Tag Archives: giáo dục

Một cô giáo đã thay đổi cuộc đời tôi

Tác giả: Bill Gates. Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “A Teacher Who Changed My Life” đăng trên blog của tác giả gatesnotes ngày 16/08/2016.

Ba người phụ nữ rất mạnh mẽ – mẹ tôi, bà ngoại tôi, và Melinda – xứng đáng được ghi nhận (hoặc đáng trách) vì đã giúp tôi trở thành người như ngày hôm nay. Nhưng cô Blanche Caffiere, một cô giáo và thủ thư tốt bụng mà tôi chưa bao giờ nhắc tới trước công chúng, cũng có một ảnh hưởng to lớn tới tôi.

Cô Caffiere (tên cô phát âm là “kaff-ee-AIR”) mất năm 2006, không lâu sau ngày sinh nhật lần thứ 100. Trước khi cô qua đời, tôi đã có cơ hội để cảm ơn cô vì đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi, người đã giúp tôi giữ lửa cho lòng ham học vào một thời điểm mà tôi đã có thể dễ dàng mất hứng thú với trường lớp.

Khi tôi gặp cô Caffiere lần đầu, cô đang là người thủ thư nhã nhặn và nhiệt tình tại trường Tiểu học View Ridge thành phố Seattle, còn tôi là một học sinh lớp bốn nhút nhát. Khi đó tôi tìm mọi cách để không ai chú ý tới mình, bởi tôi có một số khiếm khuyết lớn, như viết chữ xấu (ngày nay các chuyên gia gọi đó là chứng khó viết –  dysgraphia) và luôn để bàn bừa bãi một cách buồn cười. Và tôi luôn cố gắng che giấu việc mình thích đọc – một điều với các cô gái thì được coi là hay ho nhưng với các cậu con trai thì không.

Cô Caffiere đã che chở cho tôi và khiến cho việc tôi là một thằng bé bừa bãi và kỳ quặc thích đọc rất nhiều sách trở thành ổn thỏa.

Cô đã lôi tôi ra khỏi vỏ ốc bằng cách chia sẻ với tôi tình yêu của cô dành cho sách. Cô bắt đầu bằng những câu hỏi như, “Em thích đọc gì?” và “Em quan tâm tới điều gì?” Sau đó cô tìm cho tôi rất nhiều sách – những cuốn khó và thách thức hơn nhiều so với những cuốn khoa học giả tưởng của Tom Swift Jr. mà tôi đang đọc khi đó. Ví dụ, cô đưa cho tôi những cuốn tiểu sử lớn mà cô đã đọc. Sau khi tôi đọc chúng, cô dành thời gian thảo luận về chúng với tôi. Cô sẽ hỏi “Em có thích cuốn đó không?” và “Tại sao? Em đã học được gì?” Cô chăm chú lắng nghe những gì tôi nói. Qua những lần nói chuyện về sách như thế tại thư viện và trên lớp học chúng tôi đã trở thành bạn tốt của nhau.

Nhìn chung các giáo viên không muốn tạo thêm gánh nặng cho học sinh của mình bằng cách giao thêm bài đọc bên cạnh những bài tập đã giao. Nhưng tôi đã học được từ cô Caffiere rằng các thầy cô giáo của mình có thể chia sẻ nhiều điều hơn thế. Tôi chỉ cần hỏi họ thôi. Từ đó cho tới hết trung học và sau này, tôi thường hay hỏi các thầy cô giáo của mình về những cuốn sách họ thích, rồi tôi đọc chúng khi rảnh, và cho họ biết tôi nghĩ gì.

Giờ đây nhìn lại, không có gì phải nghi ngờ rằng thời gian tôi có với cô Caffiere đã thắp lên mối quan tâm của tôi với thư viện (cũng là nỗ lực thiện nguyện quy mô lớn đầu tiên của Melinda và tôi) cũng như sự tập trung của tôi trong việc giúp mọi đứa trẻ ở Mỹ được hưởng lợi từ những giáo viên tốt. Tôi thường gắn việc khởi nguồn quỹ của chúng tôi với một bài báo về trẻ em tại các nước nghèo bị chết bởi những bệnh đã bị xóa sổ tại Mỹ từ rất lâu. Nhưng tôi cũng nên ghi nhận ảnh hưởng từ người giáo viên và thủ thư tận tâm đã giúp tôi tìm thấy những điểm mạnh của mình khi tôi chín tuổi. Sức mạnh mà một người tốt có thể tạo ra trong việc góp phần tạo dựng nên cuộc đời của một đứa trẻ thật đáng kinh ngạc.

