Tag Archives: Tim Parks

Ý nghĩa của giải Nobel Văn học

Sự so sánh sau đây là rất khập khiễng, nhưng về một khía cạnh nhỏ nào đó, tôi thấy giải Nobel Văn học cũng không khác gì một giải thưởng Hoa hậu. Tuy những người được đề cử cho this noble Nobel không tự ghi tên mình vào “cuộc thi” tưởng tượng này như các chị em (hay như các nhà văn Việt Nam phải tự nộp đơn xin xét giải thưởng tôn vinh gì gì đó), thì rốt cục người được trao giải đều là lựa chọn của một nhóm nhỏ những người được gọi là chuyên gia. Vậy nhưng công chúng lúc nào cũng hồi hộp theo dõi kết quả của sự lựa chọn ấy và luôn luôn chia thành hai “phe” lớn mỗi khi quyết định cuối cùng được đưa ra: ủng hộ hoặc phản đối. Giữa hai phe lớn này là hai nhóm nhỏ hơn: hoang mang chả biết đằng nào mà lần hoặc thấy chả ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới cả.

Cách đây năm năm (2011), nhà văn, dịch giả, và cũng là nhà nghiên cứu và giảng dạy về văn học và dịch thuật Tim Parks có viết một bài mà tôi tin là tựa ban đầu của nó là “Why the Nobel Prize in Literature is silly” (Vì sao giải Nobel Văn học là ngớ ngẩn), sau đã được sửa thành “What’s wrong with the Nobel Prize in Literature” (Vấn đề của giải Nobel Văn học) cho dễ nghe hơn. Tôi không hẳn đồng ý với ông Parks về các lý lẽ mà ông đưa ra trong bài viết này, nhưng tôi lại hết sức đồng tình với quan điểm cơ bản của ông, đó là không nên quá coi trọng giải Nobel Văn học (“our foolishness at taking it seriously”).

Xét cho cùng, một cái mác của giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn từ không thích chuyển sang thích một tác giả nào đó không? KHÔNG! Và thiếu đi một cái mác giải Nobel Văn học cao quý có khiến bạn bớt yêu quý một tác giả ưa thích của mình không? KHÔNG nốt! Nếu bạn trả lời có cho một trong hai câu hỏi trên thì xin hỏi bạn đọc sách vì điều gì vậy?

Nếu bạn cảm thấy tiếc nuối vì nhà văn bạn yêu thích không được giải Nobel Văn học? Tốt nhất bạn hãy viết thư cho nhà văn ấy để hỏi ông ấy hay bà ấy có mong muốn được giải Nobel Văn học như bạn mong muốn ông ấy hay bà ấy được giải hay không. Và rất có thể trước khi viết thư, bạn hãy dành chút thời gian tìm hiểu xem vì sao Jean-Paul Sartre đã từng viết một bức tâm thư rất dài gửi tới Hội đồng chấm giải để giải thích tại sao ông từ chối nhận giải thưởng này.

Vậy ý nghĩa của giải Nobel Văn học là gì?

Trước hết, như mọi giải thưởng khác, giải Nobel Văn học tôn vinh một tập hợp giá trị nào đó, mà ở đây nôm na là giá trị của văn học. Nghĩa là những tác giả nào theo Hội đồng chấm giải được xem là tạo ra những giá trị đáng quý cho văn học. (Dù những tiêu chí lựa chọn cụ thể chưa bao giờ được công bố mà chỉ thỉnh thoảng lại thấy một thành viên hội đồng lên tiếng giải thích rằng tiêu chí này hay tiêu chí nọ mà công chúng đồn đoán (ví dụ, ảnh hưởng chính trị) không phải là tiêu chí mà họ xem xét để trao giải.)

Tuy tiêu chí không được công bố với công chúng, phải thừa nhận rằng xưa giờ giải Nobel Văn học toàn được trao cho những người viết có chất lượng. Bởi vậy mà người ta tin vào kết quả lựa chọn của Hội đồng chấm giải. Kết quả là, giải Nobel Văn học đã và đang mang tính định hướng công chúng rất lớn. Các con số thống kê chỉ ra rằng cứ mỗi khi kết quả của giải Nobel Văn học được công bố thì ngành xuất bản bắt đầu đổ xô đi xuất bản, tái bản, và dịch sách của những nhà văn được giải còn công chúng thì đổ xô đi mua và tìm đọc, kể cả với những người đã nổi tiếng ngất trời và giàu sụ như Bob Dylan! Giữa một biển tác giả tác phẩm, vàng thau lẫn lộn, biết chọn ai bây giờ? Thôi thì đọc thử một ông/bà được giải Nobel xem thế nào.

