Most read authors và số 3 “thần thánh” của tôi

Trước khi nhập dữ liệu sách mình đọc lên Goodreads và nhấn vào thống kê “Most read authors” của trang này, tôi đã nhận thấy từ lâu là rất khó khăn để tôi đọc được tới quyển sách thứ ba của cùng một tác giả. Thường tới quyển thứ hai là tôi đã cảm thấy cái mong muốn sẽ tiếp tục đọc tác giả này giảm xuống đáng kể.

Ngay cả trong số bốn tác giả mà tôi đã đọc được tới quyển thứ ba, hay là cứ tính cả ông tác giả mà tôi đang đọc tới quyển thứ ba và nhiều khả năng sẽ kết thúc được quyển thứ ba này là năm tác giả, chỉ có duy nhất một người tôi vẫn còn cảm thấy muốn tiếp tục tìm đọc là Jack London. Bốn người còn lại (Paulo Coelho, Dương Thu Hương, Alvin Toffler, Thomas Friedman) tôi đều không coi là tác giả ưa thích của mình!

Nhưng dẫu sao cũng đã có ba tác giả vượt qua được con số 3 “thần thánh” này của tôi và khả năng là họ sẽ còn nằm chình ình trên đầu bảng thống kê này trong một thời gian rất dài nữa.

Số 1. Nguyễn Nhật Ánh

Trên Goodreads tôi chỉ thống kê được đại khái vài cuốn của Nguyễn Nhật Ánh mà tôi đã đọc nhưng con số thực tế ít nhất cũng phải tầm 20 cuốn. Một lý do con số này nhiều đến thế là vì bác Ánh viết truyện khá là ngắn, nếu so với các cuốn sách của các tác giả khác mà tôi đọc. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy vui vì trong top 3 này của tôi có một nhà văn Việt Nam. Dù tôi không còn đọc bác Ánh nữa nhưng đây là một tác giả ưa thích của tôi chẳng phải nghi ngờ gì nữa.

Số 2. Murakami Haruki

Tôi đọc ông này được tròn 10 cuốn. Như nhiều người khác, tôi rơi vào trạng thái nghiện đọc ổng. Từ năm ngoái đến giờ là tôi chủ động tránh đọc ổng để còn dành thời gian cho các tác giả khác, chứ không thì đọc chắc vẫn như gió vào nhà trống, bao nhiêu cũng không thấy đủ.

Số 3. J.K. Rowling

Nếu không nhìn vào thống kê thì tôi cũng không nhận thấy Rowling chính là nhà văn nữ tôi đã đọc nhiều nhất. Khi phát hiện ra điều đó, tôi rất ngạc nhiên vì với tôi bà chỉ đơn giản là một trong những tác giả nữ tôi đã đọc. Hiện giờ tôi vẫn đang trên đường tìm kiếm một nữ tác giả mà mình ưa thích.

Về Rowling thì rất có thể con số của tôi sẽ dừng lại ở số sáu. Chính là sáu quyển trong bộ Harry Potter. Nghĩa là ngay bộ ấy tôi cũng đọc không hết. Quyển thứ bảy, là quyển cuối cùng trong bộ truyện, tôi đã không vượt qua được. Tôi đã đọc chừng 1/3 quyển ấy rồi không cảm thấy muốn đọc tiếp để biết câu chuyện kết thúc như nào. Trên thực tế, sau khi đọc xong quyển thứ năm tôi đã mất nhiều hứng thú với bộ truyện.

Dĩ nhiên mục tiêu đọc sách của tôi là phải thêm bạn cho top 3 này, nhưng trước khi đạt đến con số 6 khiêm tốn của Rowling tôi cần phải tập trung vào con số 3 thần thánh cái đã. Dưới đây là một số tác giả tôi đã đọc từ hai cuốn tới hai cuốn rưỡi và nhìn thấy có khả năng sẽ nâng cao được thành tích:

  1. Paul Auster: đã đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace và một phần The New York Trilogy.
  2. E.B. White: đã đọc Mạng nhện của CharlotteChiếc kèn Trumpet của Thiên nga và tốt nhất là nên tìm đọc nốt Nhắt Stuart cho trọn bộ 3 cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng của ông này.
  3. Mark Twain: đã đọc Tom Sawyer và Huck Finn và cũng muốn đọc thêm cuốn hồi ký Life on the Mississippi của ổng rồi đọc lại hai cuốn kia nữa.
  4. Stephen King: đã đọc Dặm XanhNgười lửa và một vài truyện ngắn trong Just After SunsetThe Bazaar of Bad Dreams. Cuốn On Writing của ông cũng có vẻ hấp dẫn.
  5. Nguyn Dương Qunh: đã đọc Đ và Th trn ca Chúng ta và sẽ đọc tiếp nếu bạn này ra sách tiếp.
  6. Nguyn Trí: đã đọc hai tập truyện ngắn của bác này là Bãi vàng, Đá quý, Trm hương và Đ t. Tuy bắt đầu thấy có sự lặp lại nhưng vẫn muốn thử đọc sang tiểu thuyết đầu tay của bác là Thiên đường o vng dù cái tựa nghe không được hấp dẫn cho lắm.
  7. Nguyn Phương Mai: vừa đọc xong Tôi là mt con la và Con đường Hi giáo và cũng sẽ mua tiếp quyển nữa nếu chị này ra sách nữa (hy vọng là vềcánh cung phía Đông của con đường Hồi giáo).

Thật ra để nâng thành tích dễ thấy nhất là nên đọc một cuốn của Jack London để đẩy một tác giả nữa vượt qua con số 3 thần thánh. Nhưng bạn biết đấy, đọc sách nhiều khi cũng là do duyên phận!  😀

Advertisements

5 dấu hiệu cảnh báo bạn đang có một mối quan hệ có hại (và nó đang giết chết bạn)

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “5 Warning Signs You’re In a Toxic Relationship (And It’s Killing You)” của Sabrina Alexis trên A New Mode (truy cập ngày 3/9/2016).

Có một thứ mà tôi, và không may là nhiều phụ nữ khác, biết rất rõ là những mối quan hệ độc hại. Độc chất là một thứ gây tổn hại cho bạn và làm bạn kiệt quệ. Một mối quan hệ có hại có thể hủy hoại nhận thức của bạn về chính mình.

Có những mối quan hệ lành mạnh và có những mối quan hệ có hại, và tôi đã rơi vào trường hợp thứ hai ngày tôi bước chân vào đại học và sống chết yêu một anh chàng mà dường như mọi thứ đều không phù hợp. Giống như hầu hết các mối quan hệ khác, mối quan hệ này bắt đầu chẳng có vấn đề gì. Cảm giác ban đầu như điện giật, sự hấp dẫn là rất mạnh mẽ, nói chuyện thoải mái và dễ dàng, và lúc nào cũng thấy cần có nhau. Tôi chưa bao giờ cảm thấy bị thu hút nhiều như thế. Tôi có nhìn thấy một vài dấu hiệu bất ổn từ sớm, nhưng đã tự thuyết phục mình rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn vì đơn giản là phải như thế. Nhưng mà mọi chuyện lại không như thế.

Qua thời gian mọi thứ chỉ trở nên tệ hơn, và sau một năm kể từ khi bắt đầu mối quan hệ đó tôi đã trở thành cái bóng của chính mình trước đây. Tôi không còn vui vẻ, thân thiện, lạc quan, tự tin, và tràn đầy ánh sáng. Thay vào đó tôi thường xuyên cảm thấy bấp bênh, bất an đau khổ, kiệt quệ, và buồn rầu. Tôi sống dưới một đám mây đen sợ hãi… sợ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc, rằng anh ta sẽ bỏ đi. Khi ở cạnh anh ta có lẽ tôi cũng khốn khổ, nhưng tôi đã tin rằng không có anh ta tôi sẽ còn khốn khổ hơn nữa, bởi vậy mà tôi vẫn tiếp tục. Mối quan hệ đó nhẽ ra không nên kéo dài đến như thế. Tôi đã tiếp tục kể cả khi anh ta cho tôi thấy đủ mọi lý do rằng mối quan hệ ấy không nên tiếp tục. Cuối cùng, anh ta bỏ tôi, và đúng như đã dự đoán tôi cảm thấy mình chết từ bên trong.

Mãi tới khi mối quan hệ ấy lụi hẳn đi rồi tôi mới có thể nhìn ra mọi chuyện đã xấu như thế nào và nó đã hủy hoại cách mà tôi nhìn chính mình khủng khiếp ra sao. Một phần nguyên nhân tôi đã không nhận thức được sớm hơn là bởi tôi chẳng biết mình tìm kiếm điều gì. Tôi cứ để những cảm xúc mà tôi có che mờ những thứ khác. Bạn bè đã cố gắng cảnh báo tôi rằng chuyện đó không ổn, thế là tôi không nói chuyện với họ nữa. Linh tính của tôi đã bảo tôi là chuyện này không ổn, thế là tôi không để cho linh tính của mình lên tiếng nữa. Tôi đã làm việc mà nhiều người khác làm. Tôi đã chọn không nhìn mọi việc như chúng đã là mà thay vào đó chỉ nhìn vào việc tôi muốn mọi chuyện trở nên thế nào. Tôi coi nhẹ những gì là không ổn và bám chặt vào bất cứ thứ ánh sáng tốt đẹp nào mà tôi nhìn thấy, và đó là tất cả những gì tôi cần để tiếp tục.

Nỗi đau còn đeo đuổi tôi rất lâu sau khi mối quan hệ ấy kết thúc, và những vết thương mà nó gây ra đã mất rất nhiều thời gian để lành lại. Rắc rối với những mối quan hệ có hại là không phải lúc nào bạn cũng dễ dàng nhận dạng ra được, và đôi khi cứ như thể là bạn là người rất hay phức tạp hóa vấn đề nên mới coi nó là “có hại”.

Có thể bạn nghĩ rằng bạn đang trải qua những thăng trầm mà mối quan hệ nào cũng phải trải qua, hoặc có thể bạn cho rằng một vấn đề nào đó bên ngoài đang là nguyên nhân gây bất ổn và nếu vấn đề đó được giải quyết thì mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

Có thể nhìn nhận mọi chuyện đúng như nó đang là và chấp nhận một thực tế là nó sẽ không thay đổi có thể giúp bạn rất nhiều. Việc đó sẽ cho bạn khả năng nhìn mọi chuyện qua một lăng kính khách quan và ra quyết định có lợi nhất cho bạn. Để giúp bạn làm được điều đó, tôi chỉ ra ở đây những dấu hiệu lớn nhất cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ rất hại não.

1. Bạn không bao giờ cảm thấy mọi chuyện là đủ tốt.

Bạn cảm thấy như bạn làm sai mọi thứ và thường xuyên phải cố gắng chứng tỏ giá trị của mình. Bạn trở nên nghiện ngập sự ghi nhận của anh ta. Bất cứ khi nào bạn làm gì đó và nó kiểu dạng làm anh ta ghi nhận thì bạn cảm thấy nhẹ nhõm, và nó như một sợi dây đủ để bạn tiếp tục bám vào. Bạn lại cố gắng nhiều hơn nữa để lại có được cái cảm giác đó, và nếu không được thì bạn cảm thấy như đó là một thất bại. Nhưng bất kể là bạn cố gắng nhiều thế nào, bạn không bao giờ cảm thấy là bạn đã cố gắng đủ hay là bạn đã làm đúng. Bạn thường xuyên ở trong trạng thái không thoải mái, phán xét chính mình, cố gắng trở nên tốt hơn và trở nên đủ tốt.

2. Bạn không thể là chính mình.

Một dấu hiệu cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ lành mạnh là cảm giác bạn vẫn như bình thường. Một dấu hiệu lớn cho thấy bạn đang ở trong một mối quan hệ không lành mạnh, có hại là điều ngược lại, là cảm giác bạn không thể là chính mình. Thay vào đó, bạn phải đi nhẹ nói khẽ cười duyên và phải để ý mọi thứ bạn nói và làm. Bạn cảm thấy như giờ đây bạn phải uốn lưỡi hai lần trước khi nói và một số chủ đề là cấm kỵ, và bạn phải hành xử cho phải phép. Bạn sợ phải nêu một số vấn đề ra để nói chuyện với anh ta bởi bạn không biết anh ta sẽ phản ứng như thế nào, và không nói gì thì tốt hơn là nói gì đó và làm anh ta giận. Bởi vậy bạn cứ im lặng chịu đựng và hy vọng rằng mọi chuyện rồi sẽ thay đổi theo một cách nào đó, và mối quan hệ này một ngày nào đó sẽ trở nên hạnh phúc và lành mạnh theo một cách thần kỳ nào đó.

Bạn thậm chí có thể không nhận ra rằng mối quan hệ này đang biến bạn trở thành một người như thế nào. Bạn không biết tại sao bạn không còn là cô gái vui vẻ, tự tin nữa, và có thể bạn bè và gia đình bạn cũng cảm thấy như thế. Nhưng bạn yêu anh ta và bạn đã bỏ rất nhiều thứ vào mối quan hệ này và bạn lý giải rằng chỉ cần qua được ít trắc trở này, bạn sẽ trở lại như xưa…

3. Anh ta làm bạn buồn khổ.

Đây là một trong những dấu hiệu lớn nhất của một mối quan hệ có hại, và nó dường như là khá rõ ràng, nhưng thường bạn lại không nhận ra là anh ta đang làm bạn buồn khổ bởi mọi chuyện diễn ra theo cách cũng khó mà chỉ trích ai được. Và nếu bạn đã lún quá sâu, bạn đã không còn là chính mình và đã tự thấy mình không đủ tốt đẹp, nên thậm chí bạn cũng mặc nhiên công nhận những điều tiêu cực anh ta nói với bạn hay là nói về bạn.

Các mối quan hệ là một cơ hội để người ta trưởng thành rất nhiều. Đôi khi những tính cách không-ưu-tú-nhất của chúng ta bỗng dưng lộ ra và chúng cần phải được xử trí thế nào đó. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa một đối tác có thể chỉ ra điểm yếu của chúng ta theo một cách tích cực, khuyến khích chúng ta trưởng thành hơn, với một đối tác làm việc đó với màu sắc chế giễu, coi thường. Trong một mối quan hệ lành mạnh, người đó sẽ chấp nhận con người bạn. Anh ta sẽ yêu những điểm tốt và chấp nhận những điểm xấu bởi vì chúng ta đều là con người và ai cũng có những mặt không tốt, và những gì không tốt vẫn có thể chấp nhận được trong một chừng mực nào đó. Những ai trông đợi một đối tác hoàn hảo đều đã dọn đường cho mình sống trong thất vọng cả đời. Trong một mối quan hệ lành mạnh, bạn sẽ muốn trở nên tốt hơn bởi bạn thực lòng muốn tốt hơn nhưng vẫn là chính mình – vì chính bạn, vì người đó, và vì mối quan hệ này. Bạn sẽ cảm thấy được yêu thương và được chấp nhận với chính con người mình, và cả hai bạn hiểu rằng thay đổi cần có thời gian, nên bạn không cảm thấy khổ sở vì cảm thấy bất lực với những điểm yếu của mình hết lần này tới lần khác.

