Tag Archives: trầm cảm

Trầm cảm có phải là bệnh không? Bản chất của việc trầm cảm trở lại.

Lời người dịch: Trong những bài viết trước đây tôi cố ý gọi trầm cảm là bệnh là vì muốn người đọc nghĩ về trạng thái trầm cảm một cách nghiêm trọng (nghiêm túc) hơn so với suy nghĩ thông thường coi đó chỉ là một trạng thái buồn chán nhất thời (và do đó có thể tự hết). Tuy nhiên, sau này tôi nhận ra việc gọi (coi) trầm cảm là bệnh theo cách hiểu thông thường có thể làm cho những người muốn “chữa bệnh” – cho mình hoặc cho người khác – hiểu sai về bản chất của trầm cảm và vì thế có thể có cách tiếp cận hay những mong muốn “chữa bệnh” không thực tế. Bởi vậy mà tôi dịch giới thiệu bài viết này.

Tác giả, TS. Stephen Diamond, là một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý tại Los Angeles. Nguyễn Hồng Anh lược dịch từ bài gốc “Is Depression a Disease? The Recurring Nature of Depression” đăng trên Psychology Today ngày 01/09/2008 (truy cập ngày 28/07/2016).

Trầm cảm là gì? Nó có phải bệnh không? Một rối loạn tâm thần? Sự mất cân bằng sinh hóa? Một sự rối loạn chức năng của não bộ? Một hội chứng tâm lý? Một khủng hoảng hiện sinh hoặc tinh thần? Ở đây tôi muốn thảo luận về trầm cảm với tư cách một nhà tâm lý học lâm sàng và tâm lý học pháp lý đã thực hành trị liệu tâm lý được hơn ba thập kỷ.

Theo tôi, câu hỏi quan trọng liệu trầm cảm (đơn cực hoặc lưỡng cực) có phải là bệnh không xuất phát từ việc áp dụng mô hình y khoa cho lý thuyết và thực hành tâm thần học và tâm lý học có phần cần ngờ vực. “Mô hình y khoa” (medical model) là gì? Mô hình y khoa là một hệ thuyết nền tảng của thực hành y học lâm sàng: Các triệu chứng được xem như biểu hiện của các tiến trình sinh lý bệnh học ([vẫn gọi đơn giản là] bệnh) có thể được chẩn đoán và điều trị. Mục đích của điều trị y khoa là loại bỏ, ngăn chặn hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh. Để làm giảm đau đớn và kéo dài sự sống nhiều nhất có thể. Kể từ thời Hippocrates, các thầy thuốc đã trung thành với hệ thuyết và cách thực hành này.

Mô hình y khoa là một cách nhìn đặc thù về đau đớn, hủy hoại, rối loạn chức năng và, rốt cục là, cái chết. Nó là một hệ thuyết, một lăng kính giúp các thầy thuốc và những người khác hiểu về các hiện tượng bất thường như bệnh bạch cầu (leukemia), tiểu đường, và giờ, trầm cảm và nhiều rối loạn tâm thần khác. Nhưng dù mô hình y khoa đã có những đóng góp lớn lao trong việc chẩn đoán và trị bệnh, việc áp dụng nó cho các trải nghiệm đặc thù như trầm cảm, chứng loạn thần, và lo âu là có vấn đề.

Không thể phủ nhận là những người trầm cảm nặng là người ốm. Trầm cảm có thể gây suy nhược và trong một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các triệu chứng thực thể như buồn nôn, nôn, mệt mỏi, đau kinh niên, tiêu chảy, mất ngủ, v.v. thường xảy ra với trầm cảm chính yếu (major depression). Sử dụng thuật ngữ y khoa thì “điều trị” là bắt buộc. Câu hỏi thực sự là nên điều trị dạng nào? Câu trả lời một phần tùy thuộc vào cách hiểu về nguyên nhân gây trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần chính yếu khác như rối loạn lưỡng cực và loạn thần. Có nhiều lý thuyết khác nhau về nguyên nhân gây trầm cảm, nhưng không lý thuyết nào đã được chứng minh hoàn toàn thuyết phục. Các lý thuyết nhân quả này đưa ra các giải thích về sinh học, tâm lý học, xã hội và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra khả năng có ít nhất một vài yếu tố bẩm sinh về gien (genetic predisposition) đối với trầm cảm đơn cực và lưỡng cực, cũng như các rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc. Nhưng yếu tố bẩm sinh sinh học không phải là quan hệ nhân quả. Một số tác nhân khác (đôi khi không được nhận dạng) như: mất mát, stress, sự tách biệt/cách ly, chấn thương/thương tổn (trauma), sự vô nghĩa, sự thất vọng, lạm dụng chất kích thích, sự giận dữ bị kìm nén lâu ngày có thể, và thường, góp phần quan trọng, nếu không muốn nói góp phần chính, dẫn tới những rối loạn nói trên.

Nhưng dù nguyên nhân căn bản của trầm cảm là gì, hiện các nhà lâm sàng vẫn chưa đưa ra được cho người trầm cảm các phương pháp điều trị hiệu quả và quyết liệt nhất. Áp dụng dược lý tâm thần (psychopharmacology) trong điều trị trầm cảm nặng, dù có những hạn chế, đã có tính đột phá và cứu mạng người trầm cảm. Các thuốc chống trầm cảm và thuốc điều hòa khí sắc làm được những điều mà trị liệu tâm lý không làm được: chúng làm giảm tương đối nhanh các triệu chứng gây đau đớn và suy nhược của trầm cảm và do đó đưa những biến động khí sắc nguy hiểm đến trạng thái ổn định. Điều này có chứng minh rằng trầm cảm căn bản là một bệnh lý sinh học? Không hề. Nó chỉ cho thấy rằng chúng ta đã may mắn tìm ra phương tiện sinh hóa để ứng phó với và kiểm soát những triệu chứng nguy cấp nhất của trầm cảm: rối loạn ăn và ngủ, mất hứng thú, thờ ơ, tâm trạng trầm uất hoặc hưng cảm, lo âu, xu hướng tự sát, v.v. Nhưng như TS Kramer khẳng định trong bài viết gần đây của ông, kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm được giảm nhẹ nhờ dùng thuốc, tình trạng trầm cảm bên dưới hiển nhiên vẫn còn, nên kể cả những người đang dùng thuốc vẫn có nguy cơ rơi vào các đợt mới trong tương lai. Hơn một nửa số người trải qua đợt trầm cảm lần thứ nhất có xu hướng tiếp tục trải qua các đợt trầm cảm mới ở một thời điểm nào đó [trong tương lai]. Xác suất tái phát tăng vọt (90%) nếu đã trải qua ba lần trầm cảm. Nguy cơ này nghĩa là gì? Nó dường như gợi ý rằng điều trị sinh hóa không giải quyết được vấn đề. Tính dễ tổn thương kéo dài tiềm tàng này có nghĩa là gì? Nó là cốt lõi trầm cảm, là trái tim của con rắn đa đầu Hydra.

Một số rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm, có thể được ví với Hydra huyền thoại: một con quái vật lớn trong thần thoại với chín cái đầu rắn, mỗi đầu đều tiết ra nọc độc chết người. Nhiều người phải chịu đựng vô số triệu chứng – như lo âu, trầm uất, đau kinh niên, bứt rứt, mất ngủ, mệt mỏi, đau đầu, các đợt hoảng loạn, v.v. – mà sau khi đã bị chế ngự bằng thuốc, lại quay trở lại còn khủng khiếp hơn. Người anh hùng Hercules trong thần thoại Hy Lạp đã phải đánh nhau với Hydra hủy diệt. Lừa nó ra khỏi hang, chàng lần lượt chặt đứt những cái đầu rắn của nó. Nhưng chẳng mấy chốc, mỗi chỗ bị chặt lại mọc ra hai cái đầu mới. Hơn nữa, Hydra gớm ghiếc còn có một cái đầu bất tử không thể tiêu diệt được. Hercules cuối cùng đã đánh bại Hydra hủy diệt như thế nào? Trước tiên, Hercules dùng lửa đốt những chỗ bị chặt để ngăn những cái đầu mới mọc ra. Sau đó, chàng chôn cái đầu bất tử của Hydra dưới một tảng đá lớn để vô hiệu hóa nó. Nhưng bởi vì cái đầu này là bất tử, Hydra không bao giờ có thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Nó chỉ bị làm yếu đi và bắt quy phục.

Trầm cảm có chút giống với Hydra. Bạn có thể thử loại bỏ các triệu chứng bằng thuốc (thậm chí kể cả trị liệu bằng sốc điện trong trường hợp không đáp ứng thuốc), nhưng chúng vẫn có xu hướng trở lại. Trầm cảm có thể bị đánh bại không? Không thể trừ phi tìm tới trái tim của Hydra. Gốc rễ của trầm cảm, theo quan sát lâm sàng của cá nhân tôi, cơ bản thường mang tính tâm lý hơn là sinh hóa – mặc dù hai khía cạnh này rõ ràng có ảnh hưởng lẫn nhau. Thường ở trung tâm của trầm cảm là những căm ghét, tức tối, giận dữ, oán hận bị đè nén. Bị bỏ rơi. Bị phản bội. Nản lòng. Thương tiếc khôn nguôi. Sự vô nghĩa. Sự tầm thường. Mất niềm tin. Nếu không can thiệp quyết liệt vào trung tâm cảm xúc, tinh thần và tâm lý này của trầm cảm, thì không thể giải quyết triệt để được. Chỉ có thể nén lại tạm thời. Đó là lý do tại sao điều trị trầm cảm bằng thuốc, dù vô giá, không thể thay thế được trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý tâm thần. Tấn công kép liên tục vào Hydra-trầm cảm sẽ ngăn chặn hoặc giảm thiểu những vấn đề chính yếu, và có thể kiềm tỏa được Hydra. Trong khi nhiều người có thể luôn mang những yếu tố sinh học gien và/hoặc tâm lý có khả năng dẫn tới một giai đoạn trầm cảm mới trong tương lai, điều trị bằng liệu pháp tâm lý như nói trên có thể giúp họ kiềm tỏa được những nguy cơ, chính là đánh bại được Hydra.

Trầm cảm có thể chữa được không? Nó có nên được điều trị như các bệnh khác không? Tôi nghĩ cái đó còn tùy. Một số dạng trầm cảm nhẹ tới trung bình và thậm chí nặng rõ ràng là phản ứng mang tính hoàn cảnh đối với stress, thương tổn, mất mát và các sự việc khác xảy ra trong đời. Những cái được gọi là rối loạn hoặc thậm chí các đợt trầm cảm chính yếu có thể được phục hồi hoàn toàn trong hầu hết các trường hợp được điều trị đầy đủ, đặc biệt là trị liệu tâm lý. Trầm cảm nặng và mãn tính như rối loạn khí sắc, rối loạn trầm cảm chính yếu tái phát, rối loạn khí sắc chu kỳ và rối loạn lưỡng cực đều giống Hydra, đòi hỏi phải có điều trị tích cực qua nhiều giai đoạn kéo dài. Nhưng kể cả trong những điều kiện dường như tương đối khó can thiệp, tiếp cận tới trái tim của Hydra với trị liệu tâm lý kết hợp với dược lý có thể làm giảm cả mức độ và tần suất của các đợt trầm cảm và/hoặc hưng cảm. Bằng cách cải thiện điểm khởi phát giữa các đợt bằng trị liệu tâm lý, mức độ và tần suất của các đợt tiếp sau có thể giảm xuống. Trong khi việc chỉ dùng thuốc để đẩy lui Hydra có vẻ như sẽ khiến tăng dần liều dùng và tăng số loại thuốc cần dùng để kiềm chế nó, trị liệu tâm lý theo cách tôi gợi ý trong cuốn sách của mình có thể làm giảm sự phụ thuộc vào việc dùng thuốc, bởi ý nghĩa của trầm cảm và các nguồn gốc tâm lý của nó được trị liệu tận gốc.