Nhưng dù có bao nhiêu người hết sức tin tưởng vào Hội đồng chấm giải Nobel, đây vẫn là câu chuyện về giá trị nên hiển nhiên là mọi lựa chọn của Hội đồng đều làm hài lòng một phần công chúng và không làm hài lòng một phần khác. (Chỉ là nhóm công chúng không hài lòng có làm ầm ĩ lên không mà thôi.)

Vậy khía cạnh tích cực của việc tôn vinh này là gì?

Tôi nghĩ là ít nhất họ tăng sự chú ý của công chúng tới một tác giả có chất lượng. Dĩ nhiên vì luật chơi là mỗi năm một người nên mỗi năm họ chỉ giới thiệu được có một mà thôi. Nếu bạn thật lòng quan tâm tới việc tìm kiếm những tác giả, tác phẩm có chất lượng, việc bạn cần làm không phải là hàng năm chỉ hồi hộp chờ đợi kết quả của giải Nobel Văn học hay bất cứ giải thưởng văn học nào khác mà hãy hàng ngày (hay hàng tuần) theo dõi các mục điểm sách, giới thiệu sách, giới thiệu tác giả từ vô vàn những tờ báo, chuyên mục, website, hay tài khoản twitter mà bạn thích.

Năm 2016 này, với việc trao giải Nobel Văn học cho một người được biết đến với tư cách một nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn hay nhà thơ, giải Nobel Văn học đã (một lần nữa) đẩy một giá trị khác của nó từ cánh gà lên sân khấu chính: tái định nghĩa văn học. Nobel năm nay không chỉ đưa ra định nghĩa về giá trị của văn học mà nó đã định nghĩa lại về chính khái niệm này.

Dù bạn muốn hay không, mọi khái niệm trên đời này vẫn luôn được định nghĩa và tái định nghĩa liên tục trong suốt lịch sử phát triển của loài người. Khái niệm “văn học” cũng vậy. Người ta đang phản ứng ồn ào với việc trao giải Nobel Văn học cho Bob Dylan vì hành động này đang thách thức cách hiểu của tất cả mọi người về khái niệm “văn học”. Nếu chiểu theo cách hiểu truyền thống thông thường về văn học, thì có lẽ chỉ có một tập thơ và một cuốn hồi ký của Dylan được xếp vào địa hạt này – mà đó thì hiển nhiên không phải là di sản có giá trị nhất của ông và cũng không thể sánh được với các di sản văn học ở dạng truyền thống hơn của rất nhiều nhà văn khác. Phải chăng những ca từ trong các bài hát của Dylan cũng được xếp vào phạm trù “văn học”?

Có vẻ như Hội đồng giải Nobel Văn học đã xếp như thế!

Thật ra thì các lời bài hát của Dylan đã được giới học giả văn chương nghiên cứu lâu rồi, nhưng công chúng bên ngoài chẳng mấy ai quan tâm làm gì. Vả lại, ngay trong giới học giả cũng không thống nhất xem các lời ca ấy khi đứng độc lập, không đi với âm nhạc, mang tính văn chương tới đâu.

Dĩ nhiên Dylan cũng không phải là ngoại lệ.

Xin hỏi có bao nhiêu người nghe nhạc trên Trái đất này đã dành thời gian chỉ đọc lời bài hát mà không cần nghe phần nhạc? Bao nhiêu người đã từng chép lời bài hát vào sổ tay (khi đang không nghe nhạc)? Bao nhiêu người đã ngồi dịch lời một bài hát nào đó sang một ngôn ngữ khác? Bao nhiêu người đã từng trích dẫn một câu trong lời bài hát lên facebook hay twitter hay một chốn nào khác tương tự? Nếu nghĩ về những điều ấy, có thể bạn sẽ thấy rằng ranh giới giữa lời bài hát và phạm trù văn học cũng không thật quá rõ ràng.

Nếu nhìn về giải Nobel Văn học vượt ra ngoài ý nghĩa rất dễ thấy và phổ biến của nó là tôn vinh một cá nhân xuất sắc, hay là tôn vinh những giá trị nào đó của văn học, thì giải Nobel năm 2016 này đã làm được một điều mà rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển đã làm được (và chính nhờ thế mà đã được tôn vinh): thách thức tư duy của cả nhân loại.