Trong một mối quan hệ có hại, bạn không cảm thấy mình được chấp nhận, đối tác của bạn khó chịu với những điểm yếu của bạn, và anh ta có thể chế giễu bạn và làm bạn xấu hổ vì những điểm yếu đó.

Tôi nhớ trong mối quan hệ gây hại đó của mình anh ta đã bảo tôi là lý do anh ta chọn đi lại với tôi là bởi anh ta không thể “breed” (phải, tôi trích dẫn nguyên văn lời anh ta) với ai như tôi bởi vì tôi không phải là kiểu người sẽ làm vợ và làm mẹ (xin nhắc, khi ấy tôi là một đứa nhóc sinh viên 20 tuổi), vậy nên anh ta cảm thấy an toàn vì biết rằng mối quan hệ này không phải là lâu dài. Đọc đến đây chắc các bạn đang há hốc mồm, và có lẽ bạn đang nghĩ “ờ sau vụ này thì hiển nhiên cô này sẽ bỏ thằng cha này,” nhưng tôi đã không làm thế! Tôi nhớ là mình đã cảm thấy xấu hổ và bối rối vì thực tế là tôi thích đi chơi và uống rượu và tiệc tùng (lại xin nhắc, khi ấy tôi 20 tuổi!), và tôi tự tạo cho mình một nhiệm vụ là chứng tỏ với anh ta rằng tôi cũng có thể là một người biết chăm sóc như thế nào. Trong một mối quan hệ độc hại, những chuyện hại não là không thiếu. Một số chuyện có thể thấy rõ còn một số khác thì bị che khuất, và có thể bạn không hề nhận ra rằng chúng đang hủy hoại bạn từ bên trong như thế nào.

4. (Hai) Bạn chơi bẩn.

Cặp nào cũng gây lộn, kể cả những cặp hạnh phúc nhất. Gây lộn có thể xảy ra với mọi chuyện lớn nhỏ. Những cặp hạnh phúc không phải là những cặp không bao giờ gây lộn, họ là những người biết dùng những xích mích và bất đồng như một phương tiện để giải quyết vấn đề. Nếu có một vấn đề không giải quyết được, họ học cách trao đổi, tương tác với nhau tốt hơn và tiến tới hiểu nhau nhiều hơn.

Các cặp có vấn đề thường gây lộn để phân thắng thua. Họ dùng những xích mích như một cơ hội để dằn mặt người kia, chơi xấu, và tranh thủ trút hết ra những tức giận và những chuyện để bụng bấy lâu. Gây lộn kiểu chơi xấu là một dấu hiệu cho thấy mức độ hận nhau trong mối quan hệ đã đến giới hạn chịu đựng. Gây lộn lúc này mang màu sắc hằn học và coi thường nhau, và mỗi người đều chăm chăm muốn “thắng” và chứng tỏ là mình đúng thay vì cùng nhau tìm cách giải quyết vấn đề một cách hòa bình.

5. Anh ta sẽ không làm gì để cải thiện tình hình.

Anh ta phủ nhận trách nhiệm và thay vào đó chỉ trích bạn và coi mọi chuyện là lỗi của bạn. (Kiểu như, “Nếu không phải là lúc nào em [cô] cũng gây chuyện thì anh [tôi] cũng không phải cáu giận đến như thế!”) Trong một mối quan hệ gây hại, bạn cảm thấy như mình là vấn đề. Anh ta không coi cảm xúc hay nhu cầu của bạn là gì. Nếu bạn không vui, đó là bởi bạn quá “nhạy cảm” hoặc “dễ xúc động” hoặc “vô lý”. Anh ta có thể nói xin lỗi, nhưng anh ta không thực sự nhận mình có lỗi gì và cho rằng nếu bạn có vấn đề gì với mối quan hệ này thì nó chỉ là vấn đề của bạn. Anh ta không muốn nói về chuyện đó hay tìm cách giải quyết hay cố gắng thay đổi.

Phẩm chất quan trọng nhất cần tìm ở một đối tác là một người sẵn sàng làm gì đó để cải thiện tình hình. Những mối quan hệ gây hại vẫn có thể thay đổi nếu cả hai người đều thực tâm muốn làm gì đó để cải thiện tình hình. Tuy nhiên, nếu anh ta từ chối thay đổi hay cố gắng hiểu cảm xúc và nhu cầu của bạn thì chẳng còn làm được gì và lựa chọn duy nhất của bạn là ra đi. Việc đó khó đấy vì một anh chàng với những tính cách gây mệt mỏi cũng có những tính cách khác thực sự tốt đẹp, và chúng ta nghĩ rằng nếu chúng ta cố gắng đủ nhiều chúng ta có thể làm cho những điểm tích cực ấy nở rộ nhiều hơn nữa và khiến anh ta thay đổi và trở thành một người tốt hơn. Mọi chuyện hiếm khi diễn ra theo cách ấy; mọi người chỉ thay đổi khi người ta nhận ra là đang có vấn đề và họ muốn giải quyết vấn đề đó. Và dù anh ta có bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp đi nữa, điều quan trọng duy nhất là anh ta có mong muốn mối quan hệ này có kết quả. Nếu anh ta không có mong muốn đó, mọi thứ khác đều là vô nghĩa.

Nếu bất kỳ điều nào trên đây là đúng với bạn hay có vẻ giống giống với mối quan hệ của bạn, có lẽ đây là lúc bạn nên cân nhắc nghiêm túc về chuyện có tiếp tục mối quan hệ này không vì lợi ích của mình. Những mối quan hệ gây hại có sức hủy hoại không nhỏ; hoặc là bạn nhận ra điều này bây giờ hoặc là một lúc nào đó sau này. Bạn càng dây dưa, tổn hại sẽ càng nhiều và thời gian phục hồi sẽ càng dài. Hãy nhớ rằng, bạn giải phóng cho mình càng sớm bao nhiêu thì bạn càng tới gần hơn với cơ hội tìm được một mối quan hệ tử tế cho mình.

Phỏng vấn Frédéric Beigbeder của Shawn Dogimont

Tạp chí Hobo #15 – Paris, tháng Mười Hai năm 2012. Sau khi dịch và xuất bản một số trích đoạn từ cuốn sách nói về sách đầy nhiệt tình của anh: First Inventory After the Apocalypse, tôi gặp Frédéric lần đầu trong một bữa trưa ở Allard, Quận 6. Kể từ lúc đó tôi bắt đầu nhận ra anh là một nhân vật nổi tiếng và viết lách nhiều tới nhường nào. Chương trình Le Cercle của anh toát lên một sự thông minh và dí dỏm và, cùng với The Walking Dead, đó là chương trình ưa thích của tôi trên truyền hình. Anh đã viết chín cuốn tiểu thuyết trong đó anh đôi khi tiểu thuyết hóa cuộc đời của chính mình, thường xuyên châm biếm xã hội tiêu dùng, và luôn luôn đặt ra những câu hỏi mang tính siêu hình. Anh là một trong những người đầu tiên ký vào bản tuyên bố phản đối luật mới trừng phạt khách mua dâm ở Pháp và với tôi anh đại diện cho phe tự do của một đất nước vốn được biết tới nhờ các cuộc cách mạng và phong trào Khai sáng: anh lập ra Prix de Flore [một giải thưởng văn học Pháp], tiếp tục duy trì hình ảnh của Hemingway trong Hội hè miên man, bảo vệ những thiết chế như L’Ami Louis…

Shawn Dogimont — Tôi thấy dường như anh đã tự tạo ra một sự nghiệp riêng cho mình. Tôi thấy điều này gợi cảm hứng rất lớn vì nó dựa trên tài năng và những mối quan tâm kinh điển, đam mê văn chương của anh, và tôi băn khoăn không biết một hành trình sự nghiệp như của anh liệu có thể tồn tại ở một nơi nào khác ngoài Paris hay không, nơi mà phê bình phim là mối quan tâm hàng đầu của truyền thông nhưng vẫn có một tình yêu dành cho sách giấy… Anh đã xuất bản chín cuốn tiểu thuyết và đã đạo diễn một bộ phim. Anh chạm tới mọi thứ mà tôi vẫn mơ tưởng là mình sẽ làm.

Frédéric Beigbeder Tôi đồng ý với anh – điều đó là không thể có ở một nơi nào khác bởi ở Paris anh có văn hóa điện ảnh của tác giả (cinéma d’auteur), câu chuyện về một làn sóng mới cơ bản nói rằng: khi anh là một nhà văn, anh có thể là một đạo diễn. Vì François Truffaut là một nhà phê bình phim, vì Sacha Guitry và Marcel Pagnol đạo diễn phim, và Jean Cocteau cũng thế. Vì thế anh không có một bức tường ngăn giữa viết lách và đạo diễn phim. Ở Pháp trước đây nhiều đạo diễn cũng là nhà văn, và giờ vẫn thế. Đó chính là khác biệt chính. Khi tôi nói với Jay McInerney “Tôi sắp đạo diễn một bộ phim” anh ấy đã nói “wow, nhưng trước anh có học trường điện ảnh không?” Dĩ nhiên là không, tôi chỉ là một nhà văn nhưng ở Pháp khi anh là một nhà văn điều đó nghĩa là anh là một người kể chuyện và anh có thể kể câu chuyện của mình với ngòi bút là máy quay (‘la camera stylo’). Ở đây máy quay giống như một ngòi bút còn ở Mỹ thì khác, ở đó có văn hóa [làm phim] xoay quanh Hollywood, kỹ thuật, và nếu anh không biết mọi thứ về phim ảnh thì anh bị coi như ở trình độ vỡ lòng, tôi cho là thế, và có thể đúng là thế, tôi không biết, bởi vì có nhiều bộ phim dở do các nhà văn làm ra trong đó người ta cứ nói liên tục hàng giờ đồng hồ nhưng ‘c’est permis en France’ [ở Pháp được phép thế]. Mọi chuyện bắt đầu là bởi khi mười tám tuổi tôi đã tổ chức party. Trước khi hoạt động nghệ thuật tôi được biết tới nhờ cuộc sống về đêm và tôi đã mời rất nhiều khách tới những buổi dạ hội hóa trang hay những thứ tương tự thế. Vì thế tôi đã trở thành ‘figure de la nuit’ [tay chơi đêm], ‘un noctambule’ [một con cú đêm] và bắt đầu viết bài cho các tạp chí về cuộc sống ban đêm. Những gì tôi viết với một số người dường như cũng vui nhộn bởi vậy tôi đã xuất bản một cuốn tiểu thuyết, rồi được gọi tới làm việc tại một công ty quảng cáo và làm host trên truyền hình. Tôi đã trở thành một nhân vật trước khi tôi kịp làm gì. Tôi như là một Kim Kardashian của thập kỷ 80. [cười] Điều đó không có nghĩa là tôi không có năng lực nhưng đó là một chuỗi những ngẫu nhiên, từ cái này nối sang cái khác, đó là lý do tại sao tôi lại làm nhiều việc.

— Trong tất cả những việc đó thì ‘âme’ [đam mê] của anh nằm ở đâu, công việc nào anh cảm thấy thoải mái nhất?
— Tất cả những việc này đều liên quan tới viết lách. Nếu anh làm một show truyền hình anh bắt đầu với các câu hỏi mà anh muốn hỏi hoặc những gì mà anh muốn nói. Nếu anh làm phim anh phải viết kịch bản. Nếu anh viết sách thì anh viết. Nếu anh viết bài cho một tạp chí thì nó cũng là viết. Bởi thế mọi thứ đều bắt đầu với viết lách ở một thời điểm nào đó, trừ phi là anh tổ chức party. À, thế thì anh vẫn phải viết giấy mời sao cho mọi người muốn tới dự. Tất cả các dạng biểu đạt này tuy khác nhau nhưng đều bắt đầu bằng việc một người ngồi một mình trong phòng gãi đầu nghĩ xem nên nói gì.

— Anh thích tưởng tượng ra các câu chuyện từ ý tưởng vu vơ hơn hay, phần nào đó, pha trộn giữa những trải nghiệm sống và cá tính của chính mình? Điều đó hẳn là vui.
— Đó là một từ khóa đấy. Lúc nào tôi cũng sợ buồn chán. Văn học là hơn thế, nó là một trò chơi, là chơi với hình ảnh của anh, đặt bản thân anh vào một quyển sách cho phép anh nói dối mọi người và nói như Aragon ‘le mentir vrai’ những lời dối trá thành thực hay như Cocteau “je suis un mensonge qui dit toujours la vérité”. Tôi là một sự dối trá luôn nói sự thực và tôi nghĩ tiểu thuyết chính là vậy. Tôi thích đọc tiểu thuyết của Charles Bukowsky hoặc Bret Easton Ellis nơi anh nghĩ có thể đó là tác giả, nhưng anh không chắc lắm, còn họ chơi với ý tưởng này, và chơi với độc giả. Pha trộn giữa tưởng tượng và tiểu sử tự thuật là điều tôi thích hơn cả bởi mọi người đi theo anh, nếu anh làm họ tin, họ sẽ muốn tiếp tục lật trang sách. Nếu tôi viết truyện về một nông dân Ukraina nghèo khổ thì sẽ chẳng ai tin những gì tôi nói. Nếu tôi viết về một gã ở Pháp có một cuộc đời rỗng tuyếch, thì mọi người lại đi theo tôi. [cười]

— Họ sẽ nói: anh ta biết anh ta đang nói gì.
— Chính xác. Nếu tôi kể chuyện một gã bị bắt vì dùng cocaine trên ca-pô xe ở ngoài phố, mọi người sẽ biết nó là thật, nên đó là một khởi đầu tốt.

— Có vấn đề xã hội tương tự giữa Octave Parrango, bản dạng khác của anh trong 99 francs, và Patrick Bateman hay người dẫn chuyện vô danh của Bret Easton Ellis trong Fight Club?
— Ồ chắc chắn có. Khi phim của David Fincher ra rạp tôi đã rất buồn vì tôi đã quá hâm mộ nó. Khi đó tôi đang viết 99 francs và tôi đã nghĩ “khỉ thật, hắn đã làm trước mình.” Khi đó tôi đang cố gắng mô tả sự điên rồ của quảng cáo, sức mạnh của quảng cáo bằng cách sử dụng chính các kỹ thuật quảng cáo. Cuốn sách đó đầy rẫy những dòng tên tác giả và slogan, nên nó giống như dùng chính thứ vũ khí mà quảng cáo dùng để gây ảnh hưởng tới chúng ta để chống lại họ. Dạng biểu đạt/viết lách này rất Mỹ, rất thu hút, rất lôi cuốn, như Elis hay McInerney đã làm trong thập niên 80. Tôi chịu ảnh hưởng của cả hai người đó. Elis nhiều hơn bởi vì anh ta rất cực đoan, McInerney có lẽ lãng mạn và dịu dàng hơn.