Do đó, tôi đề xuất rằng trầm cảm không phải là một bệnh nên được điều trị theo cách như với tiểu đường chẳng hạn (mà bản thân bệnh này trong nhiều trường hợp đã được biết là có liên quan tới stress). Trầm cảm là một hội chứng sinh học–tâm lý–xã hội đòi hỏi nhiều hơn là chỉ can thiệp bằng thuốc và đang cần phải có những phương pháp trị liệu tâm lý hiệu quả hơn nữa.

Advertisements

Khi trầm cảm tôi đã làm gì?

Năm ngoái, tôi loay hoay viết ra vài điều chia sẻ với những người trầm cảm (ở đây). Cũng muốn, và trên thực tế là đã, viết ra vài lời khuyên, nhưng rồi càng viết, càng đọc thêm thì lại càng thấy sự phức tạp của bệnh, các phương pháp điều trị, cũng như trải nghiệm của mọi người (cả người trầm cảm lẫn các nhà tâm lý trị liệu), rốt cục là cảm thấy mình không nên viết thêm các lời khuyên. Thay vào đó, có thể thỉnh thoảng dịch hoặc chia sẻ thêm những bài viết mà tôi cảm thấy là có thể hữu ích cho những người trầm cảm.

Tuy thế, tôi vẫn muốn tổng kết lại ở đây những gì tôi đã làm khi bị trầm cảm lần đầu cách đây mấy năm, như là mô tả lại một trải nghiệm cá nhân. Khi ấy tôi như kiểu có bệnh thì vái tứ phương, thử đủ mọi cách. Chẳng ai biết được là ngày ấy những gì tôi đã làm có gì đúng, có gì sai, và đã góp phần giúp tôi vượt qua được đợt trầm cảm ấy (kéo dài khoảng 8 tháng) ở mức độ nào, nếu như là những việc làm ấy là hữu ích. Bởi vậy, bài viết này chỉ là để những người quan tâm tới bệnh trầm cảm đọc cho biết thôi.

Vì những gì tôi sắp liệt kê ra đây là khá nhiều, tôi hy vọng những người trầm cảm đang đọc bài này không vì thế mà cảm thấy áp lực hay trầm uất thêm trong nỗ lực thoát khỏi trầm cảm của mình, còn những người có người thân, bạn bè bị trầm cảm cũng đừng vì bài viết này mà thúc ép người thân, bạn bè mình thử quá nhiều cách khác nhau. Tôi đã từng viết trên blog này rồi, con đường thoát khỏi trầm cảm của mỗi người là rất khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Phải bình tĩnh, phải kiên trì.

Dưới đây là những gì tôi đã làm, hầu như là làm cùng một lúc, đan xen, không rõ ràng việc gì trước việc gì sau:

  1. Tìm hiểu về bệnh

Tôi chẳng nhớ là ngày ấy vì sao và từ bao giờ tôi bắt đầu nghĩ là mình bị trầm cảm nữa, nhưng chắc chắn là tôi đã bắt đầu tìm hiểu về bệnh này từ trước khi đi khám (và chính thức được chẩn đoán là bị trầm cảm nhẹ), và vẫn liên tục đọc thêm sau đó. Ngày ấy tôi đã đọc rất nhiều trang web tiếng Anh viết về bệnh này – có thông tin trùng lặp, có thông tin khác nhau, tôi cũng chẳng nhớ nữa, nhưng tôi cứ đọc, đọc, đọc, chẳng biết là có ích gì không, nhưng dần dần tôi cảm thấy hiểu về bệnh của mình rõ hơn, ít nhất cũng nắm được gì cơ bản nhất, ít nhiều cũng bớt bối rối hơn.

(Tìm đọc thông tin về bệnh quan trọng là đọc những nguồn đáng tin cậy. Nếu bạn đọc được tiếng Anh thì rất dễ dàng tìm tới những nguồn đáng tin cậy từ các chuyên gia, hiệp hội chuyên ngành. Các nguồn tiếng Việt hiện ra trên google chủ yếu là báo chí và các nguồn không chuyên khác. Nếu bạn không ngại sách chuyên ngành (quả thực không quá khó đọc đâu), thì ở đây có bản dịch tiếng Việt của mấy chương một cuốn sách chuyên ngành.)

2. Đi khám

Ngày ấy tôi khám ở trung tâm y tế trong trường mà tôi đang học, rất tiện và cũng đáng tin cậy. Theo các tài liệu chuyên môn thì trầm uất kéo dài liên tục hai tuần là được coi là trầm cảm rồi, nhưng có lẽ hầu như ai cũng đi khám chậm hơn, thường là khi tình trạng ấy kéo dài ít nhất vài tháng. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tầm sau 2 tháng cảm thấy liên tục bị trầm uất, ngày càng không kiểm soát được tâm trạng của mình là tôi đã đi khám, so với nhiều người khác vẫn còn là sớm. Tất nhiên con số này chỉ là tương đối, vì gần như không bao giờ xác định được rõ ràng một cơn (đợt) trầm cảm chính xác là bắt đầu từ khi nào.

Tôi cho là bệnh nào cũng vậy thôi, đi khám và can thiệp điều trị càng sớm càng tốt, nếu có thể. Tuy thế, việc đi khám đối với người trầm cảm sẽ trở nên khó khăn hơn khi bệnh này trở lại, chứ không phải là khi nó tới lần đầu tiên. Nếu không muốn đi khám lại thì chắc chỉ có cách học cách sống chung với lũ.

3. Điều trị bằng nói chuyện (Talk therapy)

Sau khi đi khám và có chẩn đoán chính thức của bác sĩ, tôi được cho biết là tôi có thể điều trị hoặc bằng thuốc hoặc bằng nói chuyện với chuyên viên tâm lý hoặc kết hợp cả hai, và tôi cũng được hỏi là mình muốn lựa chọn điều trị như thế nào. Tôi đã chọn điều trị bằng nói chuyện trước và xem kết quả thế nào rồi sẽ quyết định là có dùng thuốc hay không. Sau đó tôi chỉ điều trị bằng nói chuyện mà không dùng thuốc.

Người điều trị cho tôi là một tiến sĩ tâm lý học có nhiều năm kinh nghiệm, là nam giới, và là người gốc Á. Trước khi giới thiệu tôi tới điều trị với vị therapist này, nhân viên y tế có hỏi tôi là tôi muốn làm việc với therapist nam hay nữ, và tôi đã trả lời là tôi không quá quan trọng chuyện ấy. Sau này thì tôi được biết là họ thường ghép cho người trầm cảm làm việc với những therapist có những tương đồng nhất định, nếu không phải là đồng giới thì cũng gần gũi về dân tộc (ethnicity), đại loại thế.

Lịch gặp therapist ban đầu được đặt là hai tuần một lần, sau thì giãn ra. Dù không được báo trước là mỗi buổi nói chuyện sẽ dài bao lâu, nhưng tôi để ý thấy lần nào cũng chừng 45’. Tôi cảm thấy thoải mái với thời lượng ấy, thường một buổi nói chuyện đến chừng ấy là đã cảm thấy đủ. Dĩ nhiên therapist thì luôn khéo léo kết thúc buổi gặp khi gần hết giờ, nhắc lại vài điểm quan trọng đã nói hay những gì sắp tới tôi nên thử làm hoặc tiếp tục làm, rồi đặt lịch cho lần gặp sau.

Gặp therapist nói chuyện gì? Bao giờ therapist cũng hỏi cụ thể tôi ăn ngủ thế nào, có tập thể dục không, các sinh hoạt bình thường ra làm sao, có tự gây thương tích cho mình không, có ý nghĩ hay hành vi tự tử không, rồi gợi ý tôi có thể thay đổi hay làm thêm gì đó. Dĩ nhiên là nói chuyện thoải mái chứ không như hỏi cung, ví dụ hỏi tôi thích ăn gì, thích nấu nướng không, thích nhà hàng nào không… Khuyên bảo nếu có thì cũng nhẹ nhàng chứ không phải là phải làm cái này đi, phải làm cái kia đi.

Ban đầu tôi cũng không để ý đến các câu hỏi kiểu này, nhưng có một lần trước khi đi gặp therapist, tôi tự dưng nghĩ thể nào ông này cũng lại hỏi gần đây ăn gì, ngủ thế nào, có tập thể dục không. Lúc ấy tôi bắt đầu nghĩ ngợi là sẽ trả lời ổng như thế nào, và nhận ra rằng cứ những buổi gặp đều đặn như vậy thực ra giúp theo dõi và điều chỉnh nếp sống của mình rất tốt. Sau đó, tôi tự hình thành thói quen để ý tới nếp ăn nếp ngủ nếp sinh hoạt của mình thường xuyên, có gì bất thường một chút là tôi tìm cách điều chỉnh ngay. Sau này đọc thêm tôi mới biết đó thật ra là một cách hữu hiệu để giúp mình tránh từ trạng thái stress rơi vào trạng thái trầm cảm (coi thêm bài “sống chung với lũ” tôi đã dẫn link ở trên). Mà phòng bệnh thì tốt hơn chữa bệnh, một khi đã để mình sụt vào cái hố trầm cảm thì bò lên rất khó và mệt mỏi, thà rằng tập cách biết khi nào mình ngấp nghé miệng hố để ráng hết sức chuồn trước còn hơn :D.

Ngoài chuyện ăn ngủ nghỉ thể dục thể thao đó ra thì dĩ nhiên nói về những gì làm mình bức xúc, mệt mỏi, chán nản, bất lực, tuyệt vọng, vân vân. Nói chung therapist rất khéo, chẳng cố gắng ép tôi nói ra cái gì cả, cứ để tôi nói tự do tùy ý, rồi hỏi và trao đổi thêm về những điều ấy, không có kiểu cố gắng đi tìm nguyên nhân sâu xa là gì, còn vấn đề gì mà tôi đang giấu nữa không. Cũng chẳng bao giờ nói gì phức tạp hay giải thích lằng nhằng về các lý thuyết diễn giải của tâm lý học mà sau này thỉnh thoảng tôi lại đọc được ở đâu đó. Dĩ nhiên đằng sau những lời “nói chuyện, chia sẻ” tưởng như chuyện phiếm của therapist là một nền tảng học vấn và kinh nghiệm vững chắc.

Còn một vấn đề nữa cũng thỉnh thoảng được nói tới là về những việc đang tồn đọng mà tôi cần làm mà không làm nổi, cơ bản là vì chán nản nên cứ trốn tránh và trì hoãn mãi, và càng trì hoãn thì càng căng thẳng. Đại để là therapist hỏi cụ thể về hiện trạng tồn đọng, rồi gợi ý tôi chia nhỏ công việc ra để làm từng bước một. Sau thì cũng có những việc mình hoàn thành được, có những việc tôi bỏ chả làm nữa.

Nói chung tôi thấy điều trị bằng nói chuyện ấy giống mưa dầm thấm lâu, tôi và một vài bạn tôi biết thỉnh thoảng có cảm thấy sốt ruột và đôi khi là cảm thấy vô ích. Nhưng ngẫm lại tôi thấy nó hữu ích cho cả sau này, thời gian hậu trầm cảm, chứ không chỉ khi đang trong cơn (đợt) trầm cảm.

Đi nói chuyện được một thời gian, một lần therapist hỏi tôi có muốn tham gia điều trị theo nhóm (group therapy) không. Nghĩa là một nhóm những người trầm cảm gặp nhau chia sẻ, nói chuyện với sự hướng dẫn của một therapist. Nhưng tôi từ chối. Therapist cũng không nói gì thêm. Tôi cũng quên không hỏi nên không rõ là vì sao ổng lại gợi ý vậy, là do tình trạng mình xấu đi hay làm sao.