Chuyện trợ giảng

Vài năm trước, tôi may mắn kiếm được một chân trợ giảng tại một trường đại học ở Mỹ, nơi tôi theo học cao học. Thời gian đầu tôi chưa được lên giảng ngay mà chỉ làm những việc như giải đáp thắc mắc cho sinh viên ngoài giờ học (cả thắc mắc liên quan đến môn học lẫn những việc khác liên quan tới lớp học, thi cử), giảng lại bài cho những sinh viên nghỉ học có nhu cầu được nghe giảng lại, ôn tập cho những sinh viên có nhu cầu được ôn tập trước những bài kiểm tra hay những kỳ thi, chấm điểm, nhập vào hệ thống các dữ liệu của lớp học, cơ bản là vậy. Và buổi nào có lớp thì theo chân giáo sư lên lớp nghe ông giảng và hỗ trợ vài việc vặt trong lớp. Trước mỗi bài kiểm tra, tôi hay ghé qua văn phòng giáo sư xem ông có cần giúp gì không, dù ông không bao giờ yêu cầu. Nói chung làm trợ giảng đúng là kiểu theo sư phụ để học nghề.

Rồi tôi bắt đầu được giao cho công việc thỉnh giảng. Đầu tiên là giảng một bài theo bài giảng sẵn của giáo sư, rồi tự mình chuẩn bị một bài giảng kiểu khách mời (tức là nói chuyện bên ngoài để minh họa cho một chủ đề trong chương trình), rồi được cho giảng một vài chủ đề khác nhau trong chương trình (được chọn phần mà mình thích). Vài lần đầu thì giáo sư ngồi dưới xem tôi giảng và góp ý, sau đó thì ông có thể đến có thể không. Nhưng kể cả ngay từ những lần đầu tiên cũng không có chuyện “duyệt trước” xem bài giảng thế nào. Giáo sư chỉ bảo là mày có thể dùng bài giảng đã soạn sẵn của tao hoặc tự soạn bài giảng, tùy, nếu muốn tao xem cho thì mang đến đây, cũng tùy nốt. Có khi tự do hơn làm giáo sư ở Việt Nam lol.

Vậy “buông lỏng quản lý” như vậy có phải là dễ dãi quá? Tôi thực tình cũng không dám nói chắc điều gì. Nhưng về cơ bản tôi thấy hệ thống của họ chủ yếu quản lý và đánh giá dựa vào kết quả chứ không can thiệp nhiều vào tiến trình, không có kiểu quản lý vi mô tủn mủn, nên chắc nhiều giáo sư cũng áp dụng tư duy quản lý ấy cho các trợ giảng của mình.

Dựa vào kết quả là thế nào? Cuối mỗi kỳ cả giáo sư lẫn trợ giảng đều bị/được sinh viên đánh giá. Cách làm hay phết. Một là việc đánh giá bao giờ cũng phải thực hiện trước bài kiểm tra cuối cùng, trước khi sinh viên có điểm số cuối cùng, để tránh tình trạng điểm kém thì quay ra đánh giá xấu người dạy. Hai là sau khi phát phiếu đánh giá cho sinh viên những người bị/được đánh giá không được có mặt trong lớp khi sinh viên điền vào phiếu ấy, để sinh viên được thoải mái khi cho ý kiến. Rồi một sinh viên sẽ tình nguyện gom tất cả phiếu đánh giá ấy cho vào một cái phong bì (dĩ nhiên giáo sư và trợ giảng phải chuẩn bị cái phong bì ấy) rồi mang trực tiếp tới văn phòng khoa. Tại đây, văn phòng sẽ cho người đánh máy lại các kết quả đánh giá này, trong đó thường gồm cả những lời nhận xét của sinh viên bên cạnh việc chấm điểm, để người bị đánh giá khỏi nhìn chữ mà biết sinh viên nào nhận xét gì.

Tôi chưa bao giờ gặp rắc rối với các kết quả đánh giá nên cũng không rõ nó có trở thành sức ép với những người khác không. Ví dụ có một giáo sư hay bị sinh viên đánh điểm thấp mà quả tình nhiều người chúng tôi không hiểu là tại làm sao. (Tôi có một buổi đi trợ giảng thay cho trợ giảng của lớp chị giáo sư ấy, và tôi thấy mọi thứ cơ bản ổn.) Dĩ nhiên, đánh giá kiểu này chỉ là một cách để nhà trường quản lý kết quả. Và những người quản lý hay những người “bị quản lý” đều hiểu những hạn chế của nó, ví dụ những giáo sư cho điểm thoáng thì dễ được nhiều sinh viên chấm cho điểm cao.