— Điều gì đã thu hút anh tới với đời sống và văn chương Bắc Mỹ?
— Là thế này: Tôi yêu văn học Pháp ngữ, vì là tiếng mẹ đẻ nên tôi đọc rất nhiều thơ và tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Người Mỹ, họ kể chuyện. Có lẽ ở thế kỷ 20 chúng ta đã tìm kiếm những ngôn ngữ mới và những trải nghiệm mới, kiểu ‘nouveau roman’ [tiểu thuyết kiểu mới] mà ở đó anh từ chối kể chuyện, và một phần của nó với tôi trở nên quá trừu tượng. Đó là lý do tại sao tôi thích đọc những tiểu thuyết thật sự với các nhân vật và tình huống mô tả thời đại của chúng ta. Có thể là Hemmingway, Fitzgerald, nhưng cũng có thể là Tom Wolf nữa. Tham vọng này, nó là tham vọng của người Pháp ở thế kỷ 19. Ví dụ Zola và Stendhal. Stendhal nói tiểu thuyết là một tấm gương phản chiếu thực tế. Vậy là người Mỹ đang viết tiểu thuyết Pháp thế kỷ 19. Kể cả Bukowski cũng nói ông ấy chịu ảnh hưởng của Zola và Céline. Tôi chịu ảnh hưởng của người Mỹ bởi họ chịu ảnh hưởng của những nhà văn mà tôi yêu. Cả người Nga nữa. Người Nga và người Mỹ đều có tham vọng tổng kết thế giới, nâng niu thế giới. Vì thế anh đọc truyện cũng là anh đang nhìn vào chính mình trong gương.

— Đoạn trích này từ Things: A Story of the Sixties của George Perec làm anh lập tức nghĩ tới điều gì?

“Than ôi, khá thường xuyên, phải nói thực, họ đã thất vọng kinh khủng… Màn ảnh sẽ sáng lên, họ nhẽ ra sẽ cảm thấy một niềm vui của sự thỏa mãn. Nhưng những sắc màu đã mờ dần theo thời gian, bộ phim nhòa đi trên màn hình, những người phụ nữ ở một độ tuổi khác; họ sẽ bỏ ra ngoài; họ sẽ buồn. Đó không phải là bộ phim họ đã từng mơ. Đó không phải là bộ phim hoàn chỉnh mỗi người trong số họ đã từng lưu giữ trong thâm tâm, bộ phim hoàn hảo mà họ đã có thể say sưa xem hết lần này tới lần khác. Bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn làm. Hay thầm lặng hơn, không nghi ngờ gì nữa, bộ phim mà họ nhẽ ra đã muốn sống.”

— Les Choses rất quan trọng bởi nó được xuất bản vào năm mà tôi ra đời, bởi thế đó là một năm rất quan trọng … [cười] Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên mô tả xã hội tiêu dùng và xã hội đó đáng thất vọng với loài người như thế nào. Tôi ngưỡng mộ Perec. Đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông và ông đã nói mọi thứ về những gì đã xảy ra kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ. Ba mươi năm trước ông đã hiểu tại sao sự kết thúc của các xã hội lý tưởng sẽ không làm cho chúng ta hạnh phúc, chúng ta cần có một giấc mơ. Giấc mơ của các nhân vật trong Les Choses là có những thứ vật chất. Đó là lý tưởng của họ: có nội thất, TV, một căn hộ xinh đẹp và chúng sẽ làm họ hạnh phúc. Dĩ nhiên là không phải thế. Đó có thể là cuốn tiểu thuyết đầu tiên nói rằng mua đồ sẽ không làm bạn hạnh phúc và đó là đề tài cho mọi thứ mà tôi đã viết ra. Thế hệ của tôi là một thế hệ mang nhiều thất vọng bởi chúng tôi đã bị lừa dối, ‘on a été escroqué’. Kể từ lúc tôi sinh ra, mọi người đã giải thích cho tôi rằng chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, chủ nghĩa tư bản là tốt đẹp. Chủ nghĩa phát xít thì kinh khủng và các thế hệ cha mẹ và ông bà anh đã phải chịu đựng chiến tranh thì anh nên hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản. Và điều tôi viết là về việc chúng ta không hạnh phúc với chủ nghĩa tư bản như thế nào, nó là không đủ, chúng ta cần một thứ gì đó khác. Tôn giáo thì phức tạp, nó đã qua rồi, chúng ta không thực sự tin nữa.

— Thế nếu không có một giấc mơ?
— Hãy bắt đầu viết sách để giải thích anh buồn như thế nào và có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta say xỉn, dùng ma túy, quan hệ tình dục với người lạ và sau đó cũng chẳng thèm gọi lại, đó là bởi chúng ta không có một giấc mơ. Perec là điểm thay đổi đối với tôi. Khi ông nói chúng ta đã muốn là một phần của một bộ phim, chúng ta đã muốn cuộc đời của chúng ta như một bộ phim, nhưng rồi nó lại là một bộ phim tồi [cười], nó là một bộ phim tẻ nhạt, thì đó chính xác là những gì tôi cảm thấy! Tôi nghĩ đó là một vấn đề thực sự đối với thế hệ của tôi và thế hệ tiếp theo. Giờ họ có YouTube. Họ nghĩ Facebook và YouTube và Google sẽ làm họ hạnh phúc. Không đâu!

— Làm thế nào anh thoát khỏi những cạm bẫy của cuộc sống thành thị hiện đại nơi lối sống bị bán như cuộc sống?
— Tôi không trốn. Tôi ở bên trong thế giới này. Tôi là một phần của nó. Tôi có một tạp chí tên là Lui [Anh ấy] với rất nhiều hình ảnh quảng cáo và hình ảnh đẹp của những người mẫu khỏa thân. Tôi đi chơi, tôi say xỉn, tôi mua đồ, như mọi người khác. Tôi chỉ mô tả điều đó là không đủ để hạnh phúc như thế nào. Và tôi không thực sự biết làm sao để hạnh phúc và đó là điều tôi viết. Anh biết đấy, những người hạnh phúc, tôi không nghĩ là họ viết, hoặc họ viết thì rất buồn tẻ. Tôi bị thu hút bởi sự hào nhoáng, tôi là một phần của hệ thống, nhưng tôi cũng phàn nàn suốt ngày. Tôi là như thế, có lẽ việc đó rất dễ chịu. [cười]

— Tại sao anh viết tiểu thuyết? Anh tìm kiếm điều gì trong việc viết lách của mình?
— Cố gắng viết ‘mon malaise’ [vấn đề của tôi], sự khó chịu, ‘sodade’ [nỗi buồn sâu thẳm] bằng tiếng Bồ Đào Nha. Nó như là tự phân tâm, cuối ngày anh sẽ cảm thấy khá hơn nếu anh viết được một câu kể về việc tại sao anh thấy tệ, có vấn đề gì với anh, có vấn đề gì với cuộc đời này, chỉ một câu mỗi ngày thôi và thế là đủ, nó có ích đấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ ngưng viết khi anh biết mình là ai.

— Anh có đồng ý với Georges Simenon người đã từng nói: Viết lách không phải là một nghề mà là một sự nghiệp của bất hạnh. Tôi không nghĩ là một nghệ sĩ lại có khi nào hạnh phúc.
— Tôi rất tin là ông ấy đúng nhưng tôi hy vọng là ông ấy nhầm. Tôi yêu Simenon bởi ông ấy luôn cố gắng tìm những từ đơn giản. Ông có điều này từ Colette. Những mô tả rất chi tiết. Một sự nghiệp tôi hoàn toàn đồng ý. Khi chín tuổi tôi đã bắt đầu viết những thứ như nhật ký. Anh không quyết định trở thành một nhà văn, nó như bệnh vậy. Một số người thích sống, những người khác thích bất tử hóa nhiều thứ bằng cách viết lại chúng và nó như một khuyết tật trong cuộc sống vậy. Thỉnh thoảng, như trong một nhà hàng chẳng hạn, mọi người xung quanh tôi vui vẻ còn tôi như một gã đã chết thoát ra khỏi cái xác của hắn và đang nhìn vào mọi thứ chứ không phải đang sống.

— Viết có gợi lại ký ức không? Lướt sóng có kích thích việc viết không?
— Chúng có những điểm chung. Anh phải chờ có hứng và đột nhiên có một cơn sóng tới và anh phải lắng nghe xem điều gì xảy ra, và ghi chép lại rất nhanh. Tôi tin vào cảm hứng, tôi nghĩ nó có tồn tại. Có những ngày anh làm tốt và có những ngày như cứt. Viết lách là chờ đợi một cuộc hẹn với chính mình. Đôi khi anh có thể lỡ hẹn. Đôi khi anh viết được vài dòng…

— Tại sao anh viết First Inventory After the Apocalypse? Anh có thực sự quan tâm tới sự biến mất của sách giấy không?
— Ồ chắc chắn là có chứ, tôi rất sợ điều đó. Dĩ nhiên là thế giới đang thay đổi. Cuộc cách mạng kỹ thuật số. Với tôi đọc trên màn hình rất khác. Sách trở thành file số, không còn giống như khi đọc trên giấy nữa. Bởi sự tập trung. Nếu anh đọc Dostoevsky trên giấy anh phải ngồi xuống, mở một chai Armagnac, ngồi trong một cái ghế thoải mái xinh đẹp, tắt điện thoại, tắt TV, mọi thứ, phải có sự yên tĩnh và lắng nghe giọng nói của một ông già người Nga râu rậm đã chết nói chuyện với anh về việc cờ bạc đã hủy hoại cuộc đời ông ta như thế nào. Thật đấy. Đó là một niềm vui mà không có dạng thức nào khác của nghệ thuật có thể mang lại cho anh bởi vì anh sẽ lắng nghe linh hồn của một người thông minh hơn anh rất nhiều. Đó thực sự là một ưu đãi đối với tôi, văn học như một bộ phim mà anh đạo diễn trong đầu vì thế nó hơn tất thảy. Nhưng ngày nay thì việc đó ngày càng khó làm. Con gái tôi có đủ thứ cám dỗ nó, tôi không biết có ngày nào nó sẽ đọc Tội ác và Trừng phạt hay không. Với tôi việc đó cũng khó. Tôi có quá nhiều thứ cần phải tắt đi. Đọc một trang của Proust cũng như đánh vật. Tôi đọc nhiều hơn khi tôi ở cái làng nhỏ bé của mình ở tây nam nước Pháp. Không TV, không ai gọi tôi, tôi cảm thấy đơn độc, mắc kẹt… Đôi khi tôi ghét điều đó và tôi muốn trở lại và tới Montana! [cười]

— Hệ quả đối với xã hội là gì? Bởi mọi người dường như ổn thỏa với nhận thức rằng tâm trí của chúng ta, cách thức chúng ta xử lý thông tin, đang thay đổi. Dường như không ai nghĩ và làm rõ hơn về một thế giới nơi mọi thứ sinh ra đã thế…
— Thật buồn cười là chính cuộc cách mạng số đã khiến tôi nhận ra rằng tôi là một ‘réactionaire’ [kẻ phản động]. Tôi cứ nghĩ mình là một ‘progressiste’ [người tiến bộ], ‘libertaire’, ‘libéral’ [người theo chủ nghĩa tự do], một người của tương lai nhưng… không phải. Tôi là một người từ quá khứ và tôi phát hiện ra điều đó bởi tôi không thích Facebook, tôi không thích bị làm phiền suốt ngày bởi những thứ đồ công nghệ cứ đổ chuông và quấy nhiễu tôi. Tôi thích một nền văn minh cổ, lịch sử văn học, tôi thích có thời gian và quyết định mình sẽ làm gì với thời gian của mình, tôi thích lướt sóng. Tôi thích bất tuân theo cuộc cách mạng này. Tôi không nghĩ là tốt nếu không thể viết ra thứ ngôn ngữ tốt, với đúng chính tả, tôi không nghĩ cuộc sống sẽ tốt hơn nếu không thể đọc những cuốn tiểu thuyết dài.

—  Dạng thức và độ dài của tiểu thuyết có đang lâm nguy không?
— Có. Không ai đang nói thật cả. Và sự thật là: anh không thể đọc Proust ở dạng ebook. Chỉ là anh không thể, điều đó là không thể. Vì thế tiểu thuyết sẽ thay đổi, cách con người viết và đọc cũng thay đổi, và có khi người ta sẽ chẳng đọc nữa. Tôi rất sợ mỗi khi tôi tới nhà một vài người bạn và thấy chẳng có quyển sách nào.

— Kỳ cục thế.
— Rất kỳ cục. Ngành công nghiệp âm nhạc cũng biến mất như những vật dụng. Không album, không CD.

— Tôi nhớ ai đó nói lần duy nhất nhân loại đi lùi về mặt công nghệ là khi chúng ta từ bỏ Concorde.
— [cười]

— Nhưng điều đó không còn đúng nữa. Hỏi Neil Young hay Eddie Vedder và họ sẽ bảo anh là bây giờ âm thanh được ghi âm chả ra làm sao. Nó không được tốt như vài năm trước và tôi có cảm giác phim ảnh cũng thế.
— Tarantino sẽ đồng ý với anh. Ông ấy chỉ ghi hình trên celluloid. Vấn đề là nó làm tôi hãi vì nó cho thấy là chúng ta đang già đi. [cười] ‘On est des anciens combattants.’ [Chúng ta là cựu binh rồi.] Những người thông minh nên phân tích mặt tích cực và tiêu cực của mọi phát minh. Cũng bình thường nếu nói nó có những mặt tốt. Anh có thể nói chuyện với mọi người trên khắp thế giới miễn phí qua Skype. Một vài thứ là tốt hơn. Nhưng ví dụ Twitter, nó thật ngu xuẩn. Nó khiến người ta nói ra những điều mà hôm sau họ phải ân hận, nói gì đó về xã hội chỉ trong vài chữ là quá ngắn. Gọi người khác là bạn trên Facebook. Họ đâu phải bạn của anh, anh đâu có biết họ. Có khi họ còn đang nói dối! Tôi biết năm người đang giả mạo dùng tên và ảnh của tôi. ‘Le progrès scientifique n’est pas toujours bon par essence.’ [Tiến bộ khoa học không phải lúc nào cũng tốt.] Cái này được gọi là cuồng khoa học. Larry Page, Mark Zuckerberg, họ cũng thật kỳ cục, họ tin vào một dạng nhân loại mới. Họ không chỉ nói cảm nhận thì tốt hơn suy nghĩ, họ còn nói những thứ tệ hơn. Họ nói chúng ta sẽ pha trộn máy móc với con người và tạo ra một loài mới trên đầu mang camera và trong người mang chip và chúng ta sẽ sống tới 400 năm… họ nói chính xác như là quân Quốc xã! [cười] Nó là một lý tưởng mới.