Đợt điều trị ấy kéo dài tầm nửa năm, rồi kết thúc là do tôi về nước. Trước khi tôi về, therapist có dặn là sau này có rảnh thì viết thư cho ổng biết sức khỏe của mình như nào. Thật ra sau đó thì cuộc sống của tôi cũng ổn định lại ngay, nhưng phải hơn một năm sau đó tôi mới viết thư cho therapist hay, để cho chắc là mình đã thật sự ổn chứ không phải chỉ là ổn tạm thời.

4. Nói chuyện với nhiều người

Song song với việc gặp therapist theo định kỳ thì tôi thường xuyên nói chuyện với bạn bè bằng đủ mọi hình thức: gặp mặt, điện thoại, video chat, chat chit, email. Nhiều khi cũng cảm thấy chán chính mình vì cảm giác có mỗi câu chuyện bế tắc mà cứ nhắc đi nhắc lại với bạn bè, mà nói xong thì bế tắc cơ bản vẫn hoàn bế tắc, chán nản vẫn hoàn chán nản. Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ đó là việc nên làm, và là có ích, dù ích lợi có thể khi ấy mình không nhìn thấy được, không cảm nhận được. Và biết đâu trong số bạn bè mình lại có những người có kinh nghiệm hay hiểu biết gì hữu ích cho mình.

Khi tôi nói chuyện với bạn bè về việc mình bị trầm cảm, một người bạn chia sẻ là bạn ấy cũng đang điều trị trầm cảm, mà còn bắt đầu trước tôi. Thế là sau đó chúng tôi hay gặp nhau nói chuyện về tiến trình trị liệu, cập nhật về những nỗ lực của người kia, ví dụ chuyện chạy bộ. Kể ra như thế đỡ hơn là phải cố gắng điều trị một mình.

Việc nói chuyện này dĩ nhiên còn tùy vào cá tính từng người. Tôi làm việc ấy một cách tự nhiên vì bản tính tôi vốn là người hướng ngoại, quảng giao, lúc nào và đi đâu cũng đông bạn lắm bè. Mà nói đến bạn bè nghĩa là những người tôi có thể nói chuyện thoải mái, không phải e dè gì, thật tình trong cuộc sống tôi rất ít các mối quan hệ xã giao.

5. Viết lách

Nói chuyện với bao người như vậy rồi mà ngày ấy tôi vẫn viết lách rất nhiều, nếu không cái đầu tôi nó nổ tung ra mất. (Cách này thích hợp với những người sống nội tâm hơn chăng?) Tôi nhớ có một lần nói chuyện với therapist, ổng nói tôi nghĩ nhiều quá nên đâm ra khó ngủ, nên phải cố gắng “slow your mind down”. Một lần tôi bảo therapist là khi ấy tôi viết nhật ký rất nhiều, ổng nói là như thế là rất tốt, nên có cách để cho những thứ trong đầu mình đi ra. Vậy nên tôi đoán là việc nói chuyện nhiều và viết lách nhiều của tôi ngày ấy là tốt.

Dĩ nhiên, mỗi người sẽ có các cách khác nhau, không nhất thiết là nói và viết, mà, theo như tôi biết, có thể là vẽ, gấp giấy, viết nhạc, chơi nhạc, dịch, vân vân. Nhưng có lẽ là cứ phải có một hoạt động mang tính sáng tác, chế tạo ra một cái gì đó.

6. Đọc sách

Đầu óc rối ren như vậy nhưng ngày ấy tôi lại lao vào đọc sách, thật chẳng biết lợi hay hại. Chỉ biết là cảm thấy những thứ trong đầu mình diễn đạt ra đã khó, tìm câu trả lời cho những băn khoăn của mình còn khó hơn. Tại sao thế này, tại sao thế nọ. Không trả lời được thì tôi lại càng không yên, vì câu hỏi này lại chồng chất lên câu hỏi nọ. Bởi thế, ngày ấy đang bức bối vì vấn đề gì là tôi kiếm sách đọc, từ sách tâm lý học cho tới triết học cho tới sách tự-cứu (self-help). Tôi chỉ đơn giản là không thể gác chúng sang một bên “mà vui sống”, hay là quên chúng đi, tôi nhất định muốn hiểu tận gốc rễ của những vấn đề ngày ấy đang làm tôi phát khùng lên.

Dĩ nhiên là việc đọc sách ngày ấy có giúp tôi “hiểu tận gốc rễ” mọi thứ không thì tôi không biết, nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy nó cũng hữu ích, làm tôi suy nghĩ thông thoáng hơn, nhìn cuộc đời rộng rãi hơn, và biết đâu đã góp phần giúp tôi “slow my mind down”.

7. Tập thiền

Ngày ấy tôi chỉ tập thiền đâu có 1-2 tuần, theo hướng dẫn từ xa của một người bạn. Sau này tôi đọc được trong một cuốn sách là tập thiền để điều trị trầm cảm là tùy xem có hợp hay không – nó là một việc kén người, có người thích, có người không. Tôi chắc là không hợp với việc ấy. Ngày ấy tôi tập là vì có bệnh muốn vái tứ phương, và một người bạn của tôi giải thích rằng thiền tập là rất tốt cho cuộc sống hiện nay, nhất là với những người làm việc trí óc, vì hầu như cuộc sống xung quanh lúc nào cũng rối loạn, dễ gây ra nhiều điều ức chế.

Tóm lại, với trải nghiệm ít ỏi của tôi ngày ấy thì tôi thấy thiền có thể giúp mình thanh lọc đầu óc. Vì tập thiền là tập hướng tới trạng thái không nghĩ gì cả. Ngày ấy tôi tập theo hướng dẫn của bạn là nhìn vào một đồ vật, tập trung mọi ý nghĩ của mình vào vật đó và không nghĩ tới điều gì khác nữa. Bản chất là lấy vật đó để thu hút sự chú ý của trí não mình khỏi những suy nghĩ rối loạn của mình. Bởi thế nên nhiều người tập thiền bằng việc chú tâm vào nhịp thở của mình, bản chất chính là để tâm trí bận dõi theo hơi thở không thể nghĩ lung tung được.

Nói thì đơn giản vậy mà làm khó muốn chết luôn. Đầu óc ta hóa ra cứ luôn sao nhãng theo các ý nghĩ chứ không chịu không nghĩ gì cả. Nhưng có tập thiền mới biết trong đầu mình sao mà lắm ý nghĩ vậy. Cứ tập như vậy – cố gắng không nghĩ gì, rồi lại chạy theo các ý nghĩ, rồi lại cố gắng không nghĩ gì – giúp tôi tự dưng phát hiện ra là mình có rất nhiều suy nghĩ “rác”. Sau khi phát hiện ra vậy rồi thì việc vứt bỏ những “suy nghĩ rác” ấy đi nó trở thành tự nhiên, quả là đầu óc thanh thản hơn, thời gian ngồi yên không nghĩ bất cứ điều gì cứ thế tăng dần lên cùng với việc luyện tập.

Nhưng tôi cũng chỉ trải nghiệm tí tẹo vậy thôi, rồi bỏ tập, và từ đó tới giờ cũng chẳng muốn tập lại. Có thể đơn giản là thiền tập không hợp với tôi.

8. Chạy bộ

Chạy bộ có lẽ hợp với tôi hơn là thiền tập. Thật ra tôi là loại lười vận động. Ngày ấy dù được khuyên tập thể dục, chơi thể thao nhưng tôi lần lữa chán chê mãi mới thèm vác xác đi chạy. Nhưng rồi bắt đầu thì lại càng ham. Trong những việc tôi làm ngày ấy để thoát trầm cảm có lẽ chạy bộ là việc tôi thích nhất và cũng cảm nhận được tác động của nó rõ rệt nhất.

Giữa những ngày sống không bằng chết, chỉ khi đi chạy tôi mới bắt đầu khôi phục lại được cảm giác của mình về sự sống. Mỗi một bước chạy cho tôi cảm giác rõ rệt về cơ thể mình. Cảm giác rất rõ về trọng lượng cơ thể mình, cơ bắp, nhịp thở, lồng ngực, vân vân, cứ như thể tôi là một cái hồn ma lang thang lâu ngày giờ mới được đầu thai vào một cơ thể sống nào đó, mà cái hồn ma đã quên phéng mất việc có một cơ thể sống, một cuộc sống thật là như thế nào.

Ngày ấy, tôi chạy đều đặn nhiều tháng. Mỗi ngày lại cố gắng chạy nhiều hơn hôm qua một chút. Nhiều khi có cảm giác cả cuộc sống của mình khi ấy chỉ có mỗi cái việc chạy bộ một mình hàng sáng rồi về nhà ngồi bệt trên sàn uống một lon ginger ale là có ý nghĩa. (Thời gian còn lại trong ngày có khi lại rơi vào trạng thái trầm cảm.)

9. Buông bỏ những gì gây áp lực

Việc khiến tôi đôi khi lại cảm thấy lấn cấn ở trong lòng, cũng là việc cuối cùng mà tôi làm, chính là buông bỏ những gì gây áp lực và buồn khổ cho tôi nhiều nhất vào lúc ấy. Cũng có khi nhìn lại cảm thấy như mình là kẻ thất bại, yếu đuối, nhưng song song với đó cũng là ý nghĩ rất có thể trên thực tế đó đã là việc quan trọng nhất đã giúp tôi thoát ra khỏi tình trạng trầm cảm ngày ấy. Giống như con khỉ thò tay qua song sắt để nhận một nắm đồ ăn không thể rút tay lại được cho tới khi nó nhận ra rằng để rút tay lại việc duy nhất nó cần làm là buông tay bỏ hết những gì nó đang nắm giữ đi.

Dĩ nhiên, bỏ hay giữ là quyết định của mỗi người, vì chúng ta theo đuổi những giá trị khác nhau. Có người thà chết cũng không chịu thất bại, còn tôi thà thất bại còn hơn là chết :D. Quyết định nào cũng có cái giá của nó, tự lượng sức chịu đựng của mình mà chọn cái giá phải trả thôi.

Như đã nói ở đầu bài, bài viết này chỉ mang tính chất kể chuyện, mô tả lại một trải nghiệm, để ai quan tâm thì đọc cho biết. Tôi không biết mình đã làm đúng điều gì, làm sai điều gì, nhưng nói chung đúng hay sai với tôi cũng chẳng quan trọng. Sau cái mẩu đời mệt mỏi ấy, tôi học được một điều là không nên quá khắt khe với chính mình. Nói như một người bạn của tôi, “chúng ta không chỉ nên rộng lượng với cuộc đời mà còn nên rộng lượng với chính mình”.

Vài lời dành cho những người muốn tự tử

Khi bạn muốn tự sát, có lẽ bạn đang cảm thấy hết sức cô độc. Bạn có thể cảm thấy không còn ai trên thế giới này có thể hiểu mình, chưa nói đến việc có thể giúp bạn vượt qua khó khăn. Bạn thậm chí còn không biết giãi bày những gì đang rối bời trong lòng bạn ra như thế nào. Bạn chán ghét tất cả những lời khuyên. Bạn có thể cảm thấy thực sự không có ai cho bạn có thể tìm đến. Hoặc suy nghĩ và cảm xúc của bạn còn rối rắm hơn tất cả những gì mà tôi đang cố gắng viết ra ở đây.

