Tag Archives: rối loạn lưỡng cực

Trầm cảm có phải là bệnh không? Bản chất của việc trầm cảm trở lại.

Lời người dịch: Trong những bài viết trước đây tôi cố ý gọi trầm cảm là bệnh là vì muốn người đọc nghĩ về trạng thái trầm cảm một cách nghiêm trọng (nghiêm túc) hơn so với suy nghĩ thông thường coi đó chỉ là một trạng thái buồn chán nhất thời (và do đó có thể tự hết). Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra việc gọi (coi) trầm cảm là bệnh theo cách hiểu thông thường có thể làm cho những người muốn “chữa bệnh” – cho mình hoặc cho người khác – hiểu sai về bản chất của trầm cảm và vì thế có thể có cách tiếp cận hay những mong muốn “chữa bệnh” không thực tế. Bởi vậy mà tôi dịch giới thiệu bài viết này.

Tác giả, TS. Stephen Diamond, là một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý tại Los Angeles. Nguyễn Hồng Anh lược dịch từ bài gốc “Is Depression a Disease? The Recurring Nature of Depression” đăng trên Psychology Today ngày 01/09/2008 (truy cập ngày 28/07/2016).

Trầm cảm là gì? Nó có phải bệnh không? Một rối loạn tâm thần? Sự mất cân bằng sinh hóa? Một sự rối loạn chức năng của não bộ? Một hội chứng tâm lý? Một khủng hoảng hiện sinh hoặc tinh thần? Ở đây tôi muốn thảo luận về trầm cảm với tư cách một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý đã thực hành trị liệu tâm lý được hơn ba thập kỷ.

Theo tôi, câu hỏi quan trọng liệu trầm cảm (đơn cực hoặc lưỡng cực) có phải là bệnh không xuất phát từ việc áp dụng mô hình y khoa cho lý thuyết và thực hành tâm thần học và tâm lý học có phần cần ngờ vực. “Mô hình y khoa” (medical model) là gì? Mô hình y khoa là một hệ thuyết nền tảng của thực hành y học lâm sàng: Các triệu chứng được xem như biểu hiện của các tiến trình sinh lý bệnh học ([vẫn gọi đơn giản là] bệnh) có thể được chẩn đoán và điều trị. Mục đích của điều trị y khoa là loại bỏ, ngăn chặn hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Để làm giảm đau đớn và kéo dài sự sống nhiều nhất có thể. Kể từ thời Hippocrates, các thầy thuốc đã trung thành với hệ thuyết và cách thực hành này.

Mô hình y khoa là một cách nhìn đặc thù về đau đớn, hủy hoại, rối loạn chức năng và, rốt cục là, cái chết. Nó là một hệ thuyết, một lăng kính giúp các thầy thuốc và những người khác hiểu về các hiện tượng bất thường như bệnh bạch cầu (leukemia), tiểu đường, và giờ, trầm cảm và nhiều rối loạn tâm thần khác. Nhưng dù mô hình y khoa đã có những đóng góp lớn lao trong việc chẩn đoán và trị bệnh, việc áp dụng nó cho các trải nghiệm đặc thù như trầm cảm, chứng loạn thần, và lo âu là có vấn đề.

Không thể phủ nhận là những người trầm cảm nặng là người ốm. Trầm cảm có thể gây suy nhược và trong một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các triệu chứng thực thể như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau kinh niên, tiêu chảy, mất ngủ, v.v. thường xảy ra với trầm cảm chính yếu (major depression). Sử dụng thuật ngữ y khoa thì “điều trị” là bắt buộc. Câu hỏi thực sự là nên điều trị dạng nào? Câu trả lời một phần tùy thuộc vào cách hiểu về nguyên nhân gây trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần chính yếu khác như rối loạn lưỡng cực và loạn thần. Có nhiều lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây trầm cảm, nhưng không lý thuyết nào đã được chứng minh hoàn toàn thuyết phục. Các lý thuyết nhân quả này đưa ra các giải thích về sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra khả năng có ít nhất một vài yếu tố bẩm sinh về gien (genetic predisposition) đối với trầm cảm đơn cực và lưỡng cực, cũng như các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc. Nhưng yếu tố bẩm sinh sinh học không phải là quan hệ nhân quả. Một số tác nhân khác (đôi khi không được nhận dạng) như: mất mát, stress, sự tách biệt/cách ly, chấn thương/thương tổn (trauma), sự vô nghĩa, sự thất vọng, lạm dụng chất kích thích, sự giận dữ bị kìm nén lâu ngày có thể, và thường, góp phần quan trọng, nếu không muốn nói góp phần chính, dẫn tới những rối loạn nói trên.