— Có vẻ như những kẻ kỳ quặc ở trường học đang thắng thế. Thế những kẻ lười biếng đâu rồi?
— Người tẻ nhạt nhất trong lớp học giờ đây lại giàu nhất thế giới. Đó là một vấn đề lớn. [cười] Với Adolf Hitler cũng thế. Có lẽ đoạn này không nên đưa vào bài phỏng vấn [cười] nhưng thật là thế, Adolf là ‘un raté’ [một kẻ thất bại]. Hắn không có tài năng để làm một họa sĩ và hắn đã rất tức tối trước những người có được các cô gái bởi vì hắn rất ‘complexé’ [phức tạp] và… thật nguy hiểm khi những kẻ kỳ quặc có được quyền lực. [cười] Anh biết vì sao không? Vì họ muốn trả thù. Họ muốn tất cả những người xuất chúng phải nghe lệnh của họ. Ví dụ khi Zuckerberg nói gì đó như là cuộc sống riêng tư không còn tồn tại nữa – đó là George Orwell và tôi không hiểu sao không ai phản ứng gì. Vì thế chúng ta phải kháng cự. Chọn phe cho mình là quan trọng. Anh thích những thứ phi lý, nghệ thuật, bản năng hơn, hay anh thích toán học hơn? Tôi không muốn làm siêu nhân.

— “Bạn không cần phải đốt sách để phá hủy một nền văn hóa. Chỉ cần làm mọi người ngừng đọc chúng.” Ray Bradbury cuối cùng cũng không xa lắm.
— Đúng thế và đó chính xác là những gì đang diễn ra hiện nay. Ông ta lầm về một điểm – người ta đang đốt sách. Chúng không bị đốt nhưng bị ‘pillonés’ [chất đống]. Hàng trăm ngàn cuốn sách sắp bị hủy. Năm nay ở Pháp đã có 78 hiệu sách đóng cửa. Khi anh đóng cửa hiệu sách đúng thực là anh hủy sách. Thế nên Bradbury hãy còn quá lạc quan. [cười]

— Tại sao đọc tiểu thuyết lại quan trọng?
— Bởi vì nó tốn thời gian, nó là việc quyết định dành thời gian của anh để ở một mình với chính mình và với tâm hồn của một thiên tài như Flaubert hay Walt Whitman. Perec lần nữa, một trong những cuốn sách của ông có tên là La Vie Mode d’Emploi. Sách như những cuốn tài liệu hướng dẫn cho cuộc sống. Những điều quan trọng nhất anh không được dạy ở nơi nào khác ngoài những cuốn tiểu thuyết. Yêu như thế nào, ý nghĩa cuộc sống là gì, anh có hạnh phúc không, cha mẹ anh có yêu anh không, anh có biết mùi của con kênh ở Venise không, anh có muốn đi xuyên Mỹ bằng tô tô từ NY tới LA với một gã khùng không? Tất cả những điều này anh học từ sách chứ không phải từ nơi nào khác. Sẽ chẳng có ai dạy anh làm sao để hạnh phúc hay tại sao anh lại buồn.

— Đó là lúc ra đi, thời điểm khi anh không còn làm việc được nhiều, không tiêu dùng, và có lẽ không còn là mối quan tâm lớn nhất của các chính phủ.
— Đó là lý do vì sao Quốc xã đã đốt sách. Họ không muốn mọi người nghĩ hay chỉ trích. Khi anh đọc anh rời khỏi thực tại và anh bắt đầu nghĩ và anh tự do hơn. Nhưng nó cũng vô dụng và đó là điều tôi thích. ‘Le sens de l’inutilité.’ [Cảm giác về sự phù phiếm.] Khi anh thức dậy vào buổi sáng và cả ngày dài anh có các cuộc hẹn, những thứ phải làm và anh hiệu quả từ 8h sáng tới 8h tối… nhưng khi anh lên giường anh lại không ngủ được. Có lý do – anh cần có thời gian vô dụng, để hoạt động với bản năng. Lãng phí thời gian và một việc hết sức quan trọng.

— Anh có một người anh hùng ưa thích nào không?
— Tôi có hai được không? Một người Pháp và một người Mỹ. Họ gần giống nhau và họ được viết ra gần như cùng thời. Meursault, trong L’étranger của Camus và Holden Caufield, trong The Catcher in the Rye. Họ giống nhau. Họ trẻ và lạc lối. Họ thực sự không biết làm thế nào để gia nhập được vào thế giới người lớn. Meursault giết người và không hiểu tại sao còn Holden bỏ trốn khỏi trường và đi vòng quanh Công viên Trung tâm. Họ là những phản anh hùng, và đó là điều tôi thích về họ. Họ bỏ trốn, họ không có mục tiêu thật sự nào và họ không muốn nghe lời ai. Holden lãng phí thời gian của mình, dĩ nhiên cậu ta bị đuổi học, nhưng thay vì về nhà và bị la, cậu ta đi lang thang, nói chuyện với một nữ tu, một cô gái điếm, một tài xế taxi… Cậu ta lang thang. Cậu ta là một hobo [kẻ lang bạt].

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc đăng trên Hobo Magazine (truy cập ngày 13/07/2016). Bản dịch chỉnh sửa lần cuối ngày 17/08/2016.

Một cô giáo đã thay đổi cuộc đời tôi

Tác giả: Bill Gates. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “A Teacher Who Changed My Life” đăng trên blog của tác giả gatesnotes ngày 16/08/2016.

Ba người phụ nữ rất mạnh mẽ – mẹ tôi, bà ngoại tôi, và Melinda – xứng đáng được ghi nhận (hoặc đáng trách) vì đã giúp tôi trở thành người như ngày hôm nay. Nhưng cô Blanche Caffiere, một cô giáo và thủ thư tốt bụng mà tôi chưa bao giờ nhắc tới trước công chúng, cũng có một ảnh hưởng to lớn tới tôi.

Cô Caffiere (tên cô phát âm là “kaff-ee-AIR”) mất năm 2006, không lâu sau ngày sinh nhật lần thứ 100. Trước khi cô qua đời, tôi đã có cơ hội để cảm ơn cô vì đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi, người đã giúp tôi giữ lửa cho lòng ham học vào một thời điểm mà tôi đã có thể dễ dàng mất hứng thú với trường lớp.

Khi tôi gặp cô Caffiere lần đầu, cô đang là người thủ thư nhã nhặn và nhiệt tình tại trường Tiểu học View Ridge thành phố Seattle, còn tôi là một học sinh lớp bốn nhút nhát. Khi đó tôi tìm mọi cách để không ai chú ý tới mình, bởi tôi có một số khiếm khuyết lớn, như viết chữ xấu (ngày nay các chuyên gia gọi đó là chứng khó viết –  dysgraphia) và luôn để bàn bừa bãi một cách buồn cười. Và tôi luôn cố gắng che giấu việc mình thích đọc – một điều với các cô gái thì được coi là hay ho nhưng với các cậu con trai thì không.

Cô Caffiere đã che chở cho tôi và khiến cho việc tôi là một thằng bé bừa bãi và kỳ quặc thích đọc rất nhiều sách trở thành ổn thỏa.

Cô đã lôi tôi ra khỏi vỏ ốc bằng cách chia sẻ với tôi tình yêu của cô dành cho sách. Cô bắt đầu bằng những câu hỏi như, “Em thích đọc gì?” và “Em quan tâm tới điều gì?” Sau đó cô tìm cho tôi rất nhiều sách – những cuốn khó và thách thức hơn nhiều so với những cuốn khoa học giả tưởng của Tom Swift Jr. mà tôi đang đọc khi đó. Ví dụ, cô đưa cho tôi những cuốn tiểu sử lớn mà cô đã đọc. Sau khi tôi đọc chúng, cô dành thời gian thảo luận về chúng với tôi. Cô sẽ hỏi “Em có thích cuốn đó không?” và “Tại sao? Em đã học được gì?” Cô chăm chú lắng nghe những gì tôi nói. Qua những lần nói chuyện về sách như thế tại thư viện và trên lớp học chúng tôi đã trở thành bạn tốt của nhau.

Nhìn chung các giáo viên không muốn tạo thêm gánh nặng cho học sinh của mình bằng cách giao thêm bài đọc bên cạnh những bài tập đã giao. Nhưng tôi đã học được từ cô Caffiere rằng các thầy cô giáo của mình có thể chia sẻ nhiều điều hơn thế. Tôi chỉ cần hỏi họ thôi. Từ đó cho tới hết trung học và sau này, tôi thường hay hỏi các thầy cô giáo của mình về những cuốn sách họ thích, rồi tôi đọc chúng khi rảnh, và cho họ biết tôi nghĩ gì.

Giờ đây nhìn lại, không có gì phải nghi ngờ rằng thời gian tôi có với cô Caffiere đã thắp lên mối quan tâm của tôi với thư viện (cũng là nỗ lực thiện nguyện quy mô lớn đầu tiên của Melinda và tôi) cũng như sự tập trung của tôi trong việc giúp mọi đứa trẻ ở Mỹ được hưởng lợi từ những giáo viên tốt. Tôi thường gắn việc khởi nguồn quỹ của chúng tôi với một bài báo về trẻ em tại các nước nghèo bị chết bởi những bệnh đã bị xóa sổ tại Mỹ từ rất lâu. Nhưng tôi cũng nên ghi nhận ảnh hưởng từ người giáo viên và thủ thư tận tâm đã giúp tôi tìm thấy những điểm mạnh của mình khi tôi chín tuổi. Sức mạnh mà một người tốt có thể tạo ra trong việc góp phần tạo dựng nên cuộc đời của một đứa trẻ thật đáng kinh ngạc.

Trầm cảm có phải là bệnh không? Bản chất của việc trầm cảm trở lại.

Lời người dịch: Trong những bài viết trước đây tôi cố ý gọi trầm cảm là bệnh là vì muốn người đọc nghĩ về trạng thái trầm cảm một cách nghiêm trọng (nghiêm túc) hơn so với suy nghĩ thông thường coi đó chỉ là một trạng thái buồn chán nhất thời (và do đó có thể tự hết). Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra việc gọi (coi) trầm cảm là bệnh theo cách hiểu thông thường có thể làm cho những người muốn “chữa bệnh” – cho mình hoặc cho người khác – hiểu sai về bản chất của trầm cảm và vì thế có thể có cách tiếp cận hay những mong muốn “chữa bệnh” không thực tế. Bởi vậy mà tôi dịch giới thiệu bài viết này.

Tác giả, TS. Stephen Diamond, là một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý tại Los Angeles. Nguyễn Hồng Anh lược dịch từ bài gốc “Is Depression a Disease? The Recurring Nature of Depression” đăng trên Psychology Today ngày 01/09/2008 (truy cập ngày 28/07/2016).

Trầm cảm là gì? Nó có phải bệnh không? Một rối loạn tâm thần? Sự mất cân bằng sinh hóa? Một sự rối loạn chức năng của não bộ? Một hội chứng tâm lý? Một khủng hoảng hiện sinh hoặc tinh thần? Ở đây tôi muốn thảo luận về trầm cảm với tư cách một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý đã thực hành trị liệu tâm lý được hơn ba thập kỷ.

Theo tôi, câu hỏi quan trọng liệu trầm cảm (đơn cực hoặc lưỡng cực) có phải là bệnh không xuất phát từ việc áp dụng mô hình y khoa cho lý thuyết và thực hành tâm thần học và tâm lý học có phần cần ngờ vực. “Mô hình y khoa” (medical model) là gì? Mô hình y khoa là một hệ thuyết nền tảng của thực hành y học lâm sàng: Các triệu chứng được xem như biểu hiện của các tiến trình sinh lý bệnh học ([vẫn gọi đơn giản là] bệnh) có thể được chẩn đoán và điều trị. Mục đích của điều trị y khoa là loại bỏ, ngăn chặn hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Để làm giảm đau đớn và kéo dài sự sống nhiều nhất có thể. Kể từ thời Hippocrates, các thầy thuốc đã trung thành với hệ thuyết và cách thực hành này.

Mô hình y khoa là một cách nhìn đặc thù về đau đớn, hủy hoại, rối loạn chức năng và, rốt cục là, cái chết. Nó là một hệ thuyết, một lăng kính giúp các thầy thuốc và những người khác hiểu về các hiện tượng bất thường như bệnh bạch cầu (leukemia), tiểu đường, và giờ, trầm cảm và nhiều rối loạn tâm thần khác. Nhưng dù mô hình y khoa đã có những đóng góp lớn lao trong việc chẩn đoán và trị bệnh, việc áp dụng nó cho các trải nghiệm đặc thù như trầm cảm, chứng loạn thần, và lo âu là có vấn đề.

Không thể phủ nhận là những người trầm cảm nặng là người ốm. Trầm cảm có thể gây suy nhược và trong một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các triệu chứng thực thể như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau kinh niên, tiêu chảy, mất ngủ, v.v. thường xảy ra với trầm cảm chính yếu (major depression). Sử dụng thuật ngữ y khoa thì “điều trị” là bắt buộc. Câu hỏi thực sự là nên điều trị dạng nào? Câu trả lời một phần tùy thuộc vào cách hiểu về nguyên nhân gây trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần chính yếu khác như rối loạn lưỡng cực và loạn thần. Có nhiều lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây trầm cảm, nhưng không lý thuyết nào đã được chứng minh hoàn toàn thuyết phục. Các lý thuyết nhân quả này đưa ra các giải thích về sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra khả năng có ít nhất một vài yếu tố bẩm sinh về gien (genetic predisposition) đối với trầm cảm đơn cực và lưỡng cực, cũng như các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc. Nhưng yếu tố bẩm sinh sinh học không phải là quan hệ nhân quả. Một số tác nhân khác (đôi khi không được nhận dạng) như: mất mát, stress, sự tách biệt/cách ly, chấn thương/thương tổn (trauma), sự vô nghĩa, sự thất vọng, lạm dụng chất kích thích, sự giận dữ bị kìm nén lâu ngày có thể, và thường, góp phần quan trọng, nếu không muốn nói góp phần chính, dẫn tới những rối loạn nói trên.

Nhưng dù nguyên nhân căn bản của trầm cảm là gì, hiện các nhà lâm sàng vẫn chưa đưa ra được cho người trầm cảm các phương pháp điều trị hiệu quả và quyết liệt nhất. Áp dụng dược lý tâm thần (psychopharmacology) trong điều trị trầm cảm nặng, dù có những hạn chế, đã có tính đột phá và cứu mạng người trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm và thuốc điều hòa khí sắc làm được những điều mà trị liệu tâm lý không làm được: chúng làm giảm tương đối nhanh các triệu chứng gây đau đớn và suy nhược của trầm cảm và do đó đưa những biến động khí sắc nguy hiểm đến trạng thái ổn định. Điều này có chứng minh rằng trầm cảm căn bản là một bệnh lý sinh học? Không hề. Nó chỉ cho thấy rằng chúng ta đã may mắn tìm ra phương tiện sinh hóa để ứng phó với và kiểm soát những triệu chứng nguy cấp nhất của trầm cảm: rối loạn ăn và ngủ, mất hứng thú, thờ ơ, tâm trạng trầm uất hoặc hưng cảm, lo âu, xu hướng tự sát, v.v. Nhưng như TS Kramer khẳng định trong bài viết gần đây của ông, kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm được giảm nhẹ nhờ dùng thuốc, tình trạng trầm cảm bên dưới hiển nhiên vẫn còn, nên kể cả những người đang dùng thuốc vẫn có nguy cơ rơi vào các đợt mới trong tương lai. Hơn một nửa số người trải qua đợt trầm cảm lần thứ nhất có xu hướng tiếp tục trải qua các đợt trầm cảm mới ở một thời điểm nào đó [trong tương lai]. Xác suất tái phát tăng vọt (90%) nếu đã trải qua ba lần trầm cảm. Nguy cơ này nghĩa là gì? Nó dường như gợi ý rằng điều trị sinh hóa không giải quyết được vấn đề. Tính dễ tổn thương kéo dài tiềm tàng này có nghĩa là gì? Nó là cốt lõi trầm cảm, là trái tim của con rắn đa đầu Hydra.