Về mặt tích cực của hệ thống đánh giá này, khỏi phải nói, là giúp cho người dạy biết được sinh viên nghĩ gì về việc giảng dạy của mình. Như trường tôi ngày ấy thì giáo viên được tự chế ra những mẫu phiếu đánh giá ấy, dựa vào việc họ muốn biết cụ thể phản hồi của sinh viên về những vấn đề gì. Từ giáo trình cho đến lượng bài tập cho đến bài kiểm tra cho đến việc giảng viên có nhiệt tình không. Rồi như mấy lớp tôi trợ giảng bao giờ chúng tôi cũng hỏi sinh viên một điểm mà họ thích ở người giáo sư/trợ giảng của lớp và một điểm mà họ nghĩ là người này cần cải thiện. Những ý kiến đánh giá kiểu như vậy giúp cho người dạy biết được mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu.

À dĩ nhiên bao giờ cũng có những nhận xét không liên quan lắm, kiểu như trợ giảng này hot thật (không phải tui nha) hay trợ giảng này cute ghê (là tui đó lol). Và dĩ nhiên nữa là kiểu gì cũng bị những lời nhận xét xấu. Như tôi đã từng bị một sinh viên chê là rude (thô lỗ) :”>. Giáo sư tôi bảo chắc tại tính tôi khá blunt, có đứa không thích. Còn đứa bạn làm cùng thì an ủi tôi là lần đầu nó làm trợ giảng còn bị một sinh viên viết nhận xét là sau này tôi sẽ không bao giờ học cái lớp nào có cô này làm trợ giảng nữa. Thật ra tôi chả bị dằn vặt gì bởi lời nhận xét ấy, nhưng sau thì cũng cố gắng thận trọng hơn mỗi lần lên lớp :P.

Nhìn chung là trợ giảng người nước ngoài, nhất là dân châu Á, có một hạn chế là ngôn ngữ. Các sinh viên nước ngoài muốn làm trợ giảng ở trường tôi (ngày ấy, và chắc giờ cũng vậy) được yêu cầu phải qua một bài kiểm tra nói tiếng Anh. Ai không qua sẽ được mời ngồi vô một hoặc hai lớp không chỉ dạy nói tiếng Mỹ cho chuẩn mà còn dạy cả văn hóa dạy học ở một lớp học ở Mỹ, rồi cuối cùng thi bằng cách giảng thử chứ không chỉ là kiểm tra âm ngữ nữa. Xét về một khía cạnh nào đó, rào cản này cũng tựa như những rào cản đối với người nhập cư như Tim Parks kể chuyện ở đây, hơi bất công ở chỗ bởi các trợ giảng người Mỹ chẳng bị kiểm tra tí gì về nghiệp vụ sư phạm hết. Có lẽ người ta cho rằng sinh viên Mỹ lớn lên ở môi trường giáo dục Mỹ là họ nghiễm nhiên biết cách dạy học kiểu Mỹ!?

Với sinh viên nước ngoài thì dĩ nhiên là có học có hơn, nhưng ngồi vô một lớp như vậy với nhiều người có nghĩa hợp đồng trợ giảng bị treo đó, kể cả khi giáo sư đã nhận, nghĩa là không có nguồn học bổng nào thì móc tiền túi (của mình hoặc của thầy u) ra trả tiền học và sinh hoạt phí (làm trợ giảng thì được miễn tiền học, ngoài ra được trả lương). Chưa kể là ngồi vô lớp đó thì hiển nhiên quỹ thời gian dành cho các lớp chuyên ngành, công việc nghiên cứu, rồi giao lưu hò hẹn bên ngoài bị nhỏ đi, nên nhìn chung ai cũng hậm hực ít nhiều, nhất là những đứa không chịu tin là tiếng Anh nói của mình có vấn đề (như tôi chẳng hạn :D).

Tôi trượt bài thi nói hai lần lận, bị mất điểm chủ yếu bởi phần phát âm (pronunciation) rất đậm đà bản sắc dân tộc, ví dụ như hay nuốt âm, nhất là cái chữ “r” trong các từ đó. Kiểu phát âm “perfect” thành pơ-phếch ấy (purrrr-phếch-t nha bà con lol). Rồi, trượt hai lần lận cùng với việc đã nghe theo lời xúi bẩy của đám bạn Tây vác xác lên khoa tiếng Anh đề nghị các thầy cô giải thích cụ thể lý do trượt, tôi rốt cục cũng chấp nhận một thực tế cay đắng là tiếng Anh của mình có vấn đề thật, nên cũng vác xác ngồi vô lớp nói tiếng Anh dành cho đám trợ giảng-to-be. (Trong khi thật ra vẫn làm trợ giảng bởi khoa tôi không có khắt khe quá nên cũng mắt nhắm mắt mở cho tôi đi làm.) Có điều, như đã nói ở trên, lớp học được thiết kế cho đám trợ giảng-to-be này thực ra tập trung nhiều hơn vào việc truyền bá văn hóa dạy học của Mỹ chứ không phải để khắc phục nguyên nhân mà đám này đã trượt bài thi nói tiếng Mỹ. Thực tế là tôi đã phải cày theo bác này để sửa cho hết những lỗi đậm đà bản sắc dân tộc mà mình đã mắc phải (theo một phần mềm đầy đủ, dĩ nhiên được dân Việt lén lút chia sẻ với nhau).