Nhưng dù nguyên nhân căn bản của trầm cảm là gì, hiện các nhà lâm sàng vẫn chưa đưa ra được cho người trầm cảm các phương pháp điều trị hiệu quả và quyết liệt nhất. Áp dụng dược lý tâm thần (psychopharmacology) trong điều trị trầm cảm nặng, dù có những hạn chế, đã có tính đột phá và cứu mạng người trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm và thuốc điều hòa khí sắc làm được những điều mà trị liệu tâm lý không làm được: chúng làm giảm tương đối nhanh các triệu chứng gây đau đớn và suy nhược của trầm cảm và do đó đưa những biến động khí sắc nguy hiểm đến trạng thái ổn định. Điều này có chứng minh rằng trầm cảm căn bản là một bệnh lý sinh học? Không hề. Nó chỉ cho thấy rằng chúng ta đã may mắn tìm ra phương tiện sinh hóa để ứng phó với và kiểm soát những triệu chứng nguy cấp nhất của trầm cảm: rối loạn ăn và ngủ, mất hứng thú, thờ ơ, tâm trạng trầm uất hoặc hưng cảm, lo âu, xu hướng tự sát, v.v. Nhưng như TS Kramer khẳng định trong bài viết gần đây của ông, kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm được giảm nhẹ nhờ dùng thuốc, tình trạng trầm cảm bên dưới hiển nhiên vẫn còn, nên kể cả những người đang dùng thuốc vẫn có nguy cơ rơi vào các đợt mới trong tương lai. Hơn một nửa số người trải qua đợt trầm cảm lần thứ nhất có xu hướng tiếp tục trải qua các đợt trầm cảm mới ở một thời điểm nào đó [trong tương lai]. Xác suất tái phát tăng vọt (90%) nếu đã trải qua ba lần trầm cảm. Nguy cơ này nghĩa là gì? Nó dường như gợi ý rằng điều trị sinh hóa không giải quyết được vấn đề. Tính dễ tổn thương kéo dài tiềm tàng này có nghĩa là gì? Nó là cốt lõi trầm cảm, là trái tim của con rắn đa đầu Hydra.

Một số rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm, có thể được ví với Hydra huyền thoại: một con quái vật lớn trong thần thoại với chín cái đầu rắn, mỗi đầu đều tiết ra nọc độc chết người. Nhiều người phải chịu đựng vô số triệu chứng – như lo âu, trầm uất, đau kinh niên, bứt rứt, mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, các đợt hoảng loạn, v.v. – mà sau khi đã bị chế ngự bằng thuốc, lại quay trở lại còn khủng khiếp hơn. Người anh hùng Hercules trong thần thoại Hy Lạp đã phải đánh nhau với Hydra hủy diệt. Lừa nó ra khỏi hang, chàng lần lượt chặt đứt những cái đầu rắn của nó. Nhưng chẳng mấy chốc, mỗi chỗ bị chặt lại mọc ra hai cái đầu mới. Hơn nữa, Hydra gớm ghiếc còn có một cái đầu bất tử không thể tiêu diệt được. Hercules cuối cùng đã đánh bại Hydra hủy diệt như thế nào? Trước tiên, Hercules dùng lửa đốt những chỗ bị chặt để ngăn những cái đầu mới mọc ra. Sau đó, chàng chôn cái đầu bất tử của Hydra dưới một tảng đá lớn để vô hiệu hóa nó. Nhưng bởi vì cái đầu này là bất tử, Hydra không bao giờ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Nó chỉ bị làm yếu đi và bắt quy phục.

Trầm cảm có chút giống với Hydra. Bạn có thể thử loại bỏ các triệu chứng bằng thuốc (thậm chí kể cả trị liệu bằng sốc điện trong trường hợp không đáp ứng thuốc), nhưng chúng vẫn có xu hướng trở lại. Trầm cảm có thể bị đánh bại không? Không thể trừ phi tìm tới trái tim của Hydra. Gốc rễ của trầm cảm, theo quan sát lâm sàng của cá nhân tôi, cơ bản thường mang tính tâm lý hơn là sinh hóa – mặc dù hai khía cạnh này rõ ràng có ảnh hưởng lẫn nhau. Thường ở trung tâm của trầm cảm là những căm ghét, tức tối, giận dữ, oán hận bị đè nén. Bị bỏ rơi. Bị phản bội. Nản lòng. Thương tiếc khôn nguôi. Sự vô nghĩa. Sự tầm thường. Mất niềm tin. Nếu không can thiệp quyết liệt vào trung tâm cảm xúc, tinh thần và tâm lý này của trầm cảm, thì không thể giải quyết triệt để được. Chỉ có thể nén lại tạm thời. Đó là lý do tại sao điều trị trầm cảm bằng thuốc, dù vô giá, không thể thay thế được trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý tâm thần. Tấn công kép liên tục vào Hydra-trầm cảm sẽ ngăn chặn hoặc giảm thiểu những vấn đề chính yếu, và có thể kiềm tỏa được Hydra. Trong khi nhiều người có thể luôn mang những yếu tố sinh học gien và/hoặc tâm lý có khả năng dẫn tới một giai đoạn trầm cảm mới trong tương lai, điều trị bằng liệu pháp tâm lý như nói trên có thể giúp họ kiềm tỏa được những nguy cơ, chính là đánh bại được Hydra.