Tôi đã từng có những ý nghĩ về tự sát xuất hiện trong đầu. Tại sao tôi có những ý nghĩ ấy? Rất đơn giản, tôi thấy bế tắc trước những gì tôi đang đối diện trong cuộc đời vào những thời điểm ấy. Bế tắc vì cái gì? Không quan trọng. Bế tắc là một cảm giác. Tôi chưa bao giờ thực sự muốn chết, nhưng những ý nghĩ ấy cứ tự nhiên xuất hiện. Như đã từng chia sẻ ở đây, chúng xuất hiện khi tôi cảm thấy những gì mình đang trải qua là quá sức chịu đựng của mình. Dưới đây tôi xin trích ý kiến của những người có chuyên môn mà tôi đã dịch lại từ tiếng Anh:

Không bao giờ được từ bỏ những người đã có kế hoạch tự sát. Đối với một người đã quyết tâm tự tử, mong muốn sống chẳng qua đã bị che phủ bởi tình trạng tưởng như vô vọng của căn bệnh [trầm cảm]. Quyết định thực hiện hành vi tự sát thực chất là mong muốn ngừng việc chịu đựng những nỗi đau. Đừng bao giờ từ bỏ một ai đó chỉ vì họ nói rằng họ đã có quyết định cho mình. Trầm cảm là một sự khủng hoảng và can thiệp để giúp người trầm cảm giành lại được niềm tin và chiến đấu quyết liệt với căn bệnh này có thể làm đảo ngược được tiến trình người trầm cảm đến gần hơn với những ý nghĩ cũng như việc thực hiện hành vi tự sát.

Lời khuyên thường được đưa ra với những người đang muốn tự sát là hãy trì hoãn quyết định ấy của bạn lại – “Hy vọng là một điều vô nghĩa khi khủng hoảng đã xảy ra. Điều tốt nhất bạn có thể làm là cho mình thêm 24 giờ, và cố gắng bám vào ý nghĩ rằng những gì tâm trí của bạn đang thôi thúc chỉ là nhất thời.” Theo bài viết mà tôi vừa trích dẫn hai câu, một nghiên cứu cho biết 94% số người đã định tự sát vẫn còn sống sau 25 năm kể từ ngày họ có ý định tự sát hoặc đã chết vì những lý do tự nhiên.

Nói như vậy không có nghĩa là ý muốn tự sát hoàn toàn chỉ là câu chuyện mang tính nhất thời. Tổn thương tâm lý thường không đến từ một chuyện, một sự kiện, hay một vấn đề mà là sự tích tụ của nhiều tổn thương – theo thời gian tổn thương này chồng lên tổn thương nọ trong khi các vết thương cũ có khi còn chưa hết hẳn. Thêm vào đó, có rất nhiều chuyện mang lại chấn thương tâm lý rất nặng nề mà có lẽ đa số nhân loại khó mà tự mình hình dung ra được.

Bạn có thể đã từng thực hiện hành vi tự sát, và có thể không chỉ một lần. Và khi đó có lẽ mỗi lần ý nghĩ tự sát trở lại việc thoát khỏi nó dường như lại khó khăn hơn.

Trải nghiệm này đã bộc lộ hết những điểm yếu nhất của chúng ta, và sâu thẳm bên trong chúng ta không còn tin vào những gì ngày mai có thể mang đến. Chúng ta có thể sẽ vẫn đi lại và hít thở, nhưng chúng ta đã từng cận kề cái chết y như vẫn cận kề sự sống, và tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ để cho chúng ta quên đi điều đó.

Trên blog này tôi có viết và dịch một số bài liên quan đến trầm cảm, nếu quan tâm bạn có thể bắt đầu từ đây. Đoạn tôi vừa trích dẫn là từ bài mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất cho tới thời điểm này, Sống chung với trầm cảm và rối loạn lưỡng cực, do tôi chọn và trích dịch từ một cuốn sách cùng chủ đề. Đại ý bài đó nói về việc về lâu dài cần học cách tự mình tránh cho mình rơi vào khủng hoảng, và chuẩn bị trước nếu khủng hoảng chớm xảy ra thì nên làm gì. Cá nhân tôi nghĩ rằng câu chuyện muốn tự sát nhiều lần, đã từng tự sát nhiều lần cũng có những nét tương đồng với việc sống chung với trầm cảm.

Một vài dòng chia sẻ như vậy. Tôi cũng chẳng biết nói gì nhiều hơn về chuyện sống chết, hạnh phúc, hay khổ đau. Cũng chẳng biết để làm gì, nhưng hy vọng bạn cảm thấy được chia sẻ phần nào khi đọc bài viết này.

“Cứu một mạng người như thế nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ blog takingthemaskoff.

Tôi tỉnh dậy. Mọi thứ cứ lờ mờ. Tôi đang ở trong một căn phòng với một đám máy móc đã tắt. Có một cái rèm. Nó màu xanh. Có mọi người đang nói chuyện. Tôi có thể nhìn thấy họ nói chuyện. Tôi nhìn sang phải. Thấy mẹ. Bà đang khóc. Không chỉ là khóc mà là đang nức nở. Có nhiều người mặc áo màu xanh. Họ đang nói chuyện. Chẳng có ai nói chuyện với tôi.

Một lúc sau thì tôi ngồi dậy. Giờ thì tôi nhớ rồi. Tôi phải chết. Sao tôi lại ở đây nhỉ? Tôi chết rồi phải không? Đây có phải thật không vậy?

Tôi còn sống. Đêm trước tôi đã cố tự sát bằng việc uống tất cả các loại thuốc tìm thấy trong nhà; ngày hôm sau tôi bị bắt uống than hoạt tính và đã nôn trong nhiều giờ liền.

Nhưng tại sao các bác sĩ lại ở hết trong phòng tôi vào lúc nửa đêm thế này?

Tôi sau đó được biết là mình bị nghẽn nhĩ-thất độ 3 vào giữa đêm.

Nghẽn nhĩ-thất độ 3 ngăn không cho tim đẩy máu đến các cơ quan trong cơ thể. Dạng nghẽn nhĩ-thất này có thể gây ra mệt mỏi, chóng mặt, và ngất xỉu. Nghẽn nhĩ-thất độ 3 cần phải có can thiệp tức thì bởi nó có thể gây tử vong.

Tôi mười bảy tuổi. Tôi đang nhớ lại và tôi tức giận vì mình vẫn còn sống. Tôi hét lên với mẹ, vì đó là việc tôi vẫn làm. Bà chỉ biết yêu; nhận lấy tất cả sự giận dữ và cơn đau của tôi và tôi vẫn coi bà như một chỗ xả giận. Cuộc đời bà xưa giờ vẫn thế, và bây giờ nó lại tiếp tục như thế. Bởi vậy tôi đã hét lên, “Mẹ đi ra khỏi đây đi!!”

Bà lại khóc nhiều hơn nữa, và nhận lấy cơn giận dữ, như mọi khi. Bà luôn đổi lại bằng một tình yêu.

Tôi lại ngất đi lần nữa.

Tôi tỉnh dậy vào ngày kế tiếp. Có một gã đi vào. Gã mặc áo màu xanh. Tóc gã màu nâu, dài bình thường, và gã để râu. Tôi nhìn theo gã và tự nghĩ, “Đừng có mà nói gì không là tôi đấm cho đấy.”

“Xin chào, anh là Tom. Anh sẽ là y tá làm việc với em ngày hôm nay.”

Vậy đó, tôi phải nện gã này thôi. Tôi chẳng nói lời nào.

“Anh sẽ ở đây nếu em cần gì nhé. Anh có một cái thực đơn ở đây nếu em muốn gọi đồ ăn.”

Tôi sẽ không ăn gì cả; tôi ném cái thực đơn đi.

Thức ăn được mang đến hàng ngày và tôi không ăn. Tôi đã nghĩ là do tôi tức giận, nhưng giờ tôi biết là không phải.

Ngày nào gã kia cũng nói, “Xin chào, em có khỏe không? Anh có thể giúp gì được không?” Anh ta làm việc của anh ta và tôi mặc kệ. Mẹ tôi vẫn ở bên tôi hàng ngày và tôi vẫn luôn gây chuyện. Tom không phán xét gì chuyện tôi la hét với mẹ. Anh không nói nửa lời về chuyện đó. Anh nói chuyện với mẹ tôi vì bà cũng là y tá và bà có hỏi anh một số câu hỏi. Tôi chẳng quan tâm. Tôi chỉ muốn cho cả hai người ăn đấm.

Tôi vẫn hét lên với mẹ, nhưng quả tình tôi chẳng muốn bà rời khỏi căn phòng. Mẹ chẳng bao giờ bỏ đi. Đó là cách của bà. Một thứ tình cảm mà không ai khác, không ở đâu có, và nó được dành cho tôi. Tôi có thể có những giai đoạn khó khăn, nhưng tôi có điều đó. Tôi có mẹ. Tôi có thứ tình yêu mà ai cũng nên có. Nó là điều giúp tôi vượt qua được mọi chuyện. Tôi sẽ không đổi nó lấy thứ gì khác.

Từ bữa đó tới nay là bốn ngày. Mẹ mang cho tôi một chiếc áo nỉ. Áo của đội Minnesota Twins, đội mà tôi thích. Tôi yêu bóng chày và tôi yêu cái áo nỉ đó. Mẹ tôi biết điều này. Tôi đã định bảo mẹ mang cho tôi cái áo đó, nhưng nó đã ở đây rồi. Mỗi khi tôi đưa mắt nhìn, tôi lại thấy mẹ. Mẹ khóc, nhưng mẹ ở đó.

Tôi mặc chiếc áo đó vào. Gã Tom này lại đi vào. Anh ta cũng sẽ chẳng đi đâu. Tôi đoán đó là công việc của anh ta. Nhưng nó cũng là công việc của nhiều người khác nữa. Nhưng họ chẳng ngu ngốc tới mức ngày nào cũng hỏi tôi xem tôi thấy thế nào. Sự giận dữ của tôi đẩy họ ra xa như là tôi mong muốn. Chỉ có gã Tom ngu ngốc này là dường như không hiểu điều đó.

“Ồ em thích bóng chày à? Anh cũng thích. Đội Twins này cũng là đội mà anh thích đấy. Thế em bảo năm 1991 với năm 1987 thì năm nào họ chơi hay hơn?” (Đó là hai năm họ vô địch giải World Series.) Khi đó tôi 11 và 15 tuổi và đó là những khoảnh khắc tôi luôn luôn ghi nhớ.

Tôi nói. Tôi không thể bỏ qua được. “Ừa em thích bóng chày. Em nghĩ là năm 1991 họ chơi hay hơn.”

Tom bắt đầu nói chuyện với tôi về bóng chày, mọi thứ về môn thể thao này. Tôi bắt đầu trả lời bằng một từ, rồi hai ba từ. Rồi thì bằng cả câu.

Sau đó Tom nói, “Anh biết là em chẳng ăn gì mấy, và mẹ em bảo em là người khó ăn. Em có nghĩ là anh có thể cho em gọi món đặc biệt không? Anh biết là bác sĩ bảo em chưa thể ăn burger được, nhưng anh nghĩ là anh sẽ kiếm được cho em nếu em chịu ăn.”

“OK,” là câu trả lời của tôi.

Tôi ăn cái burger đó.

Ngày hôm sau. Tôi đã chờ Tom tới. Một chị nào đó khác đi vào phòng. Tôi cứ nghĩ, “Cái gã ngốc vẫn hay nói chuyện với mình đâu rồi? Quái quỷ thật. Ngu ngốc thật. Cái gã vớ vẩn ấy đâu rồi nhỉ?”

Tôi hỏi mẹ, “Tom đâu rồi?”

Anh ta nghỉ phép.

“Sao cũng được, anh ta cũng chỉ là một tên ngốc mà thôi,” tôi nói.

Sau hai ngày nghỉ phép thì Tom trở lại. Tôi không muốn thừa nhận, nhưng tôi đã rất vui khi thấy anh ấy và tôi đã mong anh ấy trở lại.

“Này, em đã bắt đầu cảm thấy khá hơn thì có vẻ như là bọn anh có thể tháo bớt một số máy móc ra khỏi người em được rồi đấy.”

Tôi đang ăn và Tom giúp tôi điền vào thực đơn và giúp tôi hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Bác sĩ tâm lý (psychiatrist) của bệnh viện tới và tôi từ chối nói chuyện. Sau đó thì Tom bước vào.