Một số rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm, có thể được ví với Hydra huyền thoại: một con quái vật lớn trong thần thoại với chín cái đầu rắn, mỗi đầu đều tiết ra nọc độc chết người. Nhiều người phải chịu đựng vô số triệu chứng – như lo âu, trầm uất, đau kinh niên, bứt rứt, mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, các đợt hoảng loạn, v.v. – mà sau khi đã bị chế ngự bằng thuốc, lại quay trở lại còn khủng khiếp hơn. Người anh hùng Hercules trong thần thoại Hy Lạp đã phải đánh nhau với Hydra hủy diệt. Lừa nó ra khỏi hang, chàng lần lượt chặt đứt những cái đầu rắn của nó. Nhưng chẳng mấy chốc, mỗi chỗ bị chặt lại mọc ra hai cái đầu mới. Hơn nữa, Hydra gớm ghiếc còn có một cái đầu bất tử không thể tiêu diệt được. Hercules cuối cùng đã đánh bại Hydra hủy diệt như thế nào? Trước tiên, Hercules dùng lửa đốt những chỗ bị chặt để ngăn những cái đầu mới mọc ra. Sau đó, chàng chôn cái đầu bất tử của Hydra dưới một tảng đá lớn để vô hiệu hóa nó. Nhưng bởi vì cái đầu này là bất tử, Hydra không bao giờ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Nó chỉ bị làm yếu đi và bắt quy phục.

Trầm cảm có chút giống với Hydra. Bạn có thể thử loại bỏ các triệu chứng bằng thuốc (thậm chí kể cả trị liệu bằng sốc điện trong trường hợp không đáp ứng thuốc), nhưng chúng vẫn có xu hướng trở lại. Trầm cảm có thể bị đánh bại không? Không thể trừ phi tìm tới trái tim của Hydra. Gốc rễ của trầm cảm, theo quan sát lâm sàng của cá nhân tôi, cơ bản thường mang tính tâm lý hơn là sinh hóa – mặc dù hai khía cạnh này rõ ràng có ảnh hưởng lẫn nhau. Thường ở trung tâm của trầm cảm là những căm ghét, tức tối, giận dữ, oán hận bị đè nén. Bị bỏ rơi. Bị phản bội. Nản lòng. Thương tiếc khôn nguôi. Sự vô nghĩa. Sự tầm thường. Mất niềm tin. Nếu không can thiệp quyết liệt vào trung tâm cảm xúc, tinh thần và tâm lý này của trầm cảm, thì không thể giải quyết triệt để được. Chỉ có thể nén lại tạm thời. Đó là lý do tại sao điều trị trầm cảm bằng thuốc, dù vô giá, không thể thay thế được trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý tâm thần. Tấn công kép liên tục vào Hydra-trầm cảm sẽ ngăn chặn hoặc giảm thiểu những vấn đề chính yếu, và có thể kiềm tỏa được Hydra. Trong khi nhiều người có thể luôn mang những yếu tố sinh học gien và/hoặc tâm lý có khả năng dẫn tới một giai đoạn trầm cảm mới trong tương lai, điều trị bằng liệu pháp tâm lý như nói trên có thể giúp họ kiềm tỏa được những nguy cơ, chính là đánh bại được Hydra.

Trầm cảm có thể chữa được không? Nó có nên được điều trị như các bệnh khác không? Tôi nghĩ cái đó còn tùy. Một số dạng trầm cảm nhẹ tới trung bình và thậm chí nặng rõ ràng là phản ứng mang tính hoàn cảnh đối với stress, thương tổn, mất mát và các sự việc khác xảy ra trong đời. Những cái được gọi là rối loạn hoặc thậm chí các đợt trầm cảm chính yếu có thể được phục hồi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp được điều trị đầy đủ, đặc biệt là trị liệu tâm lý. Trầm cảm nặng và mãn tính như rối loạn khí sắc, rối loạn trầm cảm chính yếu tái phát, rối loạn khí sắc chu kỳ và rối loạn lưỡng cực đều giống Hydra, đòi hỏi phải có điều trị tích cực qua nhiều giai đoạn kéo dài. Nhưng kể cả trong những điều kiện dường như tương đối khó can thiệp, tiếp cận tới trái tim của Hydra với trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý có thể làm giảm cả mức độ và tần suất của các đợt trầm cảm và/hoặc hưng cảm. Bằng cách cải thiện điểm khởi phát giữa các đợt bằng trị liệu tâm lý, mức độ và tần suất của các đợt tiếp sau có thể giảm xuống. Trong khi việc chỉ dùng thuốc để đẩy lui Hydra có vẻ như sẽ khiến tăng dần liều dùng và tăng số loại thuốc cần dùng để kiềm chế nó, trị liệu tâm lý theo cách tôi gợi ý trong cuốn sách của mình có thể làm giảm sự phụ thuộc vào việc dùng thuốc, bởi ý nghĩa của trầm cảm và các nguồn gốc tâm lý của nó được trị liệu tận gốc.

Do đó, tôi đề xuất rằng trầm cảm không phải là một bệnh nên được điều trị theo cách như với tiểu đường chẳng hạn (mà bản thân bệnh này trong nhiều trường hợp đã được biết là có liên quan tới stress). Trầm cảm là một hội chứng sinh học–tâm lý–xã hội đòi hỏi nhiều hơn là chỉ can thiệp bằng thuốc và đang cần phải có những phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả hơn nữa.

Tôi nhìn mưa

Một lúc nào đó giữa chừng câu chuyện, tôi đã nhìn rõ mưa. Nghĩa là khi ấy mưa xuống mau hơn, như tạo thành một lớp màn mỏng hẳn hoi, chứ không phải chỉ lắc rắc vài hạt như trước đó. Mưa như thế là đủ để người ta phải đứng dậy kiếm một chỗ nào khác có mái che, nhưng tôi cứ ngây người ra nhìn chăm chăm vào màn mưa mỏng ấy, như thể chưa bao giờ được nhìn thấy một thứ gì như thế. Vả lại, tôi đang mặc chiếc áo khoác làm bằng vải không thấm nước nên cũng không cảm thấy khó chịu. Tôi nhìn sang người đang nói chuyện với mình. Anh ta đang mặc một chiếc áo khoác mỏng màu ghi sáng. Chiếc áo ấy làm bằng một thứ vải sẽ ướt nước mưa, nhưng anh ta cũng không có vẻ gì là muốn đứng dậy rời đi chỗ khác. Lúc ấy anh ta vẫn tiếp tục nói hay cả hai chúng tôi cùng bất chợt im lặng, tôi cũng không còn nhớ, bởi giờ đây trong ký ức của tôi chỉ có mỗi tôi đang ngồi ngắm cái màn mưa ấy.

***

Tôi ngồi trong góc một quán ăn nhỏ ở cuối phố, đọc sách, và đợi anh. Như thường lệ, anh tới muộn so với giờ hẹn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy phiền lòng vì chuyện ấy. Mấy đứa bạn gái của tôi mà biết được, thể nào chúng nó cũng sẽ rất không hài lòng chuyện tôi không hề thấy phiền lòng khi chưa một lần nào anh tới đúng giờ trong các cuộc hẹn với tôi. Anh không bao giờ kiếm cớ biện bạch, dù luôn nói xin lỗi vì đã đến muộn. Tôi cũng chẳng bao giờ căn vặn, chẳng bao giờ trách cứ nửa lời. Tôi thậm chí còn chẳng nhắn tin hay gọi điện nói rằng tôi đã tới. Tôi vẫn luôn đến đúng giờ, mang theo một quyển sách để đọc trong lúc ngồi chờ. Không bao giờ thấy sốt ruột. Không bao giờ thấy lo lắng. Như thể việc anh chắc chắn sẽ tới và chắc chắn sẽ tới muộn là những điều hiển nhiên nhất trên đời.

Anh tới, muộn, và xin lỗi vì đã tới muộn. Trời mưa nhưng anh không nghĩ là có thể ướt áo nhiều đến thế. Tóc anh ướt. Bàn tay anh lạnh. Mấy món chúng tôi định gọi thì đã hết, nhưng mấy món mà cuối cùng chúng tôi chọn cũng không tồi. Anh bảo quán ăn này thường quá, lần sau anh sẽ chọn một quán khác. Anh hỏi lần trước chúng mình gặp nhau là khi nào nhỉ, là tuần trước à, sao cứ như vừa mới hôm qua, thời gian trôi đi như một cái chớp mắt.

Thời gian trôi đi như một cái chớp mắt.

***

Tôi quyết định sẽ ăn tối ở ngoài những ngày làm việc trong tuần. Nghĩa là năm ngày một tuần. Không phải là tôi ngại nấu nướng, nhưng tôi muốn giảm bớt thời gian một mình đối diện với bốn bức tường mỗi tối. Tôi đã ở thành phố này được sáu tháng, công việc mới đã quen, nhưng chẳng có bạn bè hay họ hàng thân thích. Tôi cũng chủ động sống thu mình lại, không tham gia hội nhóm nào, cũng từ chối hầu hết các buổi tụ tập mà một số đồng nghiệp đã có nhã ý rủ rê. Tôi cũng chẳng thiết đi xem phim hay tới các buổi triển lãm. Hàng ngày đi làm về tôi chỉ quanh quẩn ở nhà, đọc sách, chăm mấy chậu cây. Thỉnh thoảng vào cuối tuần tôi xỏ giày đi bộ một mình dọc theo con sông vắt ngang thành phố.

Tôi quyết định sẽ ăn tối ở ngoài cũng bởi tôi đã phát hiện ra một quán ăn trên đường đi làm về mà tôi rất ưng ý. Đồ ăn ngon. Chủ quán và nhân viên thân thiện nhưng không quá tọc mạch. Không quá đông cũng không quá vắng. Không quá rộng cũng không quá hẹp. Đi làm về tôi rẽ thẳng vào đó, kiếm một chỗ sát cửa sổ ở trên tầng hai, nhâm nhi một cốc trà trong khi lướt web trên điện thoại, rồi mới gọi cho mình bữa tối.

Tôi không đợi ai ở đó.

***

Thời gian vẫn trôi đi như một cái chớp mắt. Tôi vẫn ở thành phố đó, vẫn làm công việc đó, và vẫn ngày ngày ăn tối một mình ở cái quán ăn đó. Tính ra đã gần sáu năm. Số bạn bè bằng đúng nửa con số ấy. Duy nhất một cuộc hẹn hò. Chính là cái cuộc hẹn mà tôi đã ngây người ra ngắm nhìn màn mưa bất chợt buông xuống. Sau buổi hẹn đó, tôi không gặp lại chàng trai mặc áo màu ghi sáng ấy nữa nhưng tôi lại nhớ rất rõ cái màn mưa màu xám đã phủ xuống những gì trước mắt tôi khi ấy.

Màn mưa ấy đã giúp tôi thoát khỏi thực tại trong chốc lát hay chính cái chốc lát ấy mới là thực tại của cuộc sống mà tôi sống, tôi cũng không biết nữa. Nhưng kể từ ngày đó, tôi rất hay nhìn mưa. Tôi nhìn mưa từ cửa sổ nhà mình, từ cửa sổ văn phòng, từ cửa sổ xe buýt, từ cửa sổ của cái quán ăn quen thuộc. Tôi nhìn mưa buổi sáng, mưa buổi trưa, mưa buổi chiều, và cả mưa khi đêm tối. Tôi nhìn mưa mùa xuân, mưa mùa hè, mưa mùa thu, và mưa mùa đông. Tôi nhìn mưa bóng mây, mưa dầm dề, và mưa với những cơn gió lốc.

Thoảng cũng có lúc tôi nghĩ giá như mình có thể ngồi trong mưa mà đợi ai đó, nhưng phần lớn thời gian tôi chẳng nghĩ gì những khi tôi nhìn mưa.

Truyện ngắn © 2016 Nguyễn Hồng Anh

Khi trầm cảm tôi đã làm gì?

Năm ngoái, tôi loay hoay viết ra vài điều chia sẻ với những người trầm cảm (ở đây). Cũng muốn, và trên thực tế là đã, viết ra vài lời khuyên, nhưng rồi càng viết, càng đọc thêm thì lại càng thấy sự phức tạp của bệnh, các phương pháp điều trị, cũng như trải nghiệm của mọi người (cả người trầm cảm lẫn các nhà tâm lý trị liệu), rốt cục là cảm thấy mình không nên viết thêm các lời khuyên. Thay vào đó, có thể thỉnh thoảng dịch hoặc chia sẻ thêm những bài viết mà tôi cảm thấy là có thể hữu ích cho những người trầm cảm.

Tuy thế, tôi vẫn muốn tổng kết lại ở đây những gì tôi đã làm khi bị trầm cảm lần đầu cách đây mấy năm, như là mô tả lại một trải nghiệm cá nhân. Khi ấy tôi như kiểu có bệnh thì vái tứ phương, thử đủ mọi cách. Chẳng ai biết được là ngày ấy những gì tôi đã làm có gì đúng, có gì sai, và đã góp phần giúp tôi vượt qua được đợt trầm cảm ấy (kéo dài khoảng 8 tháng) ở mức độ nào, nếu như là những việc làm ấy là hữu ích. Bởi vậy, bài viết này chỉ là để những người quan tâm tới bệnh trầm cảm đọc cho biết thôi.

Vì những gì tôi sắp liệt kê ra đây là khá nhiều, tôi hy vọng những người trầm cảm đang đọc bài này không vì thế mà cảm thấy áp lực hay trầm uất thêm trong nỗ lực thoát khỏi trầm cảm của mình, còn những người có người thân, bạn bè bị trầm cảm cũng đừng vì bài viết này mà thúc ép người thân, bạn bè mình thử quá nhiều cách khác nhau. Tôi đã từng viết trên blog này rồi, con đường thoát khỏi trầm cảm của mỗi người là rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Phải bình tĩnh, phải kiên trì.