Trầm cảm có thể chữa được không? Nó có nên được điều trị như các bệnh khác không? Tôi nghĩ cái đó còn tùy. Một số dạng trầm cảm nhẹ tới trung bình và thậm chí nặng rõ ràng là phản ứng mang tính hoàn cảnh đối với stress, thương tổn, mất mát và các sự việc khác xảy ra trong đời. Những cái được gọi là rối loạn hoặc thậm chí các đợt trầm cảm chính yếu có thể được phục hồi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp được điều trị đầy đủ, đặc biệt là trị liệu tâm lý. Trầm cảm nặng và mãn tính như rối loạn khí sắc, rối loạn trầm cảm chính yếu tái phát, rối loạn khí sắc chu kỳ và rối loạn lưỡng cực đều giống Hydra, đòi hỏi phải có điều trị tích cực qua nhiều giai đoạn kéo dài. Nhưng kể cả trong những điều kiện dường như tương đối khó can thiệp, tiếp cận tới trái tim của Hydra với trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý có thể làm giảm cả mức độ và tần suất của các đợt trầm cảm và/hoặc hưng cảm. Bằng cách cải thiện điểm khởi phát giữa các đợt bằng trị liệu tâm lý, mức độ và tần suất của các đợt tiếp sau có thể giảm xuống. Trong khi việc chỉ dùng thuốc để đẩy lui Hydra có vẻ như sẽ khiến tăng dần liều dùng và tăng số loại thuốc cần dùng để kiềm chế nó, trị liệu tâm lý theo cách tôi gợi ý trong cuốn sách của mình có thể làm giảm sự phụ thuộc vào việc dùng thuốc, bởi ý nghĩa của trầm cảm và các nguồn gốc tâm lý của nó được trị liệu tận gốc.

Do đó, tôi đề xuất rằng trầm cảm không phải là một bệnh nên được điều trị theo cách như với tiểu đường chẳng hạn (mà bản thân bệnh này trong nhiều trường hợp đã được biết là có liên quan tới stress). Trầm cảm là một hội chứng sinh học–tâm lý–xã hội đòi hỏi nhiều hơn là chỉ can thiệp bằng thuốc và đang cần phải có những phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả hơn nữa.

Các bước phục hồi sức khỏe tâm thần

“Phục hồi sức khỏe tâm thần là một hành trình hàn gắn và thay đổi để một người có vấn đề về sức khỏe tâm thần có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa trong một cộng đồng do anh hay chị ấy lựa chọn trong khi nỗ lực để phát triển hết những tiềm năng vốn có của mình.”

–SAMSHA (the Substance Abuse and Mental Health Services Administration/Center for Mental Health Services) (http://www.samhsa.gov/)

Các bước phục hồi

Trầm cảm và rối loạn lưỡng cực là các rối loạn khí sắc – những bệnh lý thực sự có ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ, cơ thể, năng lượng, và cảm xúc. Cả hai bệnh này, đặc biệt là rối loạn lưỡng cực, có xu hướng lặp lại theo chu kỳ, nghĩa là bệnh có lúc lên lúc xuống.

Điều trị các bệnh này cũng có lúc lên lúc xuống. Dù chúng ta rất muốn, tình trạng khỏe mạnh không thể đến chỉ sau một đêm. Là bình thường nếu bạn ước rằng mình có thể khỏe hơn nhanh chóng hơn hay lo lắng là mình sẽ chẳng bao giờ khá hơn được. Tuy nhiên, hãy biết rằng bạn có thể thấy khá hơn, và về cơ bản bạn là người làm chủ quá trình phục hồi của mình. Có rất nhiều thứ bạn có thể làm để tự giúp mình.

Giảm các triệu chứng chỉ là bước đầu tiên trong điều trị trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Tình trạng khỏe mạnh, hay sự phục hồi, là sự trở lại của một cuộc sống mà bạn cảm thấy muốn sống. Sự phục hồi diễn ra khi căn bệnh của bạn ngừng chen ngang vào cuộc sống của bạn. Bạn là người quyết định “phục hồi” đối với bạn có nghĩa là gì.

Bạn có quyền được phục hồi theo những nhu cầu và mục tiêu của mình. Hãy nói chuyện với bác sĩ của mình (nguyên văn, health care provider – ND) về những gì bạn cần từ việc điều trị để đạt đến sự phục hồi mà bạn mong muốn. Bác sĩ của bạn có thể cung cấp những điều trị và/hoặc thuốc phù hợp nhất với bạn. Trong suốt quá trình, bạn có quyền được hỏi những câu hỏi liên quan đến những dạng điều trị được kê cho bạn và lựa chọn dạng điều trị của mình.