“Anh nghe nói là em không chịu nói chuyện với bác sĩ. Việc đó là rất quan trọng để các bác sĩ biết là họ có thể làm gì để giúp em.”

Tôi đã học được cách tin tưởng gã ngốc này. Tôi nghĩ là anh ấy hiểu tôi. Anh ấy ở phe tôi. Anh ấy kiếm cho tôi một cái burger, anh ấy thích bóng chày, anh thấy thực sự để ý đến tôi và việc tôi thích gì. Anh ấy dành thời gian và quan tâm tới tôi. TỚI TÔI. Anh ấy dường như thực sự quan tâm tới tôi cho dù tôi có coi anh ấy như một gã ngốc vớ vẩn. Anh ấy ở phe tôi. Bởi vậy tôi đồng ý nói chuyện với bác sĩ.

Sau đó tôi được biết là họ muốn chuyển tôi tới tầng điều trị tâm lý trong bệnh viện. Không đời nào tôi nghe theo. Tôi sẽ phải dậy và rời đi á? Không không không không không.

Sau đó Tom lại tới nói chuyện với tôi. “Anh cần phải nói chuyện với em về việc này. Em biết đấy, nếu em không tự nguyện đi họ có thể buộc em phải đi mà em chẳng làm gì được. Em có thể bị ở lại đây lâu hơn theo cách đó. Em đã bảo là em ghét ở nhà mà. Em hãy nghĩ là mình đang đi nghỉ đi. Em cứ đi nói chuyện với mọi người, chơi các trò chơi. Họ có bàn bóng bàn đấy, em bảo là em thích chơi bóng bàn mà.”

Tom biết là tôi thích chơi bóng bàn và chẳng ai khác biết cả vì nào có ai hỏi. Chả có ai khác để ý tới cái áo tôi mặc, nói chuyện về bóng chày, hay là biết tôi thích ăn hamburger. Chẳng có ai khác vi phạm quy định của bệnh viện và kiếm cho tôi một cái burger. Chẳng có ai khác nói chuyện với tôi như một con người. Vì vậy, nếu anh ấy bảo chuyển đi là ok thì tôi tin. Tôi nói, “Ok em sẽ đi.”

Anh nói, “Tuyệt, anh sẽ đi lên đó với em. Nhưng trước tiên anh có một điều bất ngờ.”

Rồi Tony Oliva, một ngôi sao đã nghỉ hưu của đội Twins (người mà đã thiếu đúng một phiếu để được vào ngôi nhà danh vọng vào năm 2014), bước vào với một cây gậy bóng chày từ giải world series. Ông nói chuyện về bóng chày với tôi và Tom cả tiếng đồng hồ. Ông ký tên lên chiếc gậy rồi tặng nó cho tôi.

Tom bắt gặp ông đi thăm ai đó trong bệnh viện và đã tiếp cận và làm phiền ông nhiều lần cho tới khi ông đồng ý tới gặp tôi. Tom đã làm việc này vào các giờ nghỉ và ngày nghỉ.

Tôi, một fan cuồng 17 tuổi của đội Twins, cứ ngỡ như mình ở thiên đường. Bóng chày là môn thể thao mà tôi ưa thích. Đó là một điều tuyệt chưa từng có. Tôi đã cười. Mẹ tôi bảo, “Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy thằng bé cười trong suốt nhiều tháng,” rồi lại khóc nức nở. Cứ như là mẹ tôi biết là kể từ thời điểm ấy tôi sẽ ổn.

Tôi đi cùng với Tom lên khu vực điều trị tâm lý cho người thành niên. Tôi cầm theo chiếc gậy trong tay mình. Khi tôi mở những cánh cửa đó ra cuộc sống mới của tôi bắt đầu. Nó không phải một sự kết thúc, mà là một sự khởi đầu cho tôi.

Tôi đã có một ý tưởng đúng. Tôi cần phải giết chết chính mình, nhưng không phải theo nghĩa đen. Tôi cần phải giết chết cái tôi giả (false self) của mình. Đó là cách mà bạn hàn gắn.

Tôi đã bước qua những cánh cửa đó. Những cánh cửa đã mở ra và đó là bắt đầu của một hành trình dài đầy đau khổ. Đó là sự mở ra cho một sự khởi đầu mới. Tom giống như một người chăn cừu. Tôi chính là chú cừu đi lạc.

Tôi đã không tài nào có thể bước qua được những cánh cửa đó nếu không có Tom.

Tất cả bắt đầu bằng việc anh ấy xuất hiện và nói xin chào. Anh ấy để ý mọi thứ, gây dựng mối quan hệ, làm nhiều hơn những gì cần làm, và không phải lúc nào cũng đi theo các nguyên tắc. Anh ấy đã có vợ và con cái và một cuộc sống riêng nhưng ở trong bệnh viện đó anh ấy dành ưu tiên cho tôi. Thời gian mà tôi ở trong căn phòng đó, có anh ấy, có những lúc tôi đã là thứ quan trọng nhất trên đời. Khi anh ấy rời khỏi đó, tôi chắc là anh vẫn sống cuộc sống bình thường của mình. Nhưng khi anh ấy ở đó với tôi, anh ấy chỉ hoàn toàn tập trung vào tôi. Anh ấy không bị xao lãng bởi những điều khác. Anh ấy đã hoàn toàn ở đó với tôi. Trước đó anh ấy chỉ đơn giản là ở đó. Nói xin chào.

Tôi nghe mọi người nói là Tony Oliva đã khiến tôi chịu chuyển lên đó, rằng ông ấy đã cứu sống tôi. Tuy rằng điều đó thật tuyệt, và ngày hôm đó thật đáng nhớ, nhưng sự thật là Tom đã giúp tôi lên đó. Anh ấy là người đã cứu sống tôi. Những chuyện xảy ra sau những cánh cửa đó lại là một câu chuyện khác để kể vào một hôm khác.

Bạn thường nghĩ là bạn cứu sống một người theo cách bạn thấy trên TV thế này:

Ai đó đang bị kẹt trong một đám cháy tại một tòa nhà cao tầng. Người lính cứu hỏa lao vào để cứu anh ta. Người lính cứu hỏa có đủ mọi trang bị cần thiết và đã được đào tạo cẩn thận. Anh ta đã sẵn sàng với nhiệm vụ này và đưa được người kia ra khỏi tòa nhà.

Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như thế. Đôi khi người ta bị cháy và chết dần ở trong lòng. Chúng ta chẳng làm gì cả. Chúng ta để cho họ cháy. Tất cả chúng ta đều thế. Chúng ta quá bận rộn với cuộc sống của chính mình.

Bạn không cứu một mạng người bằng cách lao vào một tòa nhà đang cháy. Bạn cứu một mạng người bằng cách nói xin chào.

Hy vọng tất cả các bạn đều là Tom của một ai đó hôm nay.

“Một con mèo đã làm bạn trai tôi bớt trầm cảm như nào”

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc tiếng Anh của Hannah Louis Poston đăng trên The New York Times ngày 13/08/2015. Đọc như truyện ngắn lol.

Khi bệnh trầm cảm của bạn trai tôi Joe (nguyên văn là partner – ND) trở nên tệ nhất, anh ấy tỉnh dậy vào buổi sáng chìm đắm trong trạng thái lơ mơ dễ nhận thấy tới mức đôi khi tôi cũng choàng tỉnh theo, như thể là tôi ngửi thấy mùi gì cháy.

Trong suốt những năm đầu bên nhau, tôi thường ước là buổi sáng anh ấy sẽ quay sang nói “Chào buổi sáng!” một cách vui vẻ và hôn tôi thay vì trượt ra khỏi giường một cách trống rỗng, như một cái xác chết di động, đi kiếm cà phê.

Tôi cuối cùng cũng hiểu rằng nằm một mình trên giường và mơ tưởng về một Joe không trầm cảm là một ý tưởng tệ hại. Nó làm tôi trở nên cáu bẳn, và rồi cả hai chúng tôi đều có một ngày tệ hại.

Bởi vậy, thay vào đó tôi mặc áo choàng ngủ vào và xỏ chân vào đôi ủng cao su, trong tâm trạng vui vẻ hết mức có thể, rồi đi lấy đám trứng xanh xinh đẹp từ bọn gà Aracuna của bạn cùng nhà của chúng tôi.

Khi tôi tới, sàn của chuồng gà đầy cỏ khô và lông rơi xuống lả tả bởi lũ chuột khi ấy mới vội rút về ổ của chúng đằng sau thùng compost. Bọn chuột luôn phá chúng tôi, và mong chúng biến mất đi cũng chẳng khác nào mong cho Joe hết trầm cảm.

“Chúng ta cần một con mèo,” gần như sáng nào tôi cũng tuyên bố như thế khi sắp xếp đám trứng còn ấm vào trong rổ ở bên bàn bếp. Tôi vận động mãi, giải thích rằng kể cả khi nó không phải là loại biết bắt chuột thì có một con mèo trong nhà cũng sẽ giảm bớt được sự hoành hành của bọn chuột.

Joe thì không chắc lắm về con mèo. Anh ấy luôn nghi ngờ những ý tưởng có vẻ như là vội vàng – chậm chấp nhận những thứ mới, chậm thay đổi.

“Em đã nghĩ là tại sao em lại muốn có một con mèo chưa?” một tối anh ấy hỏi tôi như thế.

“Ý anh là gì, tại sao là thế nào?” tôi cảm thấy bị xúc phạm. Anh ấy như kiểu đang ám chỉ là ngoài chuyện bọn chuột tôi có những lý do không chính đáng khi muốn có một con mèo. “Tại sao lại ai cũng muốn có một con mèo? Nó là con mèo thôi.”

“Chỉ là việc này có lẽ sẽ tốn của chúng ta nhiều năng lượng,” anh nói.

Joe và tôi khi ấy đã ở bên nhau được gần ba năm tròn, thời điểm mà, theo một nghiên cứu chỉ ra, nhiều cặp đôi rất dễ tan vỡ.

Các đợt trầm cảm của anh ấy bắt đầu trở lại thường xuyên hơn, mỗi lần kéo dài nhiều ngày. Trong những ngày này, nếu tôi có mua một pint kem sô-cô-la bạc hà về (loại anh ấy thích), thường anh ấy cũng chẳng hào hứng và thậm chí còn chẳng thèm ăn.

Không, anh ấy chẳng muốn đi xem phim cũng chẳng muốn đi nhảy cũng chẳng màng đến sex. Mọi lời đề nghị, cả bản thân tôi nữa, cũng đều bị tống xuống một cái hố sâu xám xịt, khiến tôi cảm thấy rất bất lực và tủi thân. Tôi đã học được rằng cách tốt nhất để yêu Joe trong những thời gian này là để anh ấy được ở một mình.

“Em không thể chữa trầm cảm được đâu,” một lần Joe bảo tôi thế. “Em chỉ có thể học sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Tôi đã khá hơn trong việc sống chung với nó; tôi bắt đầu mua loại kem mà tôi thích thay vì loại mà anh ấy thích. Và khi cuối cùng tôi cũng lái xe đi hết Portland để tới chỗ Oregon Humane Society (tạm dịch, Hội Nhân đạo Oregon) vào một ngày tháng Tám, tôi đã làm việc đó một cách bí mật, nổi loạn, và hoàn toàn vì những lý do cá nhân mà tôi không nói ra.

Trước đó là một tuần đặc biệt khó khăn. Chiến lược đã được mài giũa cẩn thận của tôi để yêu một người trầm cảm là giúp đỡ chính mình thay vì cố gắng giúp đỡ anh ấy. “Và hôm nay,” tôi đã nghĩ khi tôi đỗ xe trong bãi đỗ của hội nhân đạo, “tôi sẽ giúp chính mình kiếm một con mèo.”