Dưới đây là những gì tôi đã làm, hầu như là làm cùng một lúc, đan xen, không rõ ràng việc gì trước việc gì sau:

  1. Tìm hiểu về bệnh

Tôi chẳng nhớ là ngày ấy vì sao và từ bao giờ tôi bắt đầu nghĩ là mình bị trầm cảm nữa, nhưng chắc chắn là tôi đã bắt đầu tìm hiểu về bệnh này từ trước khi đi khám (và chính thức được chẩn đoán là bị trầm cảm nhẹ), và vẫn liên tục đọc thêm sau đó. Ngày ấy tôi đã đọc rất nhiều trang web tiếng Anh viết về bệnh này – có thông tin trùng lặp, có thông tin khác nhau, tôi cũng chẳng nhớ nữa, nhưng tôi cứ đọc, đọc, đọc, chẳng biết là có ích gì không, nhưng dần dần tôi cảm thấy hiểu về bệnh của mình rõ hơn, ít nhất cũng nắm được gì cơ bản nhất, ít nhiều cũng bớt bối rối hơn.

(Tìm đọc thông tin về bệnh quan trọng là đọc những nguồn đáng tin cậy. Nếu bạn đọc được tiếng Anh thì rất dễ dàng tìm tới những nguồn đáng tin cậy từ các chuyên gia, hiệp hội chuyên ngành. Các nguồn tiếng Việt hiện ra trên google chủ yếu là báo chí và các nguồn không chuyên khác. Nếu bạn không ngại sách chuyên ngành (quả thực không quá khó đọc đâu), thì ở đây có bản dịch tiếng Việt của mấy chương một cuốn sách chuyên ngành.)

2. Đi khám

Ngày ấy tôi khám ở trung tâm y tế trong trường mà tôi đang học, rất tiện và cũng đáng tin cậy. Theo các tài liệu chuyên môn thì trầm uất kéo dài liên tục hai tuần là được coi là trầm cảm rồi, nhưng có lẽ hầu như ai cũng đi khám chậm hơn, thường là khi tình trạng ấy kéo dài ít nhất vài tháng. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tầm sau 2 tháng cảm thấy liên tục bị trầm uất, ngày càng không kiểm soát được tâm trạng của mình là tôi đã đi khám, so với nhiều người khác vẫn còn là sớm. Tất nhiên con số này chỉ là tương đối, vì gần như không bao giờ xác định được rõ ràng một cơn (đợt) trầm cảm chính xác là bắt đầu từ khi nào.

Tôi cho là bệnh nào cũng vậy thôi, đi khám và can thiệp điều trị càng sớm càng tốt, nếu có thể. Tuy thế, việc đi khám đối với người trầm cảm sẽ trở nên khó khăn hơn khi bệnh này trở lại, chứ không phải là khi nó tới lần đầu tiên. Nếu không muốn đi khám lại thì chắc chỉ có cách học cách sống chung với lũ.

3. Điều trị bằng nói chuyện (Talk therapy)

Sau khi đi khám và có chẩn đoán chính thức của bác sĩ, tôi được cho biết là tôi có thể điều trị hoặc bằng thuốc hoặc bằng nói chuyện với chuyên viên tâm lý hoặc kết hợp cả hai, và tôi cũng được hỏi là mình muốn lựa chọn điều trị như thế nào. Tôi đã chọn điều trị bằng nói chuyện trước và xem kết quả thế nào rồi sẽ quyết định là có dùng thuốc hay không. Sau đó tôi chỉ điều trị bằng nói chuyện mà không dùng thuốc.

Người điều trị cho tôi là một tiến sĩ tâm lý học có nhiều năm kinh nghiệm, là nam giới, và là người gốc Á. Trước khi giới thiệu tôi tới điều trị với vị therapist này, nhân viên y tế có hỏi tôi là tôi muốn làm việc với therapist nam hay nữ, và tôi đã trả lời là tôi không quá quan trọng chuyện ấy. Sau này thì tôi được biết là họ thường ghép cho người trầm cảm làm việc với những therapist có những tương đồng nhất định, nếu không phải là đồng giới thì cũng gần gũi về dân tộc (ethnicity), đại loại thế.

Lịch gặp therapist ban đầu được đặt là hai tuần một lần, sau thì giãn ra. Dù không được báo trước là mỗi buổi nói chuyện sẽ dài bao lâu, nhưng tôi để ý thấy lần nào cũng chừng 45’. Tôi cảm thấy thoải mái với thời lượng ấy, thường một buổi nói chuyện đến chừng ấy là đã cảm thấy đủ. Dĩ nhiên therapist thì luôn khéo léo kết thúc buổi gặp khi gần hết giờ, nhắc lại vài điểm quan trọng đã nói hay những gì sắp tới tôi nên thử làm hoặc tiếp tục làm, rồi đặt lịch cho lần gặp sau.

Gặp therapist nói chuyện gì? Bao giờ therapist cũng hỏi cụ thể tôi ăn ngủ thế nào, có tập thể dục không, các sinh hoạt bình thường ra làm sao, có tự gây thương tích cho mình không, có ý nghĩ hay hành vi tự tử không, rồi gợi ý tôi có thể thay đổi hay làm thêm gì đó. Dĩ nhiên là nói chuyện thoải mái chứ không như hỏi cung, ví dụ hỏi tôi thích ăn gì, thích nấu nướng không, thích nhà hàng nào không… Khuyên bảo nếu có thì cũng nhẹ nhàng chứ không phải là phải làm cái này đi, phải làm cái kia đi.

Ban đầu tôi cũng không để ý đến các câu hỏi kiểu này, nhưng có một lần trước khi đi gặp therapist, tôi tự dưng nghĩ thể nào ông này cũng lại hỏi gần đây ăn gì, ngủ thế nào, có tập thể dục không. Lúc ấy tôi bắt đầu nghĩ ngợi là sẽ trả lời ổng như thế nào, và nhận ra rằng cứ những buổi gặp đều đặn như vậy thực ra giúp theo dõi và điều chỉnh nếp sống của mình rất tốt. Sau đó, tôi tự hình thành thói quen để ý tới nếp ăn nếp ngủ nếp sinh hoạt của mình thường xuyên, có gì bất thường một chút là tôi tìm cách điều chỉnh ngay. Sau này đọc thêm tôi mới biết đó thật ra là một cách hữu hiệu để giúp mình tránh từ trạng thái stress rơi vào trạng thái trầm cảm (coi thêm bài “sống chung với lũ” tôi đã dẫn link ở trên). Mà phòng bệnh thì tốt hơn chữa bệnh, một khi đã để mình sụt vào cái hố trầm cảm thì bò lên rất khó và mệt mỏi, thà rằng tập cách biết khi nào mình ngấp nghé miệng hố để ráng hết sức chuồn trước còn hơn :D.

Ngoài chuyện ăn ngủ nghỉ thể dục thể thao đó ra thì dĩ nhiên nói về những gì làm mình bức xúc, mệt mỏi, chán nản, bất lực, tuyệt vọng, vân vân. Nói chung therapist rất khéo, chẳng cố gắng ép tôi nói ra cái gì cả, cứ để tôi nói tự do tùy ý, rồi hỏi và trao đổi thêm về những điều ấy, không có kiểu cố gắng đi tìm nguyên nhân sâu xa là gì, còn vấn đề gì mà tôi đang giấu nữa không. Cũng chẳng bao giờ nói gì phức tạp hay giải thích lằng nhằng về các lý thuyết diễn giải của tâm lý học mà sau này thỉnh thoảng tôi lại đọc được ở đâu đó. Dĩ nhiên đằng sau những lời “nói chuyện, chia sẻ” tưởng như chuyện phiếm của therapist là một nền tảng học vấn và kinh nghiệm vững chắc.

Còn một vấn đề nữa cũng thỉnh thoảng được nói tới là về những việc đang tồn đọng mà tôi cần làm mà không làm nổi, cơ bản là vì chán nản nên cứ trốn tránh và trì hoãn mãi, và càng trì hoãn thì càng căng thẳng. Đại để là therapist hỏi cụ thể về hiện trạng tồn đọng, rồi gợi ý tôi chia nhỏ công việc ra để làm từng bước một. Sau thì cũng có những việc mình hoàn thành được, có những việc tôi bỏ chả làm nữa.

Nói chung tôi thấy điều trị bằng nói chuyện ấy giống mưa dầm thấm lâu, tôi và một vài bạn tôi biết thỉnh thoảng có cảm thấy sốt ruột và đôi khi là cảm thấy vô ích. Nhưng ngẫm lại tôi thấy nó hữu ích cho cả sau này, thời gian hậu trầm cảm, chứ không chỉ khi đang trong cơn (đợt) trầm cảm.

Đi nói chuyện được một thời gian, một lần therapist hỏi tôi có muốn tham gia điều trị theo nhóm (group therapy) không. Nghĩa là một nhóm những người trầm cảm gặp nhau chia sẻ, nói chuyện với sự hướng dẫn của một therapist. Nhưng tôi từ chối. Therapist cũng không nói gì thêm. Tôi cũng quên không hỏi nên không rõ là vì sao ổng lại gợi ý vậy, là do tình trạng mình xấu đi hay làm sao.

Đợt điều trị ấy kéo dài tầm nửa năm, rồi kết thúc là do tôi về nước. Trước khi tôi về, therapist có dặn là sau này có rảnh thì viết thư cho ổng biết sức khỏe của mình như nào. Thật ra sau đó thì cuộc sống của tôi cũng ổn định lại ngay, nhưng phải hơn một năm sau đó tôi mới viết thư cho therapist hay, để cho chắc là mình đã thật sự ổn chứ không phải chỉ là ổn tạm thời.

4. Nói chuyện với nhiều người

Song song với việc gặp therapist theo định kỳ thì tôi thường xuyên nói chuyện với bạn bè bằng đủ mọi hình thức: gặp mặt, điện thoại, video chat, chat chit, email. Nhiều khi cũng cảm thấy chán chính mình vì cảm giác có mỗi câu chuyện bế tắc mà cứ nhắc đi nhắc lại với bạn bè, mà nói xong thì bế tắc cơ bản vẫn hoàn bế tắc, chán nản vẫn hoàn chán nản. Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ đó là việc nên làm, và là có ích, dù ích lợi có thể khi ấy mình không nhìn thấy được, không cảm nhận được. Và biết đâu trong số bạn bè mình lại có những người có kinh nghiệm hay hiểu biết gì hữu ích cho mình.

Khi tôi nói chuyện với bạn bè về việc mình bị trầm cảm, một người bạn chia sẻ là bạn ấy cũng đang điều trị trầm cảm, mà còn bắt đầu trước tôi. Thế là sau đó chúng tôi hay gặp nhau nói chuyện về tiến trình trị liệu, cập nhật về những nỗ lực của người kia, ví dụ chuyện chạy bộ. Kể ra như thế đỡ hơn là phải cố gắng điều trị một mình.

Việc nói chuyện này dĩ nhiên còn tùy vào cá tính từng người. Tôi làm việc ấy một cách tự nhiên vì bản tính tôi vốn là người hướng ngoại, quảng giao, lúc nào và đi đâu cũng đông bạn lắm bè. Mà nói đến bạn bè nghĩa là những người tôi có thể nói chuyện thoải mái, không phải e dè gì, thật tình trong cuộc sống tôi rất ít các mối quan hệ xã giao.

5. Viết lách

Nói chuyện với bao người như vậy rồi mà ngày ấy tôi vẫn viết lách rất nhiều, nếu không cái đầu tôi nó nổ tung ra mất. (Cách này thích hợp với những người sống nội tâm hơn chăng?) Tôi nhớ có một lần nói chuyện với therapist, ổng nói tôi nghĩ nhiều quá nên đâm ra khó ngủ, nên phải cố gắng “slow your mind down”. Một lần tôi bảo therapist là khi ấy tôi viết nhật ký rất nhiều, ổng nói là như thế là rất tốt, nên có cách để cho những thứ trong đầu mình đi ra. Vậy nên tôi đoán là việc nói chuyện nhiều và viết lách nhiều của tôi ngày ấy là tốt.

Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có các cách khác nhau, không nhất thiết là nói và viết, mà, theo như tôi biết, có thể là vẽ, gấp giấy, viết nhạc, chơi nhạc, dịch, vân vân. Nhưng có lẽ là cứ phải có một hoạt động mang tính sáng tác, chế tạo ra một cái gì đó.

6. Đọc sách

Đầu óc rối ren như vậy nhưng ngày ấy tôi lại lao vào đọc sách, thật chẳng biết lợi hay hại. Chỉ biết là cảm thấy những thứ trong đầu mình diễn đạt ra đã khó, tìm câu trả lời cho những băn khoăn của mình còn khó hơn. Tại sao thế này, tại sao thế nọ. Không trả lời được thì tôi lại càng không yên, vì câu hỏi này lại chồng chất lên câu hỏi nọ. Bởi thế, ngày ấy đang bức bối vì vấn đề gì là tôi kiếm sách đọc, từ sách tâm lý học cho tới triết học cho tới sách tự-cứu (self-help). Tôi chỉ đơn giản là không thể gác chúng sang một bên “mà vui sống”, hay là quên chúng đi, tôi nhất định muốn hiểu tận gốc rễ của những vấn đề ngày ấy đang làm tôi phát khùng lên.

Dĩ nhiên là việc đọc sách ngày ấy có giúp tôi “hiểu tận gốc rễ” mọi thứ không thì tôi không biết, nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy nó cũng hữu ích, làm tôi suy nghĩ thông thoáng hơn, nhìn cuộc đời rộng rãi hơn, và biết đâu đã góp phần giúp tôi “slow my mind down”.

7. Tập thiền

Ngày ấy tôi chỉ tập thiền đâu có 1-2 tuần, theo hướng dẫn từ xa của một người bạn. Sau này tôi đọc được trong một cuốn sách là tập thiền để điều trị trầm cảm là tùy xem có hợp hay không – nó là một việc kén người, có người thích, có người không. Tôi chắc là không hợp với việc ấy. Ngày ấy tôi tập là vì có bệnh muốn vái tứ phương, và một người bạn của tôi giải thích rằng thiền tập là rất tốt cho cuộc sống hiện nay, nhất là với những người làm việc trí óc, vì hầu như cuộc sống xung quanh lúc nào cũng rối loạn, dễ gây ra nhiều điều ức chế.

Tóm lại, với trải nghiệm ít ỏi của tôi ngày ấy thì tôi thấy thiền có thể giúp mình thanh lọc đầu óc. Vì tập thiền là tập hướng tới trạng thái không nghĩ gì cả. Ngày ấy tôi tập theo hướng dẫn của bạn là nhìn vào một đồ vật, tập trung mọi ý nghĩ của mình vào vật đó và không nghĩ tới điều gì khác nữa. Bản chất là lấy vật đó để thu hút sự chú ý của trí não mình khỏi những suy nghĩ rối loạn của mình. Bởi thế nên nhiều người tập thiền bằng việc chú tâm vào nhịp thở của mình, bản chất chính là để tâm trí bận dõi theo hơi thở không thể nghĩ lung tung được.