Đọc bình luận của Tim Parks về giải Nobel Văn học năm nay:

Bob Dylan: The Music Travels, The Poetry Stays Home

Thế giới bên bậc cửa nhà

Tác giả Tim Parks là tác giả và dịch giả của nhiều tác phẩm hư cấu và phi hư cấu, sinh ra tại Anh và hiện sống ở Ý. Ông là giáo sư văn học tại Đại học Truyền thông và Ngôn ngữ ở Milan (IULM). Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc “The migrants in our living room” đăng trên POLITICO, theo bản cập nhật lúc 8:02 AM CET ngày 05/09/2015. Tựa đề tiếng Việt được dịch theo slug của trang (The world on our doorstep), có thể là tựa đề ban đầu của bài báo.

Họ đến với chúng ta, do bị thu hút bởi những gì chúng ta nói và cách chúng ta sống. Và chúng ta thấy ngạc nhiên?

MILAN — Trong quá khứ người ta vượt biên đi tị nạn, rồi chờ đợi cơ hội để trở về. Họ muốn được trở về quê hương. Chúng ta có thể gửi viện trợ, hoặc là không. Chỉ có những người bị khủng bố thực sự hoặc những kẻ làm ăn bất chính mới tìm đường đến với những nền dân chủ cũ, những trung tâm thương mại thịnh vượng. Hiếm khi mới có một cuộc khủng hoảng đặc biệt mà có ai đó phải đứng ra nhận trách nhiệm: 27.000 người Uganda gốc Á tới Anh vào năm 1972; hơn một triệu người Việt Nam tới châu Âu khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Những sự kiện này không xảy ra thường xuyên; và có thể quản lý được.

Bây giờ tình hình đã khác. Giờ đây số người, không, số các dân tộc mới đúng, đang đổ bộ ồ ạt lên các bãi biển của chúng ta là nhiều vô kể. Cả biển người đã hạ đổ các hàng rào biên giới. Họ không tìm kiếm sự an toàn. Trái lại, họ đang chấp nhận nhiều rủi ro để di cư. Họ nhảy khỏi máy bay để tìm đến các thành phố của chúng ta. Họ chen chúc trong những chiếc công-ten-nơ tối tăm. Họ đi bộ nhiều dặm dọc theo các đường hầm xuyên biển. Phụ nữ sinh con trên những con tàu đang chìm dần. Trẻ con chết trên những bãi cát. Những điều đó không ngăn được họ lại. Hơn cả việc tìm một nơi trú ẩn, họ muốn có một cuộc sống. Họ muốn có ngay bây giờ. Và họ biết cuộc sống ấy có ở nơi nào: Đức, Pháp, Anh. Họ muốn có cuộc sống mà chúng ta đang có.

Và chúng ta ngạc nhiên trước điều đó.

*  *  *

Đã nhiều năm nay chúng ta hay nói về “một thế giới.” Chúng ta nói về nhân quyền phổ quát. Chúng ta xuất hiện ở mọi nơi để áp đặt ý thức hệ của chúng ta, tạo ra nhiều rối ren. Chúng ta có mạng toàn cầu. Phải có thông tin miễn phí, phải có tự do ngôn luận. Mỗi một người đều phải được tiếp cận. Mọi thứ phải có sẵn ngay và luôn ở khắp mọi nơi. Chúng ta mang phim truyền hình của mình đi chiếu khắp năm châu bốn bể, huyênh hoang về các quyền tự do của chúng ta. Chúng ta lôi kéo người ở khắp các hang cùng ngõ hẻm vào các môn thể thao và giải trí của chúng ta. Chúng ta mua những vận động viên giỏi nhất của họ. Những người giàu nhất của họ thì xúng xính trong những chiếc áo đấu của các đội bóng của chúng ta. Họ trả tiền cho những trò vui của chúng ta, rồi chúng ta bán lại cho họ qua vệ tinh.

Và rồi chúng ta ngạc nhiên khi thấy tự dưng một ngày cả thế giới xuất hiện bên bậc cửa nhà mình.