Giờ nói chuyện có học có hơn, ấy là học cách dạy học kiểu Mỹ. Nôm na là phải học cách tương tác với sinh viên ở trên lớp. Học những thứ rất cụ thể, như là vô lớp thì tự giới thiệu như thế nào (chào mừng các bạn đến với lớp X., tên, không cần tuổi, thời gian và địa điểm có thể tiếp sinh viên ngoài giờ học, phương thức để sinh viên liên lạc, đại khái vậy), giới thiệu về chương trình học và các chính sách, nội quy của lớp học ra sao, rồi khi giảng thì phải đặt câu hỏi cho sinh viên, rồi dĩ nhiên sinh viên hỏi thì phải trả lời, trả lời xong thì phải hỏi lại sinh viên là trả lời thế họ có hiểu không, rồi không trả lời được thì phải làm sao, rồi hết giờ mà sinh viên vẫn còn câu hỏi hay chưa giảng hết bài thì phải nói với sinh viên như thế nào. Tóm lại là lúc nào cũng phải đối thoại với sinh viên. Và rất phải tôn trọng cái chuyện hết giờ, chuông reo là phải tha cho sinh viên liền, thường là không cố dạy nốt cái gì cả, vì đôi khi sinh viên họ phải chạy sô qua lớp khác ở đầu kia của campus chẳng hạn. Nói chung là toàn thứ bổ ích cả.

Tôi cho là văn hóa dạy và học trên lớp học ở Mỹ, theo những gì tôi biết, thể hiện một thứ văn hóa dân chủ. Dân chủ không có nghĩa là không có thứ bậc, học trò trèo lên cổ thẩy cô giáo, mà nó là minh bạch và đối thoại, không sử dụng quyền lực để “giữ trật tự”. Thực ra thì trong lớp học bao giờ giáo viên cũng là người có quyền lực hơn, vì người giáo viên được quyền thiết kế luật chơi và học sinh buộc phải theo. Nhưng giữa giáo viên với học sinh đôi khi sẽ nảy sinh những bất đồng ý kiến. Nghĩa là có những thứ giáo viên làm hay giáo viên đưa ra có những học trò không phục. Thường gặp nhất là chuyện đề bài thi và chuyện chấm điểm, vì nó ảnh hưởng tới quyền lợi sát sườn của học sinh.

Nguyên tắc và lý thuyết là vậy, nhưng để làm được cần có thực hành và trải nghiệm. Một lần, tôi ra đề thi, điểm của đám sinh viên tụt hẳn xuống so với bình thường. Xem lại bài của sinh viên để xem những câu nào các bạn làm sai nhiều nhất, tôi cảm thấy những câu đó có vẻ như hơi lắt léo so với các câu hỏi thường gặp kiểu Mỹ. Nghĩ cũng áy náy, tôi quyết định nâng điểm cho cả lớp. Khi trả bài, tôi thông báo câu chuyện với đám sinh viên như vậy, chấm hết. Nghĩa là tự làm, tự kiểm điểm, rồi tự sửa sai. Ấy vậy mà đám sinh viên vẫn tỏ vẻ không phục, có bạn còn nhất định đòi gặp riêng tôi để “trình bày hoàn cảnh” và đòi nâng điểm nữa, lằng nhằng tới tận cuối học kỳ.

Thật ra chuyện ra đề rồi chấm điểm không thỏa đáng giảng viên nào cũng có thể mắc phải. Khác nhau là ở chỗ xử lý vấn đề thôi. Sau này tôi được chứng kiến hai bạn cùng làm cũng bị chuyện như vậy, có điều họ xử lý khác tôi (và giống nhau). Đó là họ trao đổi với sinh viên trên lớp, cho sinh viên trình bày hết những câu hỏi nào sinh viên cảm thấy không phục, rồi họ giải thích cho sinh viên tại sao họ đặt câu hỏi như vậy, và cuối cùng sau “phiên chất vấn” họ ra quyết định ngay trên lớp rằng sẽ tính lại điểm và không tính lại điểm cho những câu nào. Câu chuyện chấm dứt ở đó, không có sinh viên nào đòi gặp riêng và mặc cả riêng hết. Sau những chuyện như vậy, tôi rất thấm thía rằng từ dân chủ giáo điều tới dân chủ thực tế là cả một quãng đường, nếu không đi thì sẽ không thể tới được.