Nói thì đơn giản vậy mà làm khó muốn chết luôn. Đầu óc ta hóa ra cứ luôn sao nhãng theo các ý nghĩ chứ không chịu không nghĩ gì cả. Nhưng có tập thiền mới biết trong đầu mình sao mà lắm ý nghĩ vậy. Cứ tập như vậy – cố gắng không nghĩ gì, rồi lại chạy theo các ý nghĩ, rồi lại cố gắng không nghĩ gì – giúp tôi tự dưng phát hiện ra là mình có rất nhiều suy nghĩ “rác”. Sau khi phát hiện ra vậy rồi thì việc vứt bỏ những “suy nghĩ rác” ấy đi nó trở thành tự nhiên, quả là đầu óc thanh thản hơn, thời gian ngồi yên không nghĩ bất cứ điều gì cứ thế tăng dần lên cùng với việc luyện tập.

Nhưng tôi cũng chỉ trải nghiệm tí tẹo vậy thôi, rồi bỏ tập, và từ đó tới giờ cũng chẳng muốn tập lại. Có thể đơn giản là thiền tập không hợp với tôi.

8. Chạy bộ

Chạy bộ có lẽ hợp với tôi hơn là thiền tập. Thật ra tôi là loại lười vận động. Ngày ấy dù được khuyên tập thể dục, chơi thể thao nhưng tôi lần lữa chán chê mãi mới thèm vác xác đi chạy. Nhưng rồi bắt đầu thì lại càng ham. Trong những việc tôi làm ngày ấy để thoát trầm cảm có lẽ chạy bộ là việc tôi thích nhất và cũng cảm nhận được tác động của nó rõ rệt nhất.

Giữa những ngày sống không bằng chết, chỉ khi đi chạy tôi mới bắt đầu khôi phục lại được cảm giác của mình về sự sống. Mỗi một bước chạy cho tôi cảm giác rõ rệt về cơ thể mình. Cảm giác rất rõ về trọng lượng cơ thể mình, cơ bắp, nhịp thở, lồng ngực, vân vân, cứ như thể tôi là một cái hồn ma lang thang lâu ngày giờ mới được đầu thai vào một cơ thể sống nào đó, mà cái hồn ma đã quên phéng mất việc có một cơ thể sống, một cuộc sống thật là như thế nào.

Ngày ấy, tôi chạy đều đặn nhiều tháng. Mỗi ngày lại cố gắng chạy nhiều hơn hôm qua một chút. Nhiều khi có cảm giác cả cuộc sống của mình khi ấy chỉ có mỗi cái việc chạy bộ một mình hàng sáng rồi về nhà ngồi bệt trên sàn uống một lon ginger ale là có ý nghĩa. (Thời gian còn lại trong ngày có khi lại rơi vào trạng thái trầm cảm.)

9. Buông bỏ những gì gây áp lực

Việc khiến tôi đôi khi lại cảm thấy lấn cấn ở trong lòng, cũng là việc cuối cùng mà tôi làm, chính là buông bỏ những gì gây áp lực và buồn khổ cho tôi nhiều nhất vào lúc ấy. Cũng có khi nhìn lại cảm thấy như mình là kẻ thất bại, yếu đuối, nhưng song song với đó cũng là ý nghĩ rất có thể trên thực tế đó đã là việc quan trọng nhất đã giúp tôi thoát ra khỏi tình trạng trầm cảm ngày ấy. Giống như con khỉ thò tay qua song sắt để nhận một nắm đồ ăn không thể rút tay lại được cho tới khi nó nhận ra rằng để rút tay lại việc duy nhất nó cần làm là buông tay bỏ hết những gì nó đang nắm giữ đi.

Dĩ nhiên, bỏ hay giữ là quyết định của mỗi người, vì chúng ta theo đuổi những giá trị khác nhau. Có người thà chết cũng không chịu thất bại, còn tôi thà thất bại còn hơn là chết :D. Quyết định nào cũng có cái giá của nó, tự lượng sức chịu đựng của mình mà chọn cái giá phải trả thôi.

Như đã nói ở đầu bài, bài viết này chỉ mang tính chất kể chuyện, mô tả lại một trải nghiệm, để ai quan tâm thì đọc cho biết. Tôi không biết mình đã làm đúng điều gì, làm sai điều gì, nhưng nói chung đúng hay sai với tôi cũng chẳng quan trọng. Sau cái mẩu đời mệt mỏi ấy, tôi học được một điều là không nên quá khắt khe với chính mình. Nói như một người bạn của tôi, “chúng ta không chỉ nên rộng lượng với cuộc đời mà còn nên rộng lượng với chính mình”.

Vài lời dành cho những người muốn tự tử

Khi bạn muốn tự sát, có lẽ bạn đang cảm thấy hết sức cô độc. Bạn có thể cảm thấy không còn ai trên thế giới này có thể hiểu mình, chưa nói đến việc có thể giúp bạn vượt qua khó khăn. Bạn thậm chí còn không biết giãi bày những gì đang rối bời trong lòng bạn ra như thế nào. Bạn chán ghét tất cả những lời khuyên. Bạn có thể cảm thấy thực sự không có ai cho bạn có thể tìm đến. Hoặc suy nghĩ và cảm xúc của bạn còn rối rắm hơn tất cả những gì mà tôi đang cố gắng viết ra ở đây.

Tôi đã từng có những ý nghĩ về tự sát xuất hiện trong đầu. Tại sao tôi có những ý nghĩ ấy? Rất đơn giản, tôi thấy bế tắc trước những gì tôi đang đối diện trong cuộc đời vào những thời điểm ấy. Bế tắc vì cái gì? Không quan trọng. Bế tắc là một cảm giác. Tôi chưa bao giờ thực sự muốn chết, nhưng những ý nghĩ ấy cứ tự nhiên xuất hiện. Như đã từng chia sẻ ở đây, chúng xuất hiện khi tôi cảm thấy những gì mình đang trải qua là quá sức chịu đựng của mình. Dưới đây tôi xin trích ý kiến của những người có chuyên môn mà tôi đã dịch lại từ tiếng Anh:

Không bao giờ được từ bỏ những người đã có kế hoạch tự sát. Đối với một người đã quyết tâm tự tử, mong muốn sống chẳng qua đã bị che phủ bởi tình trạng tưởng như vô vọng của căn bệnh [trầm cảm]. Quyết định thực hiện hành vi tự sát thực chất là mong muốn ngừng việc chịu đựng những nỗi đau. Đừng bao giờ từ bỏ một ai đó chỉ vì họ nói rằng họ đã có quyết định cho mình. Trầm cảm là một sự khủng hoảng và can thiệp để giúp người trầm cảm giành lại được niềm tin và chiến đấu quyết liệt với căn bệnh này có thể làm đảo ngược được tiến trình người trầm cảm đến gần hơn với những ý nghĩ cũng như việc thực hiện hành vi tự sát.

Lời khuyên thường được đưa ra với những người đang muốn tự sát là hãy trì hoãn quyết định ấy của bạn lại – “Hy vọng là một điều vô nghĩa khi khủng hoảng đã xảy ra. Điều tốt nhất bạn có thể làm là cho mình thêm 24 giờ, và cố gắng bám vào ý nghĩ rằng những gì tâm trí của bạn đang thôi thúc chỉ là nhất thời.” Theo bài viết mà tôi vừa trích dẫn hai câu, một nghiên cứu cho biết 94% số người đã định tự sát vẫn còn sống sau 25 năm kể từ ngày họ có ý định tự sát hoặc đã chết vì những lý do tự nhiên.

Nói như vậy không có nghĩa là ý muốn tự sát hoàn toàn chỉ là câu chuyện mang tính nhất thời. Tổn thương tâm lý thường không đến từ một chuyện, một sự kiện, hay một vấn đề mà là sự tích tụ của nhiều tổn thương – theo thời gian tổn thương này chồng lên tổn thương nọ trong khi các vết thương cũ có khi còn chưa hết hẳn. Thêm vào đó, có rất nhiều chuyện mang lại chấn thương tâm lý rất nặng nề mà có lẽ đa số nhân loại khó mà tự mình hình dung ra được.

Bạn có thể đã từng thực hiện hành vi tự sát, và có thể không chỉ một lần. Và khi đó có lẽ mỗi lần ý nghĩ tự sát trở lại việc thoát khỏi nó dường như lại khó khăn hơn.

Trải nghiệm này đã bộc lộ hết những điểm yếu nhất của chúng ta, và sâu thẳm bên trong chúng ta không còn tin vào những gì ngày mai có thể mang đến. Chúng ta có thể sẽ vẫn đi lại và hít thở, nhưng chúng ta đã từng cận kề cái chết y như vẫn cận kề sự sống, và tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ để cho chúng ta quên đi điều đó.

Trên blog này tôi có viết và dịch một số bài liên quan đến trầm cảm, nếu quan tâm bạn có thể bắt đầu từ đây. Đoạn tôi vừa trích dẫn là từ bài mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất cho tới thời điểm này, Sống chung với trầm cảm và rối loạn lưỡng cực, do tôi chọn và trích dịch từ một cuốn sách cùng chủ đề. Đại ý bài đó nói về việc về lâu dài cần học cách tự mình tránh cho mình rơi vào khủng hoảng, và chuẩn bị trước nếu khủng hoảng chớm xảy ra thì nên làm gì. Cá nhân tôi nghĩ rằng câu chuyện muốn tự sát nhiều lần, đã từng tự sát nhiều lần cũng có những nét tương đồng với việc sống chung với trầm cảm.

Một vài dòng chia sẻ như vậy. Tôi cũng chẳng biết nói gì nhiều hơn về chuyện sống chết, hạnh phúc, hay khổ đau. Cũng chẳng biết để làm gì, nhưng hy vọng bạn cảm thấy được chia sẻ phần nào khi đọc bài viết này.

Viết lách là gì? Viết lách là lao động.

Chuyện phiếm trong bữa tối tại một quán ăn trên một con phố nhỏ mang tên một nàng công chúa, giữa tôi với một người bạn:

– Kể ra cũng hơi xấu hổ vì đi học thạc sĩ ở bên kia về mà viết lách lại kém quá.

– Ờ thì mày là dân kỹ thuật, chắc không phải viết mấy. Chứ như bọn tao thì viết suốt, toàn viết thôi.

– Ừ chủ yếu là làm việc chứ có viết mấy đâu.

– Đó, bọn tao thì chỉ có viết thôi chứ có làm việc gì đâu.

Đôi khi những người hay (phải) viết lách lại thích tự giễu mình như thế. Nhưng thôi nào, phải công bằng một tí, viết lách cũng là lao động chứ. Kể cả khi bạn viết nhật ký cá nhân thì bản chất nó vẫn là lao động.

Chẳng hiểu sao tôi cứ có cảm giác rằng có một số người nghĩ rằng viết lách là một hoạt động dễ như ăn cháo đối với những người hình như là đẻ ra đã có gien văn hay chữ tốt. Nghĩa là gi gỉ gì gi cái gì họ cũng viết được, viết lúc nào cũng được, cứ đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa trong đầu rào rào chạy ra.

Trên thực tế, những người hay viết lách chẳng sớm thì muộn đều phải đối diện với một tình trạng gọi là writer’s block, tạm dịch là tắc mạch viết. Nghĩa là tự dưng chẳng viết được gì nữa. Có thể là cứ viết một hai từ, hoặc một hai câu lại xóa đi mà cũng có thể là cứ nhìn vào trang giấy hay màn hình máy tính hàng tiếng đồng hồ mà không nặn ra được một chữ nào. Tình trạng tắc mạch viết này có khi kéo dài đến hàng năm trời. Trên mạng có trăm phương nghìn kế người ta mách nhau làm thế nào để thoát khỏi tình trạng tắc mạch viết một cách mau chóng.

Kể cả khi không bị tắc mạch viết, nhiều người viết cũng cần có những điều kiện nhất định mới có thể viết được. Thường gặp nhất là nhu cầu được yên tĩnh không ai làm phiền. Ôi sao mà tôi yêu cái cau mày của Nicole Kidman trong phim “The hours” trong phân cảnh Virginia Woolf đang viết lách thì bị làm phiền đến thế chứ! Một trong những nỗi khó chịu lớn nhất cuộc đời tôi là đang viết thì có ai đó tự dưng bắt chuyện hoặc hỏi một câu hoặc có một âm thanh nào đó tự dưng gắt lên. Khi viết lách tôi thường cần một sự tập trung cao độ, kể cả khi đó là việc viết ra một thứ nhảm nhí cho mình mình đọc.

Tuy nhiên, giống như nhiều phụ nữ hay viết lách có con mọn, với tôi một ngoại lệ đáng yêu hoàn toàn chấp nhận được là con mèo :D. Những người viết ở nhà trông con hay trông mèo đều biết cách làm thế nào để viết được với một đứa nhóc đang cắn chân mình hoặc chạy khắp nhà và la toáng lên :D.

Ngoài nhu cầu phổ biến về sự yên tĩnh, mỗi một người viết sẽ có một hoặc vài nhu cầu khác để có thể viết lách được. Có những nhu cầu đơn giản và dễ hiểu, ví dụ như hút thuốc, đồng thời cũng có đầy nhu cầu vô cùng kỳ quái và khó hiểu. Nếu bạn có hứng thú tìm hiểu thêm, bạn có thể google “weird writing habits” thì sẽ ra một lô một lốc những bài viết tiết lộ cho bạn biết những chuyện kiểu như ai thì thích đứng viết, ai thì thích nằm viết, và ai thì thích không mặc gì khi viết.

Nhắc tới “tìm hiểu thêm”, tính chất lao động của việc viết lách thể hiện rõ ở công việc này hơn là ở những đòi hỏi về “điều kiện lao động”. Tôi có cảm giác rằng một trong những thất bại lớn nhất của việc dạy văn ở bậc phổ thông ở Việt Nam hiện nay là không dạy cho học sinh hiểu được rằng viết lách cũng cần phải có tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể đó là lý do vì sao tôi có cảm giác rằng nhiều người nghĩ rằng viết lách nghĩa là cứ đặt bút hoặc đặt tay xuống bàn phím là viết được, như có viết ở trên. Chuyện cũ nói lại: dạy văn ở phổ thông cơ bản đang là dạy học sinh cần phải học thuộc cái gì. Các thầy cô giáo giảng văn không phải là để gợi mở cho học trò tư duy mà là để “truyền đạt” lại một số cách hiểu một tác phẩm văn học và rồi sẽ chấm điểm các bài văn dựa vào sự ghi nhớ và nhắc lại được những cách hiểu đó. Barem chấm điểm môn văn luôn luôn phải có “đúng ý, đủ ý” bên cạnh một số yêu cầu khác dường như không quan trọng bằng.

Người bạn tốt của cách dạy như thế là các “bài văn mẫu” – một khái niệm với tôi là hơi nực cười. Không phải là chúng ta không cần các bài văn sẵn có để tham khảo; ngược lại, cái chúng ta cần chính là các bài văn để tham khảo – chứ không phải để làm mẫu. Tham khảo có nghĩa là đọc để biết người khác người ta nghĩ như thế về tác phẩm ấy, tác giả đó, chứ không phải là à người ta đã tổng kết là tác phẩm ấy, tác giả đó được hiểu như thế đó, ta chỉ cần ghi nhớ và viết lại y chang. Thảo luận văn học là một điều cần có ngay ở bậc phổ thông ở mọi lớp chứ không phải chỉ ở các lớp chuyên văn hay tới tận bậc đại học trong các chuyên ngành liên quan tới văn chương. Việc thảo luận ấy không chỉ tốt cho việc cảm thụ văn học mà còn vô cùng tốt cho việc tư duy về các vấn đề xã hội, nhân tình thế thái, vân vân. (Các vấn đề mà sớm hay muộn đám học trò cũng sẽ xôn xao bàn tán chém gió với nhau trong các hàng trà đá vỉa hè hay trong các quán cà phê hay trên các diễn đàn ảo tung chảo khi chúng lớn lên làm người lớn như ai :D.)