Khi Joe về tới nhà vào tối hôm đó, con mèo – chỉ là một nhúm lông vằn – nhảy ra từ dưới gầm giường. Tôi hít một hơi thật dài, chuẩn bị bảo vệ quyết định của mình.

Nhưng sau đó tôi nhìn thấy đôi mắt màu lục của con mèo gặp đôi mắt đẹp mà buồn của anh, khi đó như thể là có pháo hoa và cực quang xuất hiện vậy. Khi con mèo cố gắng đi một cách duyên dáng, đồng thời cũng rẽ ngang rẽ dọc trên đường nó đi, thành thử trông bước chân hơi liêu xiêu, tôi nghĩ là trong mắt Joe đã xuất hiện hai trái tim màu hồng thay cho đồng tử.

Sáng hôm sau khi chúng tôi thức dậy, điều đầu tiên mà Joe nói là, “Con mèo đâu rồi?” Và phản ứng đầu tiên của con mèo, khi nó nghe tiếng anh, là trèo lên trên chăn rồi nhảy vào mặt anh.

Cũng mùa hè năm ấy, Joe có đủ sức để tạo ra những thay đổi lớn trong đời: Anh bỏ hút thuốc, và anh nghe theo lời khuyên của chuyên gia trị liệu là thử Wellbutrin, một loại thuốc chống trầm cảm thường được kê như một hỗ trợ sau khi bỏ thuốc lá.

Sadie hóa ra lại biết bắt chuột rất tài tình. Đến lúc nó đủ lớn để bắt chuột, nó đã đuổi theo hết con này đến con khác theo những kẽ hở trong tường và hầu như tối nào cũng tha về một con.

Nó sẽ thả con mồi ra để chơi và chúng tôi sẽ thấy con chuột lủi vào sau tủ hoặc dưới giường. Sau đó Joe sẽ dùng một cái gắp salad cũ, trông như một cái lao, để cùng Sadie săn chuột.

Còn tôi sẽ nằm trên giường, hạnh phúc ngắm nhìn gã người yêu gầy gò, ngái ngủ, và trần trùng trục của mình hấp tấp dồn con chuột vào góc trong ánh sáng lờ mờ lúc ba giờ sáng, xem anh ấy vui đùa, cười, và thì thầm với Sadie, còn nó thì sẽ meo lên và quẩn quanh dụi đầu vào chân anh.

Điệp khúc buổi sáng “Con mèo đâu rồi?” trong bốn năm qua đã dần chuyển thành “Chào buổi sáng, Đậu Phộng,” và một cái hôn lên má tôi. Đôi khi tôi còn được ôm ấp một tí trước khi uống cà phê.

Joe vẫn có những ngày tệ hại. Nhưng kể cả trong những ngày tệ nhất, khi Joe chìm trong u ám còn tôi thì chuẩn bị rút về một góc riêng của mình ở trong nhà, Sadie vẫn sẽ nhẹ nhàng lẻn vào phòng, như xà phòng giữa đám dầu mỡ, như ánh sáng giữa sương mù.

“A, Sadie! Lại đây nào, quả sồi con này,” Joe sẽ gọi nó. “Hôm nay em thế nào? Đến trường có vui không? Có bị ai bắt nạt không?” Sau đó anh ấy sẽ tự bật cười vì mấy câu đùa của mình và tóm lấy con mèo rồi ôm nó như ôm một đứa trẻ, xoay về hướng tôi.

“Coi Sadie nè,” anh sẽ nói, lấy mấy ngón tay gãi gãi vào giữa hai tai nó cho lông dựng hết lên, cỡ một inch. “Mày đang gừ gừ à, mặt cá? Mày đang gừ gừ đúng không?” Rồi anh áp sát con mèo vào tai mình như một cái hộp nhạc. “Nó đang gừ gừ đấy,” anh hớn hở bảo tôi.

Khi tôi hỏi Joe là anh ấy có nghĩ Sadie đã chữa khỏi bệnh trầm cảm cho anh ấy không, gương mặt anh trông rất bối rối.

“Dĩ nhiên là không,” anh nói. “Em phải nhớ là trầm cảm là không thể chữa được.”

“Em biết,” tôi nói. “Ta chỉ có thể sống chung với nó tốt hơn mà thôi.”

Giống như những buổi săn chuột vào đêm muộn, sự khỏe mạnh của Joe là một nỗ lực có sự hỗ trợ. Mặc dù có sự giúp đỡ của Sadie, rốt cục Joe vẫn là người tóm lấy đuôi con chuột bằng cái gắp salad cũ, và mang con chuột đang giãy dụa ra cửa xử lý. Nhưng Sadie đã giúp đỡ nhiều tới mức đôi khi khó mà nói được đâu là nơi những lựa chọn của chúng tôi ngừng lại và sự tồn tại của nó bắt đầu.

Khi bắt đầu thấy những dấu hiệu buồn chán từ Joe, tôi lại đi tìm Sadie và mang nó đến đặt vào lòng anh, như một lời xoa dịu. Kể cả trong những trận cãi vã tồi tệ nhất của chúng tôi, cuối cùng một trong hai sẽ bế Sadie lên và mang tới chỗ người kia, nhấc lên hạ xuống con mèo một lúc khiến nó phải giãy lên và đưa mắt lườm rất đáng yêu.

Khi chúng tôi quá tức giận không ai muốn động vào ai thì chúng tôi vẫn có thể cùng vuốt ve Sadie, và kết cục là chúng tôi như đứng giữa cuộc chiến của hai quốc gia, cùng bám lấy chiếc cầu bắc ngang qua biển cả giữa hai người, rồi lặng lẽ gửi đi những thông điệp ngừng bắn: những ngón tay sẽ gặp nhau giữa đám lông mèo.

Một buổi chiều mùa thu vừa rồi, Sadie mang về một con sẻ chết. Đó là bi kịch của một con chim bị mèo tóm; một thứ đã từng là khó nắm bắt nay chỉ còn là một nắm tơ và nằm hy sinh trên sàn bếp của chúng tôi.

Sau khi Sadie biết chắc là chúng tôi đã nhìn thấy thành tích của nó, nó ăn sạch con chim đó: móng vuốt, mỏ, xương, và cả những chiếc lông cuối cùng. Chưa đầy một phút. Khi chúng tôi vừa mới quen với việc nhìn nó ăn con chim thì nó đã ăn xong và bỏ đi, trên sàn chỉ còn lại vài chấm máu.

Sadie là hạnh phúc của chúng tôi, khó kiếm và hư hỏng. Hạnh phúc của chúng tôi ngoác miệng cười và liếm sạch máu ở cằm. Hạnh phúc của chúng tôi chỉ tình cảm khi nào nó thích, và vì nó là họ nhà mèo, “khi nào” của nó phải lâu lâu mới có.

Nhưng ít nhất thì hiện giờ nó đang sống trong nhà chúng tôi. Nắng sớm trải trên mái tóc đen của Joe, ba chúng tôi quấn lấy nhau trong chăn, chiếc giường như một con thuyền đơn sơ, và chúng tôi lái nó tới, nếu những ngày này có ý nghĩa gì, một ngày tương đối tốt lành.

Tác giả Hannah Louis Poston đang học thạc sĩ (M.F.A.) chuyên ngành thi ca tại Helen Zell Writers’ Program, University of Michigan.

Các bước phục hồi sức khỏe tâm thần

“Phục hồi sức khỏe tâm thần là một hành trình hàn gắn và thay đổi để một người có vấn đề về sức khỏe tâm thần có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa trong một cộng đồng do anh hay chị ấy lựa chọn trong khi nỗ lực để phát triển hết những tiềm năng vốn có của mình.”

–SAMSHA (the Substance Abuse and Mental Health Services Administration/Center for Mental Health Services) (http://www.samhsa.gov/)

Các bước phục hồi

Trầm cảm và rối loạn lưỡng cực là các rối loạn khí sắc – những bệnh lý thực sự có ảnh hưởng đến tâm trạng, suy nghĩ, cơ thể, năng lượng, và cảm xúc. Cả hai bệnh này, đặc biệt là rối loạn lưỡng cực, có xu hướng lặp lại theo chu kỳ, nghĩa là bệnh có lúc lên lúc xuống.

Điều trị các bệnh này cũng có lúc lên lúc xuống. Dù chúng ta rất muốn, tình trạng khỏe mạnh không thể đến chỉ sau một đêm. Là bình thường nếu bạn ước rằng mình có thể khỏe hơn nhanh chóng hơn hay lo lắng là mình sẽ chẳng bao giờ khá hơn được. Tuy nhiên, hãy biết rằng bạn có thể thấy khá hơn, và về cơ bản bạn là người làm chủ quá trình phục hồi của mình. Có rất nhiều thứ bạn có thể làm để tự giúp mình.

Giảm các triệu chứng chỉ là bước đầu tiên trong điều trị trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Tình trạng khỏe mạnh, hay sự phục hồi, là sự trở lại của một cuộc sống mà bạn cảm thấy muốn sống. Sự phục hồi diễn ra khi căn bệnh của bạn ngừng chen ngang vào cuộc sống của bạn. Bạn là người quyết định “phục hồi” đối với bạn có nghĩa là gì.

Bạn có quyền được phục hồi theo những nhu cầu và mục tiêu của mình. Hãy nói chuyện với bác sĩ của mình (nguyên văn, health care provider – ND) về những gì bạn cần từ việc điều trị để đạt đến sự phục hồi mà bạn mong muốn. Bác sĩ của bạn có thể cung cấp những điều trị và/hoặc thuốc phù hợp nhất với bạn. Trong suốt quá trình, bạn có quyền được hỏi những câu hỏi liên quan đến những dạng điều trị được kê cho bạn và lựa chọn dạng điều trị của mình.

Cũng sẽ là hữu ích nếu bạn làm việc với cả chuyên gia tâm lý (therapist), người thân, bạn bè, hoặc những người đồng cảnh để xác định con đường phục hồi cho mình. Định nghĩa của bạn về một cuộc sống có ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian.

Đôi khi trầm cảm và rối loạn lưỡng cực có thể khiến việc đặt ra mục tiêu cho mình trở thành khó khăn. Bạn có thể cảm thấy dường như nghĩ về những điều bạn hy vọng hay quan tâm tới là bất khả thi. Nhưng xác định mục tiêu lại là một phần quan trọng của tình trạng khỏe mạnh, bất kể là bạn đang ở đâu trên con đường hồi phục. Hãy làm những gì bạn có thể khi nào bạn có thể.

Đặt mục tiêu

Xác định các mục tiêu trong cuộc sống là trung tâm của quá trình phục hồi. Khi chúng ta nhìn thấy một tương lai cho chính mình, chúng ta sẽ bắt đầu có động lực để làm những gì có thể để đi đến tương lai đó. Các mục tiêu có thể lớn hoặc nhỏ, tùy thuộc vào việc bạn đang ở đâu trong quá trình phục hồi.

Hãy hỏi mình:

  • Điều gì thúc đẩy tôi?
  • Điều gì làm tôi hứng thú?
  • Tôi sẽ làm gì hơn nữa nếu tôi có thể?
  • Tôi muốn gì?
  • Tôi quan tâm tới điều gì, hay tôi đã quan tâm tới điều gì trước khi tôi bị bệnh?
  • Tôi muốn cuộc đời mình đi về đâu?
  • Điều gì mang tới cho tôi niềm vui?
  • Các giấc mơ và hy vọng của tôi là gì?

Có thể bắt đầu với những mục tiêu nhỏ và dần dần hướng tới những mục tiêu lớn hơn. Bạn có thể muốn bắt đầu bằng việc đặt ra một mục tiêu nhỏ cho mình vào đầu mỗi ngày. Khi tình trạng của bạn được cải thiện hơn trong quá trình phục hồi, hãy nhìn vào những mảng khác nhau trong cuộc sống của mình và nghĩ về những mục tiêu ngắn và dài hạn.