Những người nghèo trên thế giới đâu còn ngu ngốc nữa. Họ đã hết ngây thơ rồi. Những tầng lớp trung lưu mệt mỏi ở Syria, Libya, Palestine, Iraq thì lại càng không. Họ đã thấy cuộc sống của chúng ta. Họ biết nhà tắm của chúng ta lát gạch gì và bếp của chúng ta có những đồ gì. Họ biết mọi ngôi sao của chúng ta và mọi chuyện ngớ ngẩn xung quanh. Họ theo dõi bầu cử ở Mỹ. Họ chơi bóng đá và cricket và bóng bầu dục với chúng ta. Họ đã ngồi cùng chúng ta trong phòng khách của chúng ta, hoặc có cảm giác như thế. Cũng như chúng ta, tâm trí họ giờ đây bị cuốn vào một không gian ảo nơi mọi thứ xuất hiện trên màn hình và tất cả mọi người cùng tụ tập trên mạng. Khác biệt giữa một người ngồi trước màn hình ở Chelsea và một người ngồi trước màn hình ở Damascus là gì? Tại sao người này lại có một cuộc sống tốt hơn người kia? Họ đã không còn quá gắn bó với quê hương, với quá khứ nữa. Họ là một phần của hệ thống mới, một lối tư duy toàn cầu. Khi mất đi sinh kế và điều kiện sống bị đe dọa, họ sẽ đột ngột tính toán rất nhanh và sẵn sàng xê dịch. Họ sẵn sàng cho bất kỳ điều gì có thể xảy ra. Họ muốn có tương lai và họ muốn có ngay bây giờ.

Trên tất cả, họ biết những gì chúng ta cho là tốt. Họ cảm nhận được sự thừa mứa của chúng ta.

*  *  *

Đã nhiều thế kỷ nay chúng ta vẫn tự bảo mình là giàu có và tử tế không có gì mâu thuẫn với nhau hết. Cuộc tranh luận đã bắt đầu từ thời Phục hưng. Hãy quên sự nghèo đói của đấng Ki-tô đi, hãy phát triển nhà thờ bằng sự giàu có của các thương gia và các ông chủ nhà băng, hãy nhớ tới hình ảnh ba vị vua mang vàng đến máng cỏ. Người giàu giờ là người bảo trợ cho nghệ thuật, nhà thờ, và các quỹ từ thiện. Sự giàu có của họ là chính đáng. No đủ và thanh lịch, họ được tự do tận hưởng những sự xa xỉ bậc nhất mà vẫn yên tâm rằng mình là người tốt nên chắc chắn sẽ được lên thiên đường. Tiền bạc và sự ngoan đạo mang lại bình an cho họ. Đây chính là phương Tây.

Ý nghĩ đó xuyên qua mọi tầng lớp xã hội. Tất cả chúng ta đều có thể cho những người tị nạn trên thế giới một chút gì đó trong khi vẫn sống an toàn trong những xã hội thịnh vượng. Chúng ta vừa tốt bụng vừa an tâm. Chúng ta xem những vở mê-lô về những gì mà Thế giới thứ ba đang phải gánh chịu, cảm thấy an toàn khi biết rằng cuộc sống của chúng ta sẽ không thay đổi. Điều này đang xảy ra ở Namibia, ở Bangladesh. Chúng ta quyên góp. Động lòng trắc ẩn làm ta thấy dễ chịu. Chúng ta Cứu trợ Trẻ em rồi ra ngoài ăn bít-tết. Chúng ta ổn.

Trên tất cả châu Âu thật tốt. Nó là một Cộng đồng. Các cộng đồng đều tốt. Nó được hình thành để các quốc gia của chúng ta có thể không bao giờ phải đi đánh nhau nữa. Thực vậy, nó dựa rất nhiều vào một chính sách nông nghiệp đã khiến châu Phi trở nên nghèo đói, nhưng lần cuối cùng có người thèm để ý đến chuyện đó là khi nào? Châu Âu cho phép mọi người đi lại tự do, bởi vì khi quyền đó được đưa ra có tương đối ít người muốn dịch chuyển. Nó cao giọng về sự cởi mở và bình đẳng. Chúng ta sẽ không cho phép các nền văn hóa khác đối xử tệ với phụ nữ của họ. Chúng ta sẽ không để họ gây hại cho con gái họ. Không phải chúng ta đáng ngưỡng mộ sao? Chúng ta tách rời tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng. Chúng ta không chấp nhận những kẻ điên cuồng. Châu Âu là một mô hình cho tương lai, phải vậy không? Chúng ta tin là như thế. Trung dung, hiểu biết, dễ thở. Dễ thở nhờ sự giàu có. Tự do động lòng trắc ẩn.