Giờ thì tôi chẳng làm trợ giảng, cũng chẳng giảng dạy gì. Nhưng những trải nghiệm ngày trước với công việc dạy học giúp tôi hiểu nhiều hơn về nghề giáo, một nghề thực ra đã là mơ ước nghề nghiệp đầu tiên trong cuộc đời tôi, mà vì nhiều lý do khác nhau, tôi đã luôn quay lưng lại với nó. Một trong những lý do ấy là tôi luôn cảm thấy tôi là một kẻ thất bại và tôi không muốn đứng trước đám học trò và nói với họ rằng học cái này đi, học cái kia đi, trong khi tôi đã học tất cả những thứ đó và rốt cục hầu như chẳng làm được gì đáng kể. Dĩ nhiên đó chỉ là kiểu suy nghĩ cực đoan và một dạng vấn đề tâm lý cá nhân, còn người giáo viên không phải là người cần phải chỉ ra cho học sinh là họ học xong thì ra đời làm gì. Nói rộng ra thì không ai nên đóng cái vai chỉ bảo ấy cả, vì cuộc đời của mỗi người cơ bản là do người ấy lựa chọn và quyết định làm gì và làm như thế nào.

Người giáo viên chỉ đơn giản là người truyền đạt lại một số kiến thức, giới thiệu một vài phương pháp tư duy và tự học để người học sau này biết cách tự tìm hiểu, tự nghiên cứu khi cần. Dĩ nhiên ngoài khía cạnh kỹ thuật ấy của nghề giáo thì người giáo viên có thể trở thành những người truyền cảm hứng cho người học hay làm được nhiều điều vĩ đại khác, thật ra giống như bất cứ một nghề nào khác trong xã hội.

Còn nói đơn giản như người giáo sư mà tôi đã may mắn được theo trợ giảng cho ông, hãy cho học trò một trải nghiệm tốt.

Những cuộc đời lành lặn

Nhiều người chỉ trích Hillary Clinton là bà ấy quá giàu thì không thể thực sự hiểu được những vấn đề của tầng lớp lao động mà bà ấy lên tiếng muốn bảo vệ. Dù tuổi thơ của Hillary có chút vướng mắc trong gia đình nhưng với nhiều người, cuộc đời của bà về cơ bản là yên ổn, may mắn, thành đạt, và giàu có hơn rất rất nhiều người. Dĩ nhiên, không phải là Hillary không biết điều đó. Trong cuốn hồi ký Living History, bà có viết:

“Thỉnh thoảng chúng tôi đi trượt băng trên sông Des Plaines trong khi các ông bố sưởi ấm và chuyện trò bên đống lửa về các vấn đề thời sự, chính trị. Tuy nhiên, “cuộc chiến tranh lạnh” là một khái niệm mơ hồ đối với tôi và thế giới của tôi lúc ấy dường như vẫn an toàn và ổn định. Tôi không biết đứa trẻ nào có cha mẹ ly hôn và mãi đến khi học trung học, tôi mới biết ngoài chết già thì người ta có thể chết vì những thứ khác nữa. Tôi nhận thấy tình trạng được bảo bọc chở che yên bình này tạo nên những nhận thức ngây thơ, nhưng đây là điều mà tôi mong ước cho mọi trẻ em.”

Sau này, tôi đọc được một câu chuyện có điểm tương đồng với câu chuyện về Hillary và những người kém may mắn hơn bà trong một cuốn sách khác – Teaching Hope (được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Người gieo Hy vọng). Erin Gruwell là một giáo viên hay dạy các lớp học sinh cá biệt. Cá biệt ở đây có nghĩa là các em quậy phá không chỉ ở trên lớp mà trong chính cuộc đời mình, một số có tiền án, một số mang vũ khí đến lớp, một số thường xuyên vào trại cải tạo. Đằng sau các em là những gia đình và cộng đồng hết sức phức tạp. Sau này, Erin đã khéo léo sử dụng phương pháp viết văn tự do để giúp các em học cách giãi bày về cuộc đời mình và chia sẻ nó với người khác. Erin thành công ngoài sức tưởng tượng, nhiều học sinh của chị học được cách kết nối với người khác và tự hàn gắn cuộc đời mình, một số quay lại giúp đỡ những người kém may mắn như mình. Họ gọi mình là những nhà văn tự do (freedom writer). Teaching Hope là cuốn sách Erin Gruwell và những nhà văn tự do kể lại những câu chuyện họ tiếp tục mang phương pháp viết văn tự do để giúp đỡ những học sinh tại các trường học, lớp học cá biệt.