Gợi ý mục tiêu ngắn hạn:

  • Ra khỏi giường trước xx:00 giờ sáng.
  • Hoàn thành một việc nhà.
  • Liên lạc với một nhóm tự hỗ trợ.

Gợi ý mục tiêu dài hạn hơn:

  • Tham gia tập huấn hoặc lấy kinh nghiệm để tìm việc.
  • Thay đổi gì đó về điều kiện sống, ví dụ tìm một căn hộ.
  • Xây dựng quan hệ với một người bạn hoặc một người thân trong gia đình.

Hãy nhớ là trước hết hãy bẻ các mục tiêu của bạn thành các bước nhỏ. Một mục tiêu kiểu như “chuyển tới một thành phố khác” có thể rất khó để hình dung và lập kế hoạch được ngay tức khắc. Hãy hỏi mình xem bạn cần làm gì trước tiên. Bạn có thể làm gì ngay bây giờ để sau này có thể đạt tới mục tiêu đó? Điều này không chỉ đưa bạn tới gần mục tiêu của mình hơn, mà còn có thể giúp bạn có được cảm giác tích cực hơn vì đã hoàn thành một điều gì đó.

Tôi có thể làm những gì để cảm thấy khá hơn?

Hiểu được sự khác biệt giữa những triệu chứng bệnh của bạn và con người thật của bạn.

Bác sĩ của bạn có thể giúp bạn phân biệt được con người thật của bạn với những triệu chứng của bệnh bằng cách giúp bạn nhìn ra bệnh của bạn ảnh hưởng tới hành vi của bạn như thế nào. Hãy cởi mở về những hành vi bạn muốn thay đổi và đặt ra mục tiêu để tạo ra những thay đổi đó.

Tăng cường hiểu biết cho gia đình bạn.

Hãy để gia đình và bạn bè bạn tham gia vào quá trình điều trị những khi có thể. Họ có thể giúp bạn xác định các triệu chứng, theo dõi hành vi, và có thêm cách nhìn khác. Họ cũng có thể đưa ra những phản hồi mang tính khuyến khích và giúp bạn lập kế hoạch để ứng phó với những khủng hoảng trong tương lai.

Hướng tới lối sống lành mạnh.

Phục hồi cũng có nghĩa là một cuộc sống lành mạnh, trong đó bao gồm ngủ đủ giấc, ăn những đồ ăn lành mạnh, và tránh đồ uống có cồn, ma túy, và các hành vi rủi ro.

Tìm ra cách điều trị phù hợp cho mình.

Hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn về các ảnh hưởng của thuốc mà bạn dùng, nhất là các tác dụng phụ gây phiền hà cho bạn. Bạn nhớ phải theo dõi các ảnh hưởng này để có thể trao đổi đầy đủ thông tin với bác sĩ. Bạn có thể sẽ cần một liều thấp hơn, một liều cao hơn, hay một loại thuốc khác. Bạn có thể cần chuyển từ uống thuốc vào buổi sáng sang uống vào buổi tối, hoặc uống thuốc khi ăn no. Có rất nhiều khả năng [điều chỉnh] mà bạn và bác sĩ của bạn có thể thử. Các tác dụng phụ có thể được giảm nhẹ hoặc biến mất. Điều rất quan trọng là bạn phải nói chuyện với bác sĩ của mình trước khi thay đổi bất cứ điều gì trong dùng thuốc.

Luôn luôn phải nói chuyện với bác sĩ của bạn trước tiên nếu bạn cảm thấy muốn thay đổi liều hoặc ngưng dùng thuốc. Hãy giải thích xem bạn muốn thay đổi thế nào và tại sao bạn nghĩ thay đổi đó lại tốt hơn cho bạn.

Thuốc điều trị trầm cảm và rối loạn lưỡng cực

Bác sĩ của bạn có thể kê một hoặc nhiều hơn trong số những dạng thuốc sau đây để điều trị các triệu chứng bệnh:

  • Thuốc ổn định tinh thần (mood stabilizers): Những thuốc này giúp cân bằng giữa tình trạng trầm cảm và hưng cảm của bạn. Một số thuốc nhóm này còn được gọi là thuốc chống co giật (anticonvulsants), vì chúng cũng được sử dụng để chữa bệnh động kinh.
  • Thuốc chống trầm cảm (antidepressants): Những thuốc này giúp cải thiện các triệu chứng của trầm cảm. Có vài dạng thuốc chống trầm cảm khác nhau.
  • Thuốc chống loạn thần (Antipsychotics): Những thuốc này chủ yếu được dùng để điều trị hưng cảm. Kể cả khi bạn không có ảo giác, những thuốc này đều giúp giảm tốc cho những suy nghĩ bấn loạn của bạn để chúng trở về mức có thể kiểm soát được.

Trị liệu bằng nói chuyện

Có nhiều dạng trị liệu bằng nói chuyện (talk therapy) có thể giúp bạn tháo gỡ những vấn đề trong cuộc sống và học những cách mới để có thể xoay xở với căn bệnh của mình. Đặt ra mục tiêu là một phần trong trị liệu bằng nói chuyện.

Trị liệu bằng nói chuyện có thể giúp bạn:

  • Hiểu hơn về bệnh của mình.
  • Vượt qua những nỗi sợ hãi hoặc bất an.
  • Xử lý stress.
  • Hiểu được những sang chấn trong quá khứ.
  • Tách bạch được con người thật của bạn và những dao động tâm trạng gây ra bởi căn bệnh của bạn.
  • Xác định các tác nhân kích thích có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng bệnh của bạn.
  • Cải thiện quan hệ của bạn với gia đình và bạn bè.
  • Tạo lập một thói quen sinh hoạt (routine) ổn định, đáng tin cậy.
  • Lập một kế hoạch ứng phó với các khủng hoảng.
  • Hiểu được tại sao có những vấn đề khiến bạn cảm thấy phiền muộn và bạn có thể làm gì với chúng.
  • Ngưng các thói quen gây hại như dùng đồ uống có cồn, dùng ma túy, tiêu xài quá mức, hoặc quan hệ tình dục rủi ro (risky sex).
  • Xử lý các triệu chứng như thay đổi nếp ăn hoặc nếp ngủ, giận dữ, lo lắng, bứt rứt, hoặc những cảm giác không thoải mái.

Lối sống

Một lối sống lành mạnh luôn luôn là quan trọng. Kể cả khi những triệu chứng của trầm cảm hay rối loạn lưỡng cực gây khó khăn cho những hoạt động thể chất, ăn uống lành mạnh, hay ngủ đủ giấc, bạn vẫn có thể cải thiện tâm trạng của mình bằng cách cải thiện sức khỏe. Hãy tận dụng những ngày bạn cảm thấy ổn. Vào những ngày này, hãy làm gì đó có lợi cho sức khỏe của mình. Có thể chỉ đơn giản là đi bộ một chút, ăn rau hay hoa quả tươi, hoặc viết nhật ký. Nói chuyện về thay đổi trong lối sống nên là một phần trong việc đặt mục tiêu mà bạn bàn với bác sĩ của mình.

Kế hoạch điều trị của bạn sẽ là duy nhất với bạn. Nó sẽ đi theo một số nguyên tắc và tiến trình, nhưng bạn và bác sĩ của bạn có thể điều chỉnh nó cho phù hợp với bạn.

Nguyễn Hồng Anh trích dịch từ Depression and Bipolar Support Alliance.

Sống chung với trầm cảm và rối loạn lưỡng cực

Sống tốt

Trong một bài báo trên Australian and New Zealand Journal of Psychiatry số tháng 03/2005, TS [Sarah] Russell cho biết chị đã khảo sát một trăm bệnh nhân rối loạn lưỡng cực đã sống tốt trong hai năm liền hoặc nhiều hơn. Sống tốt đối với một số người nghĩa là không còn các triệu chứng bệnh và cư xử bình thường. Với những người khác lại là cảm giác có thể kiểm soát được căn bệnh của mình. 76% số người tham gia khảo sát vẫn làm việc và có thu nhập, 38% có con cái.

TS Russell phát hiện thấy những bệnh nhân thành công [trong việc sống tốt với căn bệnh của mình] là những người có ý thức rõ ràng về chẩn đoán tình trạng của mình và “việc họ phản ứng như thế nào với hoàn cảnh vật chất, xã hội, cảm xúc, và tinh thần của họ”. Không chỉ đơn giản là dùng thuốc và quên đi căn bệnh của mình (một tư tưởng được tạo ra bởi các bác sĩ của họ), các bệnh nhân này sẽ “nhanh chóng hành động để ngăn chặn tình trạng dao động về tâm trạng (mood swing) của mình”. Nhanh chóng hành động thường có nghĩa là ngủ một giấc thật ngon vào buổi đêm và các hoạt động chiến lược dạng ngừng-mọi-việc-lại-và-thưởng-thức-hương-thơm-của-hoa-hồng (stop-and-smell-the-roses).

Những bệnh nhân trong nghiên cứu biết cách nhận dạng các nhân tố gây kích thích tới tâm trạng của họ, và họ cho biết chúng cần được xử lý sớm hơn nhiều trước khi chờ được lời khuyên từ bác sĩ. Đến khi những vấn đề về tình dục, năng suất lao động, và hưng cảm nhẹ (hypomania) bắt đầu phát ra thì thường là đã quá muộn. Thay vào đó, họ rất nhạy bén với những thay đổi dù là nhỏ nhất về giấc ngủ, tâm trạng, suy nghĩ, và mức năng lượng của mình.

Hầu hết những người tham gia đều rất hào hứng với việc duy trì nếp ngủ của mình. Khi có điều gì làm xáo trộn cuộc sống thường ngày của họ, họ sẽ không ngần ngại uống một liều thuốc ngủ. Bên cạnh đó, những người này làm những gì có thể để giảm thiểu stress trong cuộc sống của mình. Những lựa chọn thông minh về lối sống (chế độ ăn, thể dục, v.v.) như là một điều bắt buộc, trong đó bao gồm những thay đổi lớn về nghề nghiệp, nếu như đã ở tình trạng “nước sôi lửa bỏng” (if push came to shove). Tự giáo dục cho mình là một điều cốt yếu và hỗ trợ từ bên ngoài là có ý nghĩa.

Những người tham gia nghiên cứu này thường mất một thời gian loay hoay tìm kiếm cho tới khi họ tìm được một bác sĩ tâm lý (psychiatrist) phù hợp với mình. 85% có dùng thuốc. Điều chỉnh về liều dùng là thường thấy, nhưng những thay đổi trong dùng thuốc không có tác động nhiều bằng việc thay đổi lối sống. Nhiều người kết hợp dùng thuốc với những điều trị bổ sung khác như liệu pháp nhận thức (cognitive therapy), bổ sung dinh dưỡng, trị liệu tự nhiên (naturopathy), tâm trị liệu (psychotherapy), Đông y, massage, thái cực quyền, thiền tập, và yoga (thường bất chấp sự phản đối của các bác sĩ tâm lý của họ). Mười người sống tốt chỉ nhờ trị liệu bằng nói chuyện (talking therapy) mà không dùng thuốc.

TS Russell đặc biệt ấn tượng bởi “kế hoạch sống tốt” của các bệnh nhân này, từ việc nói chuyện để tăng cường hiểu biết với các thành viên trong gia đình và những người khác cho tới những kế hoạch được viết ra. Đây không phải là chuyện các bệnh nhân bị ám ảnh bởi căn bệnh của họ, mà, chị viết: “Khi [họ] cảm thấy khỏe, căn bệnh lùi lại phía sau trong tâm trí họ. Khi đó nó không đóng một vai trò lớn trong cuộc sống của họ, nhưng họ biết rằng nó còn ở đó. Mặt khác, khi họ gặp phải những tác nhân gây kích động và cảm nhận được ‘các dấu hiệu cảnh báo sớm’ thì đó là lúc cần trở nên thận trọng.”

Ngăn ngừa tự tử

Đối với nhiều người trong chúng ta, căn bệnh mình phải chịu đựng vào lúc tệ nhất cảm giác giống như có một thứ gì đó đâm xuyên qua hộp sọ. Tự tử thường không phải là câu hỏi về sống hay chết, mà chỉ đơn giản là để thoát khỏi nỗi đau. Như Violet mô tả: “Mặc dù tôi thực sự không muốn chết vì tôi sợ phải xuống Địa ngục, tôi vẫn muốn nỗi đau của mình ngừng lại. Tôi cảm giác như thể nếu không có một cái gì đó xảy ra thì tôi sẽ lại suy sụp và làm điều gì đó điên rồ.”

Đa số mọi người sống sót với căn bệnh trầm cảm, nhưng cái viễn cảnh tìm thấy chính mình trong đám đông may mắn đó không làm cho chúng ta nhẹ nhõm đi được là bao. Trải nghiệm này đã bộc lộ hết những điểm yếu nhất của chúng ta, và sâu thẳm bên trong chúng ta không còn tin vào những gì ngày mai có thể mang đến. Chúng ta có thể sẽ vẫn đi lại và hít thở, nhưng chúng ta đã từng cận kề cái chết y như vẫn cận kề sự sống, và tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ để cho chúng ta quên đi điều đó.

Chúng ta suy nghĩ về số phận của nhóm thiểu số không may mắn, và đôi khi chúng ta phải thốt ra lời cầu nguyện. Chúng ta nghĩ về những sự tra tấn tinh thần mà họ đã phải trải qua và biết rằng chẳng có Chúa nào sẽ đánh giá điều gì chống lại họ. Hôm nay chúng ta đang là những người may mắn, nhưng ngày mai có thể sẽ khác.

Tuy nhiên, bạn có thể lập kế hoạch cho ngày mai. Bạn có thể bắt đầu bằng việc theo dõi các suy nghĩ và cảm xúc của mình thật cẩn thận. Bạn có thể nhận dạng được những dấu hiệu dù là nhỏ nhất trong tâm trí mình trước khi một cơn khủng hoảng được phát triển đầy đủ và làm bạn quá tải.

Forney_Marbles_MoodCarousel

Hình từ Marbles: Mania, Depression, Michelangelo, and Me
của Ellen Forney (Gotham/Penguin, 2012)

Trong thời gian này, hãy nuôi dưỡng các mối quan hệ với bạn bè và các thành viên trong gia đình mà bạn có thể tin cậy. Nếu bạn không có bạn bè hay người thân nào mà bạn có thể tin cậy, hãy tìm kiếm một nhóm tự hỗ trợ (support group, một nhóm những người sống chung với căn bệnh này chia sẻ kinh nghiệm với nhau – ND). Những người mà bạn tin cậy nên là những người có thể ra quyết định trong những tình huống khủng hoảng thực sự, trong đó có việc đưa bạn đi cấp cứu.

Hy vọng là một điều vô nghĩa khi khủng hoảng đã xảy ra. Điều tốt nhất bạn có thể làm là cho mình thêm 24 giờ, và cố gắng bám vào ý nghĩ rằng những gì tâm trí của bạn đang thôi thúc chỉ là nhất thời. Theo một nghiên cứu năm 1978 của TS Richard Seiden, theo dõi 515 người đã được ngăn không cho nhảy xuống từ Cầu Cổng Vàng cho thấy 94% trong số đó vẫn còn sống sau 25 năm kể từ ngày họ có ý định tự sát hoặc đã chết vì những nguyên nhân tự nhiên, trong khi chỉ có 6% sau đó đã tự sát. TS Seiden đã nói trong một bản tin của ABC: “Toàn bộ mấu chốt của việc ngăn ngừa tự tử là một người không phải lúc nào cũng muốn chết trong cả cuộc đời mình. Việc đó [tự tử] liên quan tới khủng hoảng. Và nếu chúng ta có thể giúp họ qua được khủng hoảng đó, họ sẽ có cơ hội có một cuộc sống an lành.”

Sử dụng túi mẹo của riêng mình

Các nhóm tự hỗ trợ là một nguồn vô giá để học cách nhận dạng các thăng trầm của căn bệnh của mình – bao gồm các tác nhân tiềm ẩn gây kích động và các nguy hiểm khác – để tự tạo ra cho mình một túi mẹo (bag of tricks) để tự xoay xở trong cuộc sống, từ việc quản lý cơn giận cho tới xử lý stress khi chẳng may có ai đó gây bức xúc hay ức chế cho bạn. Theo thời gian, những gì từng làm bạn cảm thấy bất lực sẽ trở thành có thể quản lý được.

Vì chúng ta có xu hướng tự cô lập – điều có thể khiến bệnh tự nặng thêm – ra khỏi nhà là một việc quan trọng, kể cả khi chỉ là ra để lấy thư. Đi cà phê với bạn (nhưng uống thứ không caffeine thì tốt hơn) có thể tốt hơn cả uống thuốc chống trầm cảm, hoặc có thể làm cho thuốc có tác dụng tốt hơn. Những người đang không thể làm việc rất rất nên dành một đến hai ngày một tuần làm một việc tình nguyện nào đó.

Một trong những kỹ thuật ứng phó không gì thay thế được của tôi là Senfeld Gambit. Trong đầu tôi có tới cả triệu thứ nhảy ra cùng một lúc, nhưng oái oăm là tôi chỉ có thể mỗi lúc tập trung vào một thứ mà thôi. Do đó, khi tôi cười to tôi không thể tập trung vào những ý nghĩ tối tăm đẩy tôi vào cơn trầm cảm được. Cách đơn giản nhất để loại bỏ những suy nghĩ này và cười là tôi nghĩ đến bất cứ thứ gì từ bộ Senfeld. Đây chỉ là một giải pháp siêu tạm thời, phải nhắc bạn thế, nhưng cũng có những hiệu quả nhất định.

Emily, một người đăng ký nhận newsletter của tôi, cho biết một cách khác: “Tôi nhận thấy rằng niềm vui khi cù bọn trẻ con và nghe chúng ré lên cười giúp ích cho tôi những khi tôi chán ngán bản thân mình vì là một người mẹ trầm cảm. Bạn chẳng làm được gì ngoài việc cười! Bọn trẻ thì đi ngủ trong an lành, được thư giãn, và cảm thấy được yêu thương.”

KJ, một người yêu động vật và làm tình nguyện tại một trang trại động vật, viết:

Khi tôi rơi vào trạng thái đặc biệt tệ, tôi cố gắng đưa tâm trí của mình tới trang trại, đi từ chuồng này sang chuồng khác để thăm nàng lợn Dottie, chú dê vùng Tennessee tên Nashville, chú lạc đà Nam Mỹ tên Nho khô, và nhiều nhiều nữa. Điều đó rất dễ chịu và giúp làm vợi đi những cảm xúc tiêu cực mà tôi phải trải qua cho tới thời điểm đó. Tôi có rất, rất nhiều những cảm xúc yêu thương, trìu mến, và ấm áp đối với những con vật đó nên việc “đi thăm” chúng trong đầu cũng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới tôi.

Ed thì chia sẻ thế này: “Tôi cố gắng tích cực và giao lưu với những người tích cực. Tôi tránh những suy nghĩ tiêu cực và những người tiêu cực. Tôi rất dễ bị trầm cảm.”

Tom thì có cách “từ bỏ” để thoát khỏi những ám ảnh về việc phải trả đũa quá khứ (settling old scores) và khiến mình cảm thấy thanh thản hơn phần nào.

Một vài độc giả khác của tôi gợi ý những hoạt động mà họ hứng thú: đi dạo, xem phim hài, xem một chương trình TV về nấu ăn, đọc sách, đại khái vậy. Tôi theo đúng nghĩa đen đã phải viết ra con đường thoát khỏi đợt trầm cảm gần nhất của mình, và nó giúp tôi tránh đi những cơn trầm cảm trong tương lai. Và đừng quên giá trị của một con vật nuôi. Đây là để tiện thể khoe về chú mèo Holly của chúng tôi.

Hãy bắt đầu từ bất cứ đâu

Tôi yêu lời khuyên này. Nó đến từ cuốn The Power of Procovery của Kathleen Crowley. Kathleen đã phát điên bởi những đau đớn kinh niên nặng nề và liên tục. Như chị giải thích trên website của mình: “Cốt lõi của phương pháp procovery [tạm dịch, phục hồi tối đa] là tiến về phía trước khi bạn không còn đường lùi, để quá khứ ra đi và xây dựng lại những giấc mơ mới.”

Một phần của quá trình này là nhận thức được rằng những vấn đề lớn không nhất thiết phải đòi hỏi những giải pháp lớn. “Những thay đổi nhỏ,” chị viết, “có thể có tác động lớn.” “Chúng ta bắt đầu từ đâu?” là một băn khoăn dễ khiến chúng ta nản lòng. “Hãy bắt đầu từ bất cứ đâu,” chị khuyên, “cho dù đó là điều thứ nhất hay thứ năm hay thứ 30 trong danh sách những việc ta muốn làm, dù là đi kiếm một con cá vàng hay là đi kiếm việc.”

Tuy thế, tình trạng tê liệt gây ra bởi trầm cảm có thể biến những việc siêu nhỏ thành việc siêu to. Điều này dễ thấy nhất là ngay trong nhà chúng ta, bọn quần áo bẩn thì không chịu tự giặt, bọn bát đĩa bẩn thì không chịu tự lết xác vào bếp, bọn quần áo và các kiểu đồ dùng thì cứ nửa đêm tự động nhảy ra khỏi tủ rồi đua nhau nằm ngả ngốn ra giữa sàn.

Giải pháp? Cứ bắt đầu đi, từ đâu cũng được.

Nguyễn Hồng Anh trích dịch từ cuốn Living Well with Depression and Bipolar Disorder (tạm dịch, Sống Tốt với Trầm cảm và Rối loạn Lưỡng cực) © 2006 by John McManamy. Tựa đề bài viết do người dịch bịa ra, hình minh họa cũng do người dịch kiếm ở nơi khác về.

13 điều cần nhớ khi đồng hành với người trầm cảm

  1. Trầm cảm không phải là một lựa chọn

Trầm cảm là một trong những trải nghiệm khó chịu và vô vọng nhất mà một người có thể trải qua. Đôi khi cảm thấy buồn, đôi khi cảm thấy trống rỗng, và đôi khi hoàn toàn chẳng cảm thấy gì cả. Có những lúc trầm cảm có thể khiến cho một người cảm thấy tê liệt cả về tinh thần và thể xác, không thể làm nổi những việc bình thường họ vẫn thích làm hoặc những việc họ biết là họ nên làm. Trầm cảm không phải chỉ là một ngày tồi tệ hay một lúc mang tâm trạng xấu và không phải là một điều có thể “tự nhiên hết” được. Hãy nhớ rằng không có ai lựa chọn bị trầm cảm cả.

  1. Nói những điều như “mọi chuyện sẽ tốt lên thôi,” “bạn chỉ cần ra khỏi nhà thôi,” hoặc “bạn sẽ ổn thôi” là vô nghĩa.

Nói với ai đó những điều này thật dễ dàng bởi vì bạn nghĩ rằng bạn đang đưa ra cho họ một giải pháp hoặc đang chỉ cho họ một cách đơn giản để làm họ cảm thấy khá hơn và giảm bớt nỗi đau cho họ, nhưng những câu nói kiểu này thực ra là rỗng tuyếch, mang tính xúc phạm, và về cơ bản là vô nghĩa.

Nói những câu như thế này với người trầm cảm chỉ càng làm cho họ cảm thấy căng thẳng hơn, khiến họ cảm thấy như thể là họ thiếu năng lực, và như thể là bạn không hiểu những gì mà họ đang phải trải qua