Cũng sẽ là hữu ích nếu bạn làm việc với cả chuyên gia tâm lý (therapist), người thân, bạn bè, hoặc những người đồng cảnh để xác định con đường phục hồi cho mình. Định nghĩa của bạn về một cuộc sống có ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian.

Đôi khi trầm cảm và rối loạn lưỡng cực có thể khiến việc đặt ra mục tiêu cho mình trở thành khó khăn. Bạn có thể cảm thấy dường như nghĩ về những điều bạn hy vọng hay quan tâm tới là bất khả thi. Nhưng xác định mục tiêu lại là một phần quan trọng của tình trạng khỏe mạnh, bất kể là bạn đang ở đâu trên con đường hồi phục. Hãy làm những gì bạn có thể khi nào bạn có thể.

Đặt mục tiêu

Xác định các mục tiêu trong cuộc sống là trung tâm của quá trình phục hồi. Khi chúng ta nhìn thấy một tương lai cho chính mình, chúng ta sẽ bắt đầu có động lực để làm những gì có thể để đi đến tương lai đó. Các mục tiêu có thể lớn hoặc nhỏ, tùy thuộc vào việc bạn đang ở đâu trong quá trình phục hồi.

Hãy hỏi mình:

  • Điều gì thúc đẩy tôi?
  • Điều gì làm tôi hứng thú?
  • Tôi sẽ làm gì hơn nữa nếu tôi có thể?
  • Tôi muốn gì?
  • Tôi quan tâm tới điều gì, hay tôi đã quan tâm tới điều gì trước khi tôi bị bệnh?
  • Tôi muốn cuộc đời mình đi về đâu?
  • Điều gì mang tới cho tôi niềm vui?
  • Các giấc mơ và hy vọng của tôi là gì?

Có thể bắt đầu với những mục tiêu nhỏ và dần dần hướng tới những mục tiêu lớn hơn. Bạn có thể muốn bắt đầu bằng việc đặt ra một mục tiêu nhỏ cho mình vào đầu mỗi ngày. Khi tình trạng của bạn được cải thiện hơn trong quá trình phục hồi, hãy nhìn vào những mảng khác nhau trong cuộc sống của mình và nghĩ về những mục tiêu ngắn và dài hạn.

Gợi ý mục tiêu ngắn hạn:

  • Ra khỏi giường trước xx:00 giờ sáng.
  • Hoàn thành một việc nhà.
  • Liên lạc với một nhóm tự hỗ trợ.

Gợi ý mục tiêu dài hạn hơn:

  • Tham gia tập huấn hoặc lấy kinh nghiệm để tìm việc.
  • Thay đổi gì đó về điều kiện sống, ví dụ tìm một căn hộ.
  • Xây dựng quan hệ với một người bạn hoặc một người thân trong gia đình.

Hãy nhớ là trước hết hãy bẻ các mục tiêu của bạn thành các bước nhỏ. Một mục tiêu kiểu như “chuyển tới một thành phố khác” có thể rất khó để hình dung và lập kế hoạch được ngay tức khắc. Hãy hỏi mình xem bạn cần làm gì trước tiên. Bạn có thể làm gì ngay bây giờ để sau này có thể đạt tới mục tiêu đó? Điều này không chỉ đưa bạn tới gần mục tiêu của mình hơn, mà còn có thể giúp bạn có được cảm giác tích cực hơn vì đã hoàn thành một điều gì đó.

Tôi có thể làm những gì để cảm thấy khá hơn?

Hiểu được sự khác biệt giữa những triệu chứng bệnh của bạn và con người thật của bạn.

Bác sĩ của bạn có thể giúp bạn phân biệt được con người thật của bạn với những triệu chứng của bệnh bằng cách giúp bạn nhìn ra bệnh của bạn ảnh hưởng tới hành vi của bạn như thế nào. Hãy cởi mở về những hành vi bạn muốn thay đổi và đặt ra mục tiêu để tạo ra những thay đổi đó.

Tăng cường hiểu biết cho gia đình bạn.

Hãy để gia đình và bạn bè bạn tham gia vào quá trình điều trị những khi có thể. Họ có thể giúp bạn xác định các triệu chứng, theo dõi hành vi, và có thêm cách nhìn khác. Họ cũng có thể đưa ra những phản hồi mang tính khuyến khích và giúp bạn lập kế hoạch để ứng phó với những khủng hoảng trong tương lai.

Hướng tới lối sống lành mạnh.

Phục hồi cũng có nghĩa là một cuộc sống lành mạnh, trong đó bao gồm ngủ đủ giấc, ăn những đồ ăn lành mạnh, và tránh đồ uống có cồn, ma túy, và các hành vi rủi ro.

Tìm ra cách điều trị phù hợp cho mình.

Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về các ảnh hưởng của thuốc mà bạn dùng, nhất là các tác dụng phụ gây phiền hà cho bạn. Bạn nhớ phải theo dõi các ảnh hưởng này để có thể trao đổi đầy đủ thông tin với bác sĩ. Bạn có thể sẽ cần một liều thấp hơn, một liều cao hơn, hay một loại thuốc khác. Bạn có thể cần chuyển từ uống thuốc vào buổi sáng sang uống vào buổi tối, hoặc uống thuốc khi ăn no. Có rất nhiều khả năng [điều chỉnh] mà bạn và bác sĩ của bạn có thể thử. Các tác dụng phụ có thể được giảm nhẹ hoặc biến mất. Điều rất quan trọng là bạn phải nói chuyện với bác sĩ của mình trước khi thay đổi bất cứ điều gì trong dùng thuốc.

Luôn luôn phải nói chuyện với bác sĩ của bạn trước tiên nếu bạn cảm thấy muốn thay đổi liều hoặc ngưng dùng thuốc. Hãy giải thích xem bạn muốn thay đổi thế nào và tại sao bạn nghĩ thay đổi đó lại tốt hơn cho bạn.

Thuốc điều trị trầm cảm và rối loạn lưỡng cực

Bác sĩ của bạn có thể kê một hoặc nhiều hơn trong số những dạng thuốc sau đây để điều trị các triệu chứng bệnh:

  • Thuốc ổn định tinh thần (mood stabilizers): Những thuốc này giúp cân bằng giữa tình trạng trầm cảm và hưng cảm của bạn. Một số thuốc nhóm này còn được gọi là thuốc chống co giật (anticonvulsants), vì chúng cũng được sử dụng để chữa bệnh động kinh.
  • Thuốc chống trầm cảm (antidepressants): Những thuốc này giúp cải thiện các triệu chứng của trầm cảm. Có vài dạng thuốc chống trầm cảm khác nhau.
  • Thuốc chống loạn thần (Antipsychotics): Những thuốc này chủ yếu được dùng để điều trị hưng cảm. Kể cả khi bạn không có ảo giác, những thuốc này đều giúp giảm tốc cho những suy nghĩ bấn loạn của bạn để chúng trở về mức có thể kiểm soát được.

Trị liệu bằng nói chuyện

Có nhiều dạng trị liệu bằng nói chuyện (talk therapy) có thể giúp bạn tháo gỡ những vấn đề trong cuộc sống và học những cách mới để có thể xoay xở với căn bệnh của mình. Đặt ra mục tiêu là một phần trong trị liệu bằng nói chuyện.

Trị liệu bằng nói chuyện có thể giúp bạn:

  • Hiểu hơn về bệnh của mình.
  • Vượt qua những nỗi sợ hãi hoặc bất an.
  • Xử lý stress.
  • Hiểu được những sang chấn trong quá khứ.
  • Tách bạch được con người thật của bạn và những dao động tâm trạng gây ra bởi căn bệnh của bạn.
  • Xác định các tác nhân kích thích có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng bệnh của bạn.
  • Cải thiện quan hệ của bạn với gia đình và bạn bè.
  • Tạo lập một thói quen sinh hoạt (routine) ổn định, đáng tin cậy.
  • Lập một kế hoạch ứng phó với các khủng hoảng.
  • Hiểu được tại sao có những vấn đề khiến bạn cảm thấy phiền muộn và bạn có thể làm gì với chúng.
  • Ngưng các thói quen gây hại như dùng đồ uống có cồn, dùng ma túy, tiêu xài quá mức, hoặc quan hệ tình dục rủi ro (risky sex).
  • Xử lý các triệu chứng như thay đổi nếp ăn hoặc nếp ngủ, giận dữ, lo lắng, bứt rứt, hoặc những cảm giác không thoải mái.

Lối sống

Một lối sống lành mạnh luôn luôn là quan trọng. Kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm hay rối loạn lưỡng cực gây khó khăn cho những hoạt động thể chất, ăn uống lành mạnh, hay ngủ đủ giấc, bạn vẫn có thể cải thiện tâm trạng của mình bằng cách cải thiện sức khỏe. Hãy tận dụng những ngày bạn cảm thấy ổn. Vào những ngày này, hãy làm gì đó có lợi cho sức khỏe của mình. Có thể chỉ đơn giản là đi bộ một chút, ăn rau hay hoa quả tươi, hoặc viết nhật ký. Nói chuyện về thay đổi trong lối sống nên là một phần trong việc đặt mục tiêu mà bạn bàn với bác sĩ của mình.

Kế hoạch điều trị của bạn sẽ là duy nhất với bạn. Nó sẽ đi theo một số nguyên tắc và tiến trình, nhưng bạn và bác sĩ của bạn có thể điều chỉnh nó cho phù hợp với bạn.

Nguyễn Hồng Anh trích dịch từ Depression and Bipolar Support Alliance.