Câu chuyện mà tôi muốn kể là như thế này. Một giáo viên kể lại câu chuyện anh/chị ấy đã khơi gợi để học sinh của mình kể ra những chuyện buồn trong cuộc đời mình như thế nào. Người giáo viên ấy đã quen với việc nghe những câu chuyện như vậy được chia sẻ trên lớp của mình và “thật sự không bao giờ nghĩ về nó cho đến khi… nhận được một lá thư từ một trong những học sinh ít nói… Cậu ấy tỏ ra bức xúc với cuộc thảo luận một chiều trong lớp. Có vẻ như cậu ấy thấy lạc lõng vì hiếm ai kể về những ông bố tốt, những gia đình trung lưu, những giá trị của tầng lớp trung lưu, và các vấn đề khác mà cậu ấy và một số em khác trong lớp biết rõ.” Người giáo viên này đã viết một bức thư cho cậu học trò của mình như sau:

“Nick thân mến!

Tôi không nghĩ rằng khi có những bạn nói rằng mẹ và cả nhà của mình đã phải vất vả như thế nào thì bạn đó xem việc có nhiều đứa trẻ được sinh ra ngoài giá thú và sống ở khu ổ chuột là “một thứ huân chương danh dự” như em nói trong thư của mình. Tôi chỉ nghĩ các bạn đang nói ra những điều mình biết. Tôi cũng giống em ở chỗ tôi lớn lên ở vùng ngoại ô với cả bố và mẹ của mình, bố tôi và tôi đã dành rất nhiều thời gian cho nhau, và tôi (cũng như em) thật sự không thể hiểu được nhiều điều mà những bạn sống trong những khu nhà công cộng kể ra.

Nhưng còn có một khía cạnh khác của câu chuyện. Nhiểu người chỉ trích trường công lập, nhưng một điều tốt của trường công là trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tầng lớp xã hội được học chung một chỗ. Điều này có thể mang lại lợi ích cho tất cả những người liên quan. Em, tôi, và những người lớn lên ở vùng ngoại ô nên biết ơn bố mẹ mình hơn vì đã làm việc chăm chỉ để cho chúng ta một mái ấm bình yên và thoải mái, và những học sinh sống ở nhà công cộng có thể nghe câu chuyện của em và biết rằng vẫn còn hy vọng. Hy vọng rằng có một cuộc sống khác. Một cuộc sống trong đó những người bố người mẹ cùng nhau nuôi dạy con họ; một cuộc sống trong đó cảnh bắn súng nơi công cộng không phải là chuyện thường ngày; một cuộc sống trong đó điện, nước, lò sưởi, ti vi lúc nào cũng có; một cuộc sống trong đó không ai phải nhìn vào mắt con mình và nói rằng đã hết thứ để ăn.

…Vì vậy, thay vì phản đối các bạn kể ra câu chuyện của mình, em hãy lắng nghe chuyện của họ và chia sẻ chuyện của mình, và hãy nhớ rằng không có cuộc sống nào hoàn hảo, chỉ có cuộc sống, và nó là do em tạo ra.

Thân mến,
Người giáo viên hiểu thế nào là cuộc sống của em”

Vậy đó, nếu bạn không tự nhận dạng ra được giá trị của một cuộc đời lành lặn như Hillary, nếu bạn cũng không có một ai đó nói cho bạn biết điều mà người giáo viên trong câu chuyện kể trên nói với cậu học trò của mình, thì giờ đây tôi đang nói cho bạn biết:

Bạn không cần phải có một cuộc đời vỡ nát để có thể hiểu được những khổ đau của người khác. Nhiều khi bạn phải là một người ăn cơm có thịt thì mới biết day dứt trước những đứa trẻ ăn cơm với muối. Điều quan trọng là bạn có muốn hiểu hay không thôi. Nếu bạn có lòng, tất sẽ có lúc bạn hiểu.

Ngược lại, nếu bạn có một cuộc đời vỡ nát và nghĩ rằng những người sống một cuộc đời lành lặn sẽ không bao giờ hiểu mình, thì rất có thể bạn đã nhầm. Biết đâu, chính một trong số những người có một cuộc đời lành lặn kia lại là người duy nhất có thể sưởi ấm được cho những nỗi đau trong lòng bạn.

Nói tóm lại là, những người khác sẽ cần chính xác cái cuộc đời mà bạn đã, đang, và sẽ sống. Cuộc đời này cần bạn là chính xác con người mà bạn đã là, đang là, và sẽ là.