Miễn là tất cả bọn họ đừng có kéo đến đây.

*  *  *

Đây là một cuộc khủng hoảng về bản sắc. Người ta đang cố gắng tới chỗ chúng ta bằng đường biển. Rất nhiều người. Những cánh tay vươn dài. Họ khốn cùng và tuyệt vọng. Họ muốn sống trên đường phố của chúng ta, làm việc tại nơi chúng ta làm việc, mua sắm trong các siêu thị của chúng ta. Chúng ta muốn giữ lòng trắc ẩn. Chúng ta không thể chấp nhận được chính mình nếu chúng ta không thể nghĩ rằng ta là những người tốt. Chúng ta cũng không thể hình dung được một sự sụt giảm chất lượng sống đáng kể. Thật ra là bất cứ sự sụt giảm nào. Chúng ta không thể từ bỏ sự an toàn của chúng ta, sự giàu có của chúng ta, thu nhập của chúng ta, lương hưu của chúng ta, những khoản tiền vặt vãnh của chúng ta.

Chúng ta sẽ làm gì đây? Chúng ta sẽ trở thành ai đây? Các chính trị gia của chúng ta chỉ nghĩ tới cuộc bầu cử kế tiếp; mà nó thì chẳng bao giờ ở xa cả. Họ không thể lập những kế hoạch dài hạn. Họ không có tầm nhìn vượt quá những việc hàng ngày và việc tuyên truyền. Không có một vị lãnh đạo châu Âu nào ở thời điểm hiện tại có bất cứ tầm nhìn nào hay khí chất lãnh tụ cả. Họ lựa theo chiều gió. Một khảo sát cho biết các cử tri ghét vấn đề nhập cư và thế là họ đóng cửa các biên giới. Một khảo sát cho biết các cử trị bị xúc động mạnh bởi bức ảnh một đứa trẻ bị chết và thế là họ cho vài ngàn người vào. Không nhà lãnh đạo nào phải tiếp nhận nhiều người nhập cư hơn người khác. Không nhà lãnh đạo nào phải bị xem là kém nhân đạo hơn những người đồng cấp của mình.

Kết quả là mọi chuyện trở nên tệ nhất có thể. Dần dần những người nhập cư tràn vào bằng mọi giá, nhưng phải chịu theo mọi dạng vòng vo và phiền toái. Họ gần như bị đẩy vào thế sống trong hận thù cứ nhen lên mỗi ngày. Khi tôi tới Ý 30 năm trước, tôi chẳng nói được một từ tiếng Ý nào. Tôi chẳng biết mấy về đất nước này. Tôi cứ mày mò dần theo năm tháng. Ở Anh cô con dâu người Ma-rốc của tôi phải chịu đủ thứ yêu cầu hành chính ngu ngốc. Con bé bị bắt phải qua được một bài kiểm tra mà 90% công dân Anh sẽ trượt và phải qua được một bài kiểm tra ngôn ngữ mà rất nhiều người di cư thuộc Cộng đồng sẽ trượt. Ý cũng chẳng khác gì. Những người đi ngang dưới cửa sổ nhà tôi ở ngoại ô Milan chủ yếu nói tiếng Ả Rập và tiếng Trung. Mọi thứ ngôn ngữ của Ấn Độ. Để thuê một căn hộ hay để làm việc, họ phải theo những quy định hà khắc hơn rất nhiều những gì tôi và những người nhập cư Ru-ma-ni hay Ba Lan trải qua. Bởi thế chính chúng ta tạo ra những nguồn gốc của bạo lực cho những năm sau này.

Sẽ không có giải pháp nào đơn giản cho chuyện này. Nhưng chúng ta phải thừa nhận bản chất thực của tình thế tiến thoái lưỡng nan này. Chúng ta phải quyết định xem chúng ta là ai. Chúng ta phải hành động bằng lương tâm và sẵn sàng với những hệ quả tiếp theo sau. Chúng ta phải làm quen với ý tưởng rằng cuộc đời có thể thay đổi thực sự, cuộc sống của chúng ta ấy, và rằng sự giàu có không phải là tiêu chuẩn duy nhất của hạnh phúc. Tay này cho đi rồi tay kia lại giật lại thì thật là lố bịch. Tin rằng chúng ta là người tốt và để cho người khác chết như rạ ở ngoài kia thật đáng xấu hổ. Chúng ta cần can đảm tới gặp họ. Chúng ta hãy sẵn lòng thay đổi.