỏi, nói mãi một chuyện cháu cũng phát chán đi được.

Quả thực, vài năm gần đây tôi thường xuyên phải đối diện với đủ các thể loại hỏi han rồi khuyên nhủ rồi dạy bảo rằng thì là mà là sao chưa chịu lấy chồng rồi phải lấy chồng đi. Đa phần là từ những người có tuổi, nhưng đồng lứa tuổi cũng có một ít, và tôi thấy đáng kinh ngạc nhất là có một đứa nhóc tầm chín ích đời cuối đã thỏ thẻ hỏi tôi, sao chị chưa đi lấy chồng. Chả nhẽ tôi lại bảo nó là khi nào em lớn hơn tí nữa em sẽ hiểu thời buổi này làm ăn khó khăn như thế nào :D.

Dĩ nhiên không phải lúc nào tôi cũng vui vẻ mà bịa đặt ra những câu trả lời như kể chuyện ở trên. Có lúc nổi cáu, có lúc cười trừ, có lúc chả nói gì, có lúc bảo đang há miệng chờ sung, có lúc bảo vâng sắp rồi, có lúc lại bảo lấy chồng làm gì cho mệt xác. Tóm lại là rất tùy hứng, tùy tâm trạng, và tùy hoàn cảnh. Chắc vài bữa nữa là đủ tư liệu viết cẩm nang hướng dẫn trả lời những câu hỏi kiểu đó.

Nói chung câu chuyện độc thân hay kết hôn vừa là câu chuyện cá nhân vừa là câu chuyện xã hội. Là câu chuyện cá nhân thì đơn giản là không thân thì đừng có hỏi. Hay nói đúng hơn, lần sau trước khi đặt ra câu hỏi trăng sao ấy cho người khác, hãy tự hỏi chính mình xem mình trông đợi người ta sẽ trả lời mình như thế nào. Sẽ kể về một chứng bệnh có tên là sợ yêu đương sợ kết hôn? Hay là kể về chuyện tình trường trắc trở? Nghĩ một tí đi sẽ thấy câu hỏi của mình vô duyên vô nghĩa vô cùng.

Là câu chuyện xã hội thì ai thích thì tự đi kiếm các nghiên cứu xã hội học hoặc tâm lý học mà đọc. Làm ơn đừng có viết những bài chỉ dựa vào những suy diễn nhảm nhí và/hoặc một số quan sát/câu chuyện cá nhân ít ỏi.

Để kết lại bài này, mình lại kể một câu chuyện vui, mà hồi lâu lâu rồi nghe ai đó kể chẳng nhớ nữa. Chuyện là có một bạn Việt Nam nói chuyện với một bạn Canada rằng thì là mà hiện giờ ở Việt Nam đang bị mất cân bằng giới tính, số trẻ em trai với số trẻ em gái lệch nhau sao sao đó. Bạn Canada nghe xong bảo, chúng mày băn khoăn chuyện ấy làm gì, đằng nào thì sau này lớn lên chúng nó cũng có lấy nhau đâu :D.

Những niềm vui học hành

Những quãng đời đi học của tôi vui nhiều hơn buồn. Trừ trên giảng đường đại học là buồn nhiều hơn vui. Nhưng kể cả trong những năm đó thì cuộc đời tôi vẫn được cứu rỗi bởi môn tiếng Pháp.

Trong mười hai năm phổ thông, có hai môn học mà tôi tuyệt đối yêu thích, đó là Toán và Tiếng Anh. Với hai môn này chưa bao giờ tôi có cảm giác là mình phải học, cũng chưa bao giờ tôi phải băn khoăn về chuyện điểm số. Nói đơn giản là cứ học là vui rồi.

Nhưng tôi lại không có duyên với mấy lớp chuyên toán. Năm lớp 4 đã đứng trước một cơ hội “lịch sử” là vô một lớp chuyên toán, nhưng không có người đưa đi học mà cũng không được cho đi xe đạp một mình, nên là mất cơ hội lịch sử dù đã thi đậu. Mãi tới năm lớp 8 cuộc đời mới lại xô đẩy tôi vô một lớp chuyên toán khác. Của đáng tội, học được một năm thì nhà nước bãi bỏ chế độ trường chuyên lớp chọn. Dĩ nhiên là năm lớp 9 trường tôi vẫn, coi như là lén lút, dạy cho học sinh theo chương trình chuyên, vì khi ấy chương trình phổ thông hết cấp bình thường chúng tôi đã nuốt hết rồi, hổng lẽ bắt chúng tôi học lại những thứ với chúng tôi là dễ vô cùng ấy. Hai năm đó việc học toán đúng là như ở thiên đường. Vào cấp ba tôi thi vô trường chuyên trượt, lại về học trường làng.

Ngoài hai môn yêu thích tuyệt đối đó thì nói thật, hầu như môn nào tôi cũng thích hết, chắc chỉ trừ có môn thể dục với môn giáo dục con dâu là không thích tí nào. Nghĩ lại cũng buồn cười, chả hiểu học mấy môn Lịch sử, Địa lý ngày ấy tôi thích ở điểm nào khi mà rời trường cấp ba mới là lúc tôi thực sự tự học lại từ đầu các kiến thức lịch sử, địa lý cần thiết, bởi trước đó chủ yếu toàn học vẹt những cái lăng nhăng. Ký ức về hai môn này ở nhà trường thực ra chỉ còn lại mấy cái bản đồ. Với môn Địa lý thì rõ rồi, còn với môn Lịch sử tôi cũng thích những bài tập về nhà là vẽ lại một cái bản đồ đơn giản để nhìn vô đó mà kể chuyện quân ta quân địch oánh nhau như nào.