Một tháng mới đã sang bạn nhé…

Văn, tiếng Anh, báo, và việc viết lách của tôi

Trước khi đọc Sụp đổ của Jared Diamond để từ đó bắt đầu nghĩ xa hơn rất nhiều về việc viết lách, niềm cảm hứng viết lách của tôi đến từ các nguồn khác: môn Văn, một lớp học tiếng Anh, và báo chí.

Môn Văn

Thời gian tôi viết văn tự do nhất trong khuôn khổ của môn Văn ở trường học là những năm cấp I. Thực ra thời đó chúng tôi cũng phải viết những bài văn theo mẫu kiểu “nhà em nuôi một con lợn con to chỉ bằng cái phích và hai tai nó như hai cái lá mít” – nhờ những bài văn kiểu này mà đám trẻ con thành thị chúng tôi mới mường tượng được cái lá mít là như thế nào. Nhưng giữa những khuôn mẫu ấy vẫn có những không gian tương đối tự do để tôi viết. Ví dụ, năm tôi học lớp hai chúng tôi có những bài tập kiểu “chuyển thể” tức là diễn xuôi một bài thơ. Tôi nhớ là mình chuyển thơ sang văn xuôi dễ như ăn kẹo. Rồi mấy năm học sau đó chủ yếu chúng tôi loanh quanh mấy dạng viết miêu tả với kể chuyện với phát biểu cảm nghĩ, tôi vẫn viết lách say sưa tuy cũng chẳng mấy khi là học sinh nổi trội gì về môn văn trong lớp cả.

Tôi không nhớ là hồi ấy chúng tôi có những đề văn mang tính tưởng tượng mà viết hay không, nhưng nhớ là đề thi vào lớp chọn năm lớp 6 là một đề như thế. Đại khái là có một chú ong thế này thế nọ, em hãy tưởng tượng và kể lại hành trình của chú ong ấy. Đám học trò và cả phụ huynh xôn xao hết cả lên vì đã găm đầy đầu những bài văn mẫu để đi thi. Tôi thì viết lách sung sướng và lại thấy dễ như ăn kẹo, mặc dù cũng chẳng biết sẽ được mấy điểm. Vì làm toán không tốt, văn thì chả biết đường nào mà lần, tôi nghĩ mình trượt rồi. Cuối cùng, hành trình kỳ ảo nào đó của con ong mà tôi vẽ ra đã kiếm được cho tôi điểm 9 môn Văn và nhờ thế lôi tôi vào lớp chọn.

Từ những năm cấp II trở đi, việc học văn ở trường xoay quanh việc bình loạn các tác phẩm văn học, điểm văn của tôi tụt dốc, chỉ làng nhàng mức 6-7, viết lách cũng chả hứng thú gì, và suốt mấy năm cấp III lúc nào cũng phải thấp thỏm xem môn văn có nổi 6,5 để mà được học sinh giỏi hay không. Nhưng chả hiểu thế nào mà thi cử cuối cấp thì lại vẫn may mắn, hai lần thi chẳng lần nào bị xuống đến điểm 8 cả.

Thực ra thời gian tôi học cấp III có một thầy giáo dạy văn mà tôi rất thích, đó là thầy T. ở trường Ams – tôi không học Ams, tôi học thầy ở những lớp học thêm. Thầy là người truyền cảm hứng cho tôi về môn Văn sau nhiều năm tôi chỉ biết học văn cho xong chuyện, mặc dù những gì tôi viết cũng chỉ có thầy cho điểm cao chứ ở lớp vẫn lẹt đẹt như thường. Chả quan trọng, tôi ngày ấy vẫn rất hăm hở vác sách đi học thầy.

Lớp Tiếng Anh

Khi việc viết văn bằng tiếng Việt bắt đầu nhạt nhòa đi trong cuộc sống của tôi thì tôi lại được thỏa chí viết lách nhờ tiếng Anh. Đúng ra là nhờ một lớp học thêm tiếng Anh mà tôi đã theo suốt 5 năm cho tới tận khi vào đại học. Thầy R. là người Thụy Sỹ, ngày ấy mới ngoài ba mươi, là giáo viên tiếng Anh xịn, có vợ người Việt Nam. Lớp học ấy được thành lập cũng là do nhiều cơ duyên khác nhau, chứ không phải là con nhà giàu được học thầy Tây (học phí không quá đắt). Tôi có lẽ là người duy nhất đã theo lớp học ấy từ ngày đầu tiên cho tới ngày cuối cùng. Mặc dù mỗi tuần chỉ học một tiếng rưỡi, nhưng lớp học ấy với tôi là một không gian tự do khám phá nhiều điều mới mẻ và đặc biệt là được viết lách tưng bừng, nghĩ gì viết nấy, chủ đề thì rộng vô cùng, không có một cái gì được gọi là giới hạn cả.