Trên thực tế, phải tới bậc thạc sĩ tôi mới nhận ra mình đã bị ảnh hưởng nhiều như thế nào bởi lối học viết lách thụ động ấy. Dù nhiều giáo sư bảo tôi viết lách tốt, có hai người đã viết nhận xét vào bài luận của tôi đại ý là em tóm tắt những bài đọc rất tốt, nhưng tôi muốn em viết nhiều hơn về quan điểm của cá nhân em về chủ đề của bài luận. Em nghĩ gì về những quan điểm của các bài báo và các cuốn sách mà chúng ta đọc?

Sau các nhận xét ấy, mỗi khi viết luận tôi lại tự hỏi mình, thế rốt cục là tôi nghĩ gì về cái vấn đề mà tôi đang viết? Rồi tôi nhận ra là điều ấy thật khó. Những gì người ta – các học giả nghiên cứu lâu năm – đã nghĩ ra trước khi tôi kịp nghĩ gì có khi đọc tới đọc lui còn chưa hiểu được hết, thử hỏi tôi còn biết nghĩ gì nữa. Tôi nói chuyện với mấy bạn học người Mỹ và tụi nó bảo cũng thấy khó khăn như tôi trong việc “nghĩ gì nữa”. Nhưng rồi chúng tôi cứ phải tập nghĩ từ bài luận này sang bài luận khác cho tới khi hình thành một thói quen cứ đọc là phải nghĩ: tôi nghĩ gì về việc ông bà nào đó nghĩ gì, viết gì, nói gì, bất kể ông bà ấy là ai, được thiên hạ tung hô hay bị nhân gian chửi rủa như thế nào.

Khi bạn viết, điều quan trọng nhất không phải là ai đó nghĩ gì mà là bạn nghĩ gì.

Tóm lại, những gì viết nãy giờ là muốn nói đến hai khía cạnh mang tính chất lao động của công việc viết lách: (1) là phải tìm hiểu, nghiên cứu, đọc tài liệu tham khảo về vấn đề mà mình viết; (2) là phải nghĩ cho ra bản thân mình chứ không phải bất kỳ một ai khác nghĩ gì về vấn đề mà mình viết.

Giờ nói tới khía cạnh thứ ba thể hiện tính chất lao động của việc viết lách, ấy chính là việc viết. Hay đúng hơn là việc viết đi viết lại, viết tới viết lui cho tới khi nào cảm thấy những gì mình viết ra là đúng với cái mà mình đang nghĩ trong đầu mà khi người khác đọc người ta có thể hiểu được mình muốn nói gì.

Dĩ nhiên có những bài viết là sản phẩm của “viết phát ăn liền”, quả thực là đặt bút xuống hoặc đặt tay xuống bàn phím là chữ nghĩa rào rào chạy ra lấp đầy những trang trắng trước mặt người viết, rồi gần như không phải sửa sang gì cứ thế đem xuất bản (post) là thiên hạ rào rào nhảy vào like và phát tán. Nhưng với những người viết lách thường xuyên, chuyện viết đi viết lại, viết tới viết lui, viết viết xóa xóa, thậm chí viết đến phát khóc, bỏ ăn, mất ngủ vì viết mãi mà không ra được như mình mong muốn là chuyện rất bình thường. Bởi thế nên nếu bạn đang phải viết gì đó mà thấy viết mãi không ra cái gì, thậm chí là mãi không viết được ra cái gì, thì điều đó không có nghĩa là bạn không có khả năng viết lách về cái mà bạn đang phải viết mà chỉ là có thể bạn sẽ phải bước vào một giai đoạn lao động khổ sai hơn nữa trước khi có thể nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm mà thôi. Thường thì những lúc như thế cứ viết bừa ra mọi thứ đang nhảy múa trong đầu bạn, không cần chúng phải có nghĩa, không cần chúng phải logic hay liên quan tới nhau, cứ phải viết ra rồi tính tiếp.

Một mô tả về công việc viết lách của Paulo Coelho có thể được đọc ở đây.

Mà nhân tiện nhắc tới việc viết đi viết lại, xin chia sẻ một lời khuyên dành cho người viết lách mà tôi đọc được cách đây nhiều năm, có bắt chước làm theo, và cảm thấy vô cùng chí lý, ấy là đừng vứt đi bất cứ thứ gì mình viết. Làm được việc này không phải dễ vì đôi khi (hoặc nhiều khi) đọc lại vài thứ mình viết thấy chúng sao mà ngô nghê, nông cạn, sai bét, buồn cười không phải lối, quá đau khổ, quá sướt mướt, hoặc chứa đựng muôn vàn sự dở hơi khác.

Coi trong phim hoặc trong chính đời thực của chúng ta có một phân cảnh dễ gặp là người viết vo nát mảnh giấy chứa đựng những gì mình vừa viết ra, có khi là cả nguyên một trang chữ hoặc có khi chỉ là một hai câu, rồi ném cái viên giấy ấy vào sọt rác hoặc vào góc nhà cho bõ tức vì viết chán quá. Tốt nhất là nên ném vào góc nhà, hoặc vào một cái thùng rác sạch (chuyên đựng giấy bỏ chẳng hạn) để khi cơn tức giận qua đi thì hãy gom chúng lại, mở ra, vuốt cho phẳng phiu, rồi đem cất vào một cái hộp nào đó. Thực tế là nhiều khi đọc lại những gì ta đã từng cho là dở hơi và đáng xấu hổ lại cho ta những ý tưởng viết lách mới hoặc soi sáng ra một điều gì đó cho cái đầu lúc nào cũng ngổn ngang suy nghĩ của ta.

(Giờ tôi hầu như không viết trên giấy, nhưng trong máy tính phải có vài file để phục vụ cho việc viết đủ thứ lăng nhăng xì cuội không đầu không cuối và cứ giữ lại hết tất tật những thứ chổi cùn rế rách ấy.)

Tóm lại, bài này tuy viết theo văn phong lan man nhưng chỉ có một ý chính thôi: viết lách có thể là nhiều thứ – là nghề nghiệp tay trái hoặc chân phải hoặc là sở thích cá nhân hoặc là một công việc dù ghét cay ghét đắng nhưng vẫn phải làm – nhưng dù là gì thì nó cũng là một dạng lao động đòi hỏi người lao động phải bỏ thời gian và công sức ra để làm, có lúc buồn, có lúc vui, có lúc nhàn hạ, có lúc lại khốn khổ không ai bằng :D.

Ông Donald đó đó và người quyết định

Tác giả: Paul Krugman. Blog của bác (Lương tâm của một người theo chủ nghĩa tự do) ở đây còn Twitter của bác ở đây. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The Donald and the Decider” đăng trên The New York Times ngày 21/12/2015.

Khoảng sáu tháng đã trôi qua kể từ khi Donald Trump vượt qua Jeb Bush trong các trưng cầu của các cử tri Cộng hòa. Vào thời điểm đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng hiện tượng Trump chỉ là nhất thời và dự đoán rằng các cử tri sẽ sớm quay về với các ứng viên truyền thống hơn. Tuy nhiên, thay vào đó, sự dẫn đầu của ông này cứ ngày càng tách xa các đối thủ. Thậm chí đáng chú ý hơn thế, bộ ba chuyên nói linh tinh — ông Trump, Ben Carson, và Ted Cruz — giờ đây nhận được sự ủng hộ của khoảng 60% nhóm cử tri chính yếu.

Nhưng tại sao lại thế? Xét cho cùng thì các ứng viên phi truyền thống đang lấn lướt hiện nay, ngoài việc thiếu hiểu biết sâu sắc về chính sách, có một thói quen là đưa ra những tuyên bố sai lệch, rồi không thèm đính chính bao giờ. Tại sao các cử tri Cộng hòa dường như lại không quan tâm tới điều đó?

2015_NYT_politicians-lie

Biểu đồ do Bill Marsh làm từ dữ liệu của PolitiFact cho bài “Tất cả các chính trị gia đều nói dối. Một số nói dối nhiều hơn những người khác.” của tác giả Angie Holan đăng ngày 11/12/2015 trên The New York Times.

Chậc, một phần của câu trả lời hẳn là đảng này đã dạy họ là không cần phải quan tâm. Lấy khoác lác và hiếu chiến thay cho phân tích, thái độ khinh khỉnh thay cho trả lời có cân nhắc ở bất kỳ dạng nào, gạt đi những thực tế khó chịu mà “đám truyền thông mang tư tưởng tự do” đưa ra – tất cả những điều này không phải đột nhiên mới xuất hiện trên sân khấu của đảng Cộng hòa. Ngược lại, chúng đã từ lâu là những thành phần chính tạo nên thương hiệu của đảng này. Vậy làm thế nào các cử tri có thể biết được đâu là giới hạn?

Trước hết hãy nói về di sản của Kẻ Mà Chớ Gọi Tên Ra.

Tôi không biết bao nhiêu độc giả còn nhớ cuộc bầu cử năm 2000, nhưng trong suốt chiến dịch tranh cử các ứng viên Cộng hòa đã cố gắng – và thành công to – trong việc biến cuộc bầu cử trở thành câu chuyện ai dễ mến hơn ai, thay vì là câu chuyện chính sách. Kiểu: George W. Bush nên nhận được phiếu bầu của bạn bởi ông ta là người bạn sẽ thích ngồi uống bia cùng, không như cái gã Al Gore khô khan, tẻ nhạt suốt ngày cứ số liệu với chả thực tế.

Và khi ông Gore cố gắng nói chuyện về những khác biệt chính sách, ông Bush không trả lời vào phần chính mà bằng cách móc mỉa “bài toán khó nhằn” của đối thủ – một cụm từ mà những người ủng hộ ông bắt chước đem xài một cách thích thú. Các tập đoàn truyền thông bám theo ngay bài dìm hàng cố ý này: ông Gore được cho là đã thua trong các cuộc tranh luận, không phải vì ông ấy sai, mà bởi vì ông ấy, như các phóng viên cho biết, có vẻ kênh kiệu và trên cơ người khác, không giống như ngài W. thiếu trung thực nhưng theo kiểu dễ mến.

Sau đó thì xảy ra vụ 11/9, và ngài dễ mến biến thành một nhà lãnh đạo chiến tranh. Nhưng vụ biến hình này đã không bao giờ đi kèm với những tranh luận tử tế về chính sách đối ngoại. Thay vào đó, ông Bush và các cận thần chỉ thể hiện một sự huyênh hoang. Kiểu: ông ấy là người bạn có thể tin tưởng là sẽ đảm bảo an toàn cho chúng ta bởi vì ông ấy nói chuyện một cách cứng rắn và ông ấy có cách ăn mặc giống như một phi công chiến đấu. Ông ấy đã tự tin tuyên bố rằng ông ấy là “người quyết định” – và ông ấy ra quyết định dựa vào “trực giác.”

Ngụ ý là những người lãnh đạo thực sự không mất thời gian vào việc suy nghĩ quá nhiều, lắng nghe các chuyên gia chỉ là một dấu hiệu của sự yếu đuối, và quan trọng là cái thái độ. Và trong khi những thất bại của ông Bush ở Iraq và New Orleans cuối cùng cũng đặt dấu chấm hết cho niềm tin của người Mỹ vào trực giác của ông, sự tôn vinh thái độ cao hơn con số lại càng bùng lên trong đảng của ông, thể hiện rõ khi John McCain, người mà xưa kia đã từng có tiếng về sự độc lập về chính sách, đã chọn một Sarah Palin rõ ràng là không đủ năng lực để làm cánh tay phải của mình trong tranh cử.

Vì thế Donald Trump như một hiện tượng chính trị là một tiếp nối quá chuẩn của một dòng chảy từ ngài W. tới bà Palin, và trên nhiều khía cạnh ông là một đại diện tiêu biểu cho cốt lõi của đảng Cộng hòa. Ví dụ, bạn có sốc không khi ông Trump tiết lộ sự ngưỡng mộ của ổng dành cho Vladimir Putin? Ông ấy chỉ là đang nói ra một cảm xúc vốn đã tràn ngập trong đảng của ổng.

Trong khi đó, những ứng viên truyền thống có gì khác để show ra nào? Về mặt chính sách mà nói, chẳng có gì khác mấy. Hãy nhớ rằng, ở thời điểm mà Jeb Bush được xem là ứng viên hàng đầu, ông này đã tập hợp một nhóm “chuyên gia” chính sách đối ngoại là những người có bằng cấp hàn lâm và vị trí trong những nhóm think-tank cánh hữu. Nhưng đội ngũ này phần lớn là những người tân bảo thủ cứng rắn, những người mà bất chấp những sai lầm trong quá khứ vẫn trung thành với niềm tin rằng cứ gây sốc và gây khiếp 😀 (nguyên văn “shock and awe”, một chiến lược quân sự nổi tiếng của Mỹ – ND) là giải quyết được hết.

Nói cách khác, ông Bush không phải đã đưa ra một chính sách khác biệt gì đáng kể so với những gì mà giờ đây chúng ta nghe được từ Trump và các cộng sự; tất cả những gì ông ấy trưng ra là sự hiếu chiến có phết bên ngoài một lớp tư cách đáng kính. Marco Rubio, người tiếp sau ông được coi là ứng viên truyền thống được ưa chuộng, cũng giống hệt vậy, thêm một vài cuộc xâm lược nữa. Vì sao lại phải ngạc nhiên khi thấy điệu bộ [chính trị] này giờ đây được ngửa bài bởi sự hiếu chiến thẳng thừng của các ứng viên không truyền thống?

Trong trường hợp bạn có chút băn khoăn, những chuyện như thế này không xảy ra ở bên phe Dân chủ. Khi Hillary Clinton và Bernie Sanders tranh luận, ví dụ là về việc điều tiết tài chính đi, thì đó là một cuộc thảo luận thật sự, với cả hai ứng viên rõ ràng là nắm thông tin rất tốt về những vấn đề liên quan. Thảo luận chính trị ở Mỹ về tổng thể chưa hề chìm xuồng, nó chỉ là vấn đề của cánh bảo thủ mà thôi.

Trở lại với những người Cộng hòa, có phải điều này nghĩa là ông Trump sẽ thực sự là một ứng viên của họ? Tôi chịu. Nhưng điều quan trọng cần thấy là ông này không phải bỗng nhiên đột nhập vào nền chính trị Cộng hòa từ một thiên hà khác. Ông ấy, hoặc một ai đó như ông ấy, là nơi mà đảng này đã hướng tới từ lâu rồi.