Nhắc tới vẽ, tổng kết lại mười hai năm phổ thông thực ra chỉ có một môn có thể làm tôi thức thâu đêm làm bài tập mà lại còn thấy khoái chí, ấy là môn vẽ kỹ thuật. Là vẽ hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh, hình chiếu bằng gì đó của mấy cái chi tiết máy móc ấy. Thiệt ra tôi chẳng hiểu bậc phổ thông học cái môn ấy làm chi, chắc định trang bị cho mọi công dân trẻ một nền tảng để sau này sẵn lòng xây dựng một nhà nước công nghiệp hóa. Kết quả thì ai cũng biết rồi, đến cái ốc vít “đạt chuẩn” cũng làm không xong lol. (Hình như ngày ấy còn phải học môn kỹ thuật nông nghiệp nữa, nhưng nếu tôi không nhầm thì chúng tôi cũng không phải học mấy vì bản thân các thầy cô giáo cũng ngán ngẩm nên thầy trò cùng nhau dạy và học cho xong chuyện.) Dù sao thì với tôi môn kỹ thuật công nghiệp ấy cũng như một thú giải trí vui vẻ.

Nhắc tới máy móc lại muốn nói quàng sang môn Vật lý. Thiệt tình tôi mê môn Vật lý chỉ sau có hai môn Toán với Tiếng Anh mà thôi. Cơ học, quang học, nhiệt học, năng lượng nguyên tử, vân vân, phần nào tôi cũng mê hết á. Nhưng rồi mọi thứ cũng chỉ dừng ở mức lấy việc giải bài tập vật lý làm nguồn vui, ôn thi đại học đỡ bị xì trét, chứ tôi cũng chẳng đi tới đâu nữa hay có kỷ niệm gì đặc biệt với môn này cả.

Nhắc tới vui thú học hành, thiệt không thể không nhắc tới các lớp học thêm. Trái với câu chuyện về mặt trái của việc dạy thêm học thêm trên mặt báo, tôi rất thích các lớp học thêm. Đơn giản là vì ở đó tôi… được học thêm. Tôi ngày ấy vốn là loại trẻ con ham học hơn ham chơi, nên thành thực mà nói học trên lớp là không đủ. Tôi bắt đầu đi học thêm từ rất sớm, ngay những năm cấp một luôn. Cũng một phần là vì năm nào cũng phải thi vào lớp chọn, nhưng tôi nghĩ phần nhiều hơn là vì mẹ tôi vốn cũng là người ham học nên rất thích con cái học cho nhiều, nên những ngày ấy mẹ tôi rất xăng xái đi tìm các lớp dạy thêm có tiếng của các thầy giáo giỏi rồi xin cho tôi vô học.

Ở mấy lớp đó tôi được học sâu hơn và nhiều hơn những gì được dạy trên lớp chính quy. Các thầy dạy có lẽ chủ yếu cũng vì mục đích mở mang thêm kiến thức cho học sinh chứ không phải là kiểu trò nhắm học thầy đó để thi vô trường chuyên lớp chọn mà thầy đó dạy hay để làm được bài kiểm tra trên lớp. Tôi nghĩ là ở mấy lớp đó các thầy được dạy thoải mái hơn, không bị ép theo chương trình khung nào, mà bọn học trò như tôi học cũng thấy khoái chí hơn. Dĩ nhiên hẳn là có những bạn bị bố mẹ bắt ngồi vô các lớp đó mà có khi không theo kịp mấy đứa nhanh nhẹn trong lớp thì hẳn câu chuyện học thêm của các bạn ấy đã là một câu chuyện khác, không vui vẻ như câu chuyện của tôi.

Sau này sang tới Mỹ dĩ nhiên tôi cũng có những niềm vui học hành, nhưng thành thực mà nói những niềm vui ấy không còn được tự do và đơn giản như thời niên thiếu cắp sách tới lớp nữa. Tôi cứ bị giằng co giữa “học tập vị học tập” hay “học tập vị nhân sinh”. Mấy đứa bạn học đã từng đi làm rồi trở lại trường để học cao học như tôi cũng cảm thấy cuộc sống của một sinh viên sau đại học rõ ràng cứ thiếu đi một cái gì đó. Nhưng bọn họ rất dứt khoát trong việc hoàn thành chương trình cao học rồi trở lại làm việc như một practitioner. Có bạn còn lựa chọn ngay từ đầu chỉ học coursework, không làm nghiên cứu. Tôi cứ như con cá vàng lửng lơ giữa hai dòng nước, chẳng chọn được dòng nào mà mặc cho dòng đời xô đẩy.

Ngoài ba mươi tuổi, tôi và những người bạn đồng trang lứa không ít người cảm thấy bế tắc và chán nản, nhiều người xác định giờ chỉ muốn “sống cho qua ngày”. Vài tuần trước ngồi nói chuyện với một người bạn trong đám ấy, bạn tiết lộ tuy nói là nói vậy nhưng bạn vẫn mong chừng một vài năm nữa, cuộc sống ổn định hơn, bạn sẽ đăng ký học một chương trình thạc sĩ liên kết tại đây. Bất chợt nhớ về một lần than thở với bạn khoảng hai năm trước, rằng học xong mà thấy cũng chẳng dùng được gì nhiều trong công việc. Bạn bảo, nhưng những gì mình học được thì sẽ mãi mãi là của mình.