Thầy R. rất biết cách khuyến khích học trò để chúng tôi không cảm thấy tự ti và ngượng ngùng khi sử dụng tiếng Anh. Ví dụ, khi chúng tôi nói tiếng Anh, thầy sửa rất ít mà để cho chúng tôi nói thoải mái và sai bung bét – những kiến thức chúng tôi cần, thầy đưa vào lúc giảng bài. Cứ kiên trì vậy mà chúng tôi cũng nói khá khẩm dần – điều này chúng tôi chỉ nhận ra khi trong lớp có học sinh mới. Một lần, tôi đọc một bài viết của mình, thầy sửa theo từng câu tôi đọc nên chỉ vài câu là tôi kêu thôi em không đọc nữa, viết toàn sai thế này. Vậy là thầy không sửa nữa, để cho tôi đọc cho hết bài. (Thực ra vì ngày ấy lũ chúng tôi toàn đứa chết nhát, chứ năm ngoái một lần tôi xem một bạn Tây dạy cho mấy đứa lít nhít còn chưa đi học lớp một mà có đứa đã biết trêu thầy giáo – nó trả lời thầy “My name is baby”.)

Bữa khác tôi sẽ viết một bài tử tế hơn về hệ thống dạy thêm và học thêm. Dĩ nhiên là tôi cũng biết những mặt trái của nó nhưng tôi chưa bao giờ thấy người ta ghi nhận mặt phải của nó – điều mà tôi lại rất trân trọng – ấy là tạo ra những không gian dạy và học rất tự do cho cả thầy lẫn trò. Đâu đó trong cái không gian ấy, người thầy được dạy theo cách mà họ muốn, người học được lựa chọn những người thầy mà họ thích, được viết ra những gì mà họ thực sự nghĩ – chẳng ai trong chúng tôi phải đi theo một cái khuôn mẫu nào cả.

Báo chí

Thực ra báo chí chỉ là nguồn cảm hứng viết lách cho tôi những ngày tôi học cấp III. Ngày ấy tôi còn mê xem bóng bánh nên chúi mũi vào các tờ báo thể thao, đặc biệt là tờ TT&VH. Bố tôi vẫn mua tờ này thường xuyên nhưng ngày ấy tôi toàn đọc ở lớp vì cô bạn ngồi cùng bàn mua đều đặn. Vụ xem bóng đá thì hiển nhiên là phải đi kèm với việc bình phẩm chém gió cũng bạn bè. Cứ sáng nào có báo là mấy cái đầu lại chụm lại ở bàn chúng tôi để chung nhau đọc một tờ báo. Đọc và chém gió không thỏa, chúng tôi bắt đầu cùng nhau viết match preview và match review vào quyển nhật ký lớp, hoành tráng như ai. Có khi ngoài cuốn nhật ký ấy ra tôi còn viết lách về bóng đá ở đâu nữa ấy mà giờ không thể nhớ ra (các diễn đàn chăng?) Sau này sang tới tận Mỹ một lần được giáo sư khen ngợi chuyện viết lách tôi đã khoe ra là tư duy phân tích của em chủ yếu là nhờ ngày xưa xem và viết bình luận bóng đá. (Bà giáo còn hỏi có thích học thêm về Xã hội học Thể thao – Sociology of Sport – không. Ơ no thank you ạ. 😀 )

Chỉ có vậy thôi mà ngày ấy tôi mê báo và viết lách đến mức đã muốn đi làm nhà báo, mặc dù cũng chẳng định viết về bóng đá đâu, mà thực ra cũng chả biết là sẽ viết về cái gì, chỉ là do thích viết thôi. Bố mẹ tôi thì chẳng cấm cản gì bao giờ, nhưng bảo là con gái làm báo làm gì cho vất vả. Thế nào mà rồi tôi cũng thôi chẳng suy nghĩ nghiêm túc về việc đi làm báo nữa. Nhưng đã có những ngày như thế, khi mà nguồn cảm hứng viết lách tôi có lại là nhờ các cây bút thể thao và nhờ cái quả bóng có 22 gã đàn ông chạy theo tranh nhau. Hiện giờ thì báo chí không tạo cảm hứng viết lách gì cho tôi, nhưng tôi hy vọng là thế giới ấy vẫn đang tạo cảm hứng cho nhiều người.

Hết.

Viết linh tinh vì tự dưng tỉnh giấc lúc mặt trời còn chưa dậy mà cóc ngủ lại được.