Sống chung với trầm cảm và rối loạn lưỡng cực

Sống tốt

Trong một bài báo trên Australian and New Zealand Journal of Psychiatry số tháng 03/2005, TS [Sarah] Russell cho biết chị đã khảo sát một trăm bệnh nhân rối loạn lưỡng cực đã sống tốt trong hai năm liền hoặc nhiều hơn. Sống tốt đối với một số người nghĩa là không còn các triệu chứng bệnh và cư xử bình thường. Với những người khác lại là cảm giác có thể kiểm soát được căn bệnh của mình. 76% số người tham gia khảo sát vẫn làm việc và có thu nhập, 38% có con cái.

TS Russell phát hiện thấy những bệnh nhân thành công [trong việc sống tốt với căn bệnh của mình] là những người có ý thức rõ ràng về chẩn đoán tình trạng của mình và “việc họ phản ứng như thế nào với hoàn cảnh vật chất, xã hội, cảm xúc, và tinh thần của họ”. Không chỉ đơn giản là dùng thuốc và quên đi căn bệnh của mình (một tư tưởng được tạo ra bởi các bác sĩ của họ), các bệnh nhân này sẽ “nhanh chóng hành động để ngăn chặn tình trạng dao động về tâm trạng (mood swing) của mình”. Nhanh chóng hành động thường có nghĩa là ngủ một giấc thật ngon vào buổi đêm và các hoạt động chiến lược dạng ngừng-mọi-việc-lại-và-thưởng-thức-hương-thơm-của-hoa-hồng (stop-and-smell-the-roses).

Những bệnh nhân trong nghiên cứu biết cách nhận dạng các nhân tố gây kích thích tới tâm trạng của họ, và họ cho biết chúng cần được xử lý sớm hơn nhiều trước khi chờ được lời khuyên từ bác sĩ. Đến khi những vấn đề về tình dục, năng suất lao động, và hưng cảm nhẹ (hypomania) bắt đầu phát ra thì thường là đã quá muộn. Thay vào đó, họ rất nhạy bén với những thay đổi dù là nhỏ nhất về giấc ngủ, tâm trạng, suy nghĩ, và mức năng lượng của mình.

Hầu hết những người tham gia đều rất hào hứng với việc duy trì nếp ngủ của mình. Khi có điều gì làm xáo trộn cuộc sống thường ngày của họ, họ sẽ không ngần ngại uống một liều thuốc ngủ. Bên cạnh đó, những người này làm những gì có thể để giảm thiểu stress trong cuộc sống của mình. Những lựa chọn thông minh về lối sống (chế độ ăn, thể dục, v.v.) như là một điều bắt buộc, trong đó bao gồm những thay đổi lớn về nghề nghiệp, nếu như đã ở tình trạng “nước sôi lửa bỏng” (if push came to shove). Tự giáo dục cho mình là một điều cốt yếu và hỗ trợ từ bên ngoài là có ý nghĩa.

Những người tham gia nghiên cứu này thường mất một thời gian loay hoay tìm kiếm cho tới khi họ tìm được một bác sĩ tâm lý (psychiatrist) phù hợp với mình. 85% có dùng thuốc. Điều chỉnh về liều dùng là thường thấy, nhưng những thay đổi trong dùng thuốc không có tác động nhiều bằng việc thay đổi lối sống. Nhiều người kết hợp dùng thuốc với những điều trị bổ sung khác như liệu pháp nhận thức (cognitive therapy), bổ sung dinh dưỡng, trị liệu tự nhiên (naturopathy), tâm trị liệu (psychotherapy), Đông y, massage, thái cực quyền, thiền tập, và yoga (thường bất chấp sự phản đối của các bác sĩ tâm lý của họ). Mười người sống tốt chỉ nhờ trị liệu bằng nói chuyện (talking therapy) mà không dùng thuốc.

TS Russell đặc biệt ấn tượng bởi “kế hoạch sống tốt” của các bệnh nhân này, từ việc nói chuyện để tăng cường hiểu biết với các thành viên trong gia đình và những người khác cho tới những kế hoạch được viết ra. Đây không phải là chuyện các bệnh nhân bị ám ảnh bởi căn bệnh của họ, mà, chị viết: “Khi [họ] cảm thấy khỏe, căn bệnh lùi lại phía sau trong tâm trí họ. Khi đó nó không đóng một vai trò lớn trong cuộc sống của họ, nhưng họ biết rằng nó còn ở đó. Mặt khác, khi họ gặp phải những tác nhân gây kích động và cảm nhận được ‘các dấu hiệu cảnh báo sớm’ thì đó là lúc cần trở nên thận trọng.”

Ngăn ngừa tự tử

Đối với nhiều người trong chúng ta, căn bệnh mình phải chịu đựng vào lúc tệ nhất cảm giác giống như có một thứ gì đó đâm xuyên qua hộp sọ. Tự tử thường không phải là câu hỏi về sống hay chết, mà chỉ đơn giản là để thoát khỏi nỗi đau. Như Violet mô tả: “Mặc dù tôi thực sự không muốn chết vì tôi sợ phải xuống Địa ngục, tôi vẫn muốn nỗi đau của mình ngừng lại. Tôi cảm giác như thể nếu không có một cái gì đó xảy ra thì tôi sẽ lại suy sụp và làm điều gì đó điên rồ.”

Đa số mọi người sống sót với căn bệnh trầm cảm, nhưng cái viễn cảnh tìm thấy chính mình trong đám đông may mắn đó không làm cho chúng ta nhẹ nhõm đi được là bao. Trải nghiệm này đã bộc lộ hết những điểm yếu nhất của chúng ta, và sâu thẳm bên trong chúng ta không còn tin vào những gì ngày mai có thể mang đến. Chúng ta có thể sẽ vẫn đi lại và hít thở, nhưng chúng ta đã từng cận kề cái chết y như vẫn cận kề sự sống, và tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ để cho chúng ta quên đi điều đó.

Chúng ta suy nghĩ về số phận của nhóm thiểu số không may mắn, và đôi khi chúng ta phải thốt ra lời cầu nguyện. Chúng ta nghĩ về những sự tra tấn tinh thần mà họ đã phải trải qua và biết rằng chẳng có Chúa nào sẽ đánh giá điều gì chống lại họ. Hôm nay chúng ta đang là những người may mắn, nhưng ngày mai có thể sẽ khác.

Tuy nhiên, bạn có thể lập kế hoạch cho ngày mai. Bạn có thể bắt đầu bằng việc theo dõi các suy nghĩ và cảm xúc của mình thật cẩn thận. Bạn có thể nhận dạng được những dấu hiệu dù là nhỏ nhất trong tâm trí mình trước khi một cơn khủng hoảng được phát triển đầy đủ và làm bạn quá tải.

Forney_Marbles_MoodCarousel

Hình từ Marbles: Mania, Depression, Michelangelo, and Me
của Ellen Forney (Gotham/Penguin, 2012)

Trong thời gian này, hãy nuôi dưỡng các mối quan hệ với bạn bè và các thành viên trong gia đình mà bạn có thể tin cậy. Nếu bạn không có bạn bè hay người thân nào mà bạn có thể tin cậy, hãy tìm kiếm một nhóm tự hỗ trợ (support group, một nhóm những người sống chung với căn bệnh này chia sẻ kinh nghiệm với nhau – ND). Những người mà bạn tin cậy nên là những người có thể ra quyết định trong những tình huống khủng hoảng thực sự, trong đó có việc đưa bạn đi cấp cứu.

Hy vọng là một điều vô nghĩa khi khủng hoảng đã xảy ra. Điều tốt nhất bạn có thể làm là cho mình thêm 24 giờ, và cố gắng bám vào ý nghĩ rằng những gì tâm trí của bạn đang thôi thúc chỉ là nhất thời. Theo một nghiên cứu năm 1978 của TS Richard Seiden, theo dõi 515 người đã được ngăn không cho nhảy xuống từ Cầu Cổng Vàng cho thấy 94% trong số đó vẫn còn sống sau 25 năm kể từ ngày họ có ý định tự sát hoặc đã chết vì những nguyên nhân tự nhiên, trong khi chỉ có 6% sau đó đã tự sát. TS Seiden đã nói trong một bản tin của ABC: “Toàn bộ mấu chốt của việc ngăn ngừa tự tử là một người không phải lúc nào cũng muốn chết trong cả cuộc đời mình. Việc đó [tự tử] liên quan tới khủng hoảng. Và nếu chúng ta có thể giúp họ qua được khủng hoảng đó, họ sẽ có cơ hội có một cuộc sống an lành.”

Sử dụng túi mẹo của riêng mình

Các nhóm tự hỗ trợ là một nguồn vô giá để học cách nhận dạng các thăng trầm của căn bệnh của mình – bao gồm các tác nhân tiềm ẩn gây kích động và các nguy hiểm khác – để tự tạo ra cho mình một túi mẹo (bag of tricks) để tự xoay xở trong cuộc sống, từ việc quản lý cơn giận cho tới xử lý stress khi chẳng may có ai đó gây bức xúc hay ức chế cho bạn. Theo thời gian, những gì từng làm bạn cảm thấy bất lực sẽ trở thành có thể quản lý được.

Vì chúng ta có xu hướng tự cô lập – điều có thể khiến bệnh tự nặng thêm – ra khỏi nhà là một việc quan trọng, kể cả khi chỉ là ra để lấy thư. Đi cà phê với bạn (nhưng uống thứ không caffeine thì tốt hơn) có thể tốt hơn cả uống thuốc chống trầm cảm, hoặc có thể làm cho thuốc có tác dụng tốt hơn. Những người đang không thể làm việc rất rất nên dành một đến hai ngày một tuần làm một việc tình nguyện nào đó.

Một trong những kỹ thuật ứng phó không gì thay thế được của tôi là Senfeld Gambit. Trong đầu tôi có tới cả triệu thứ nhảy ra cùng một lúc, nhưng oái oăm là tôi chỉ có thể mỗi lúc tập trung vào một thứ mà thôi. Do đó, khi tôi cười to tôi không thể tập trung vào những ý nghĩ tối tăm đẩy tôi vào cơn trầm cảm được. Cách đơn giản nhất để loại bỏ những suy nghĩ này và cười là tôi nghĩ đến bất cứ thứ gì từ bộ Senfeld. Đây chỉ là một giải pháp siêu tạm thời, phải nhắc bạn thế, nhưng cũng có những hiệu quả nhất định.

Emily, một người đăng ký nhận newsletter của tôi, cho biết một cách khác: “Tôi nhận thấy rằng niềm vui khi cù bọn trẻ con và nghe chúng ré lên cười giúp ích cho tôi những khi tôi chán ngán bản thân mình vì là một người mẹ trầm cảm. Bạn chẳng làm được gì ngoài việc cười! Bọn trẻ thì đi ngủ trong an lành, được thư giãn, và cảm thấy được yêu thương.”

KJ, một người yêu động vật và làm tình nguyện tại một trang trại động vật, viết:

Khi tôi rơi vào trạng thái đặc biệt tệ, tôi cố gắng đưa tâm trí của mình tới trang trại, đi từ chuồng này sang chuồng khác để thăm nàng lợn Dottie, chú dê vùng Tennessee tên Nashville, chú lạc đà Nam Mỹ tên Nho khô, và nhiều nhiều nữa. Điều đó rất dễ chịu và giúp làm vợi đi những cảm xúc tiêu cực mà tôi phải trải qua cho tới thời điểm đó. Tôi có rất, rất nhiều những cảm xúc yêu thương, trìu mến, và ấm áp đối với những con vật đó nên việc “đi thăm” chúng trong đầu cũng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới tôi.

Ed thì chia sẻ thế này: “Tôi cố gắng tích cực và giao lưu với những người tích cực. Tôi tránh những suy nghĩ tiêu cực và những người tiêu cực. Tôi rất dễ bị trầm cảm.”

Tom thì có cách “từ bỏ” để thoát khỏi những ám ảnh về việc phải trả đũa quá khứ (settling old scores) và khiến mình cảm thấy thanh thản hơn phần nào.

Một vài độc giả khác của tôi gợi ý những hoạt động mà họ hứng thú: đi dạo, xem phim hài, xem một chương trình TV về nấu ăn, đọc sách, đại khái vậy. Tôi theo đúng nghĩa đen đã phải viết ra con đường thoát khỏi đợt trầm cảm gần nhất của mình, và nó giúp tôi tránh đi những cơn trầm cảm trong tương lai. Và đừng quên giá trị của một con vật nuôi. Đây là để tiện thể khoe về chú mèo Holly của chúng tôi.

Hãy bắt đầu từ bất cứ đâu

Tôi yêu lời khuyên này. Nó đến từ cuốn The Power of Procovery của Kathleen Crowley. Kathleen đã phát điên bởi những đau đớn kinh niên nặng nề và liên tục. Như chị giải thích trên website của mình: “Cốt lõi của phương pháp procovery [tạm dịch, phục hồi tối đa] là tiến về phía trước khi bạn không còn đường lùi, để quá khứ ra đi và xây dựng lại những giấc mơ mới.”

Một phần của quá trình này là nhận thức được rằng những vấn đề lớn không nhất thiết phải đòi hỏi những giải pháp lớn. “Những thay đổi nhỏ,” chị viết, “có thể có tác động lớn.” “Chúng ta bắt đầu từ đâu?” là một băn khoăn dễ khiến chúng ta nản lòng. “Hãy bắt đầu từ bất cứ đâu,” chị khuyên, “cho dù đó là điều thứ nhất hay thứ năm hay thứ 30 trong danh sách những việc ta muốn làm, dù là đi kiếm một con cá vàng hay là đi kiếm việc.”

Tuy thế, tình trạng tê liệt gây ra bởi trầm cảm có thể biến những việc siêu nhỏ thành việc siêu to. Điều này dễ thấy nhất là ngay trong nhà chúng ta, bọn quần áo bẩn thì không chịu tự giặt, bọn bát đĩa bẩn thì không chịu tự lết xác vào bếp, bọn quần áo và các kiểu đồ dùng thì cứ nửa đêm tự động nhảy ra khỏi tủ rồi đua nhau nằm ngả ngốn ra giữa sàn.

Giải pháp? Cứ bắt đầu đi, từ đâu cũng được.

Nguyễn Hồng Anh trích dịch từ cuốn Living Well with Depression and Bipolar Disorder (tạm dịch, Sống Tốt với Trầm cảm và Rối loạn Lưỡng cực) © 2006 by John McManamy. Tựa đề bài viết do người dịch bịa ra, hình minh họa cũng do người dịch kiếm ở nơi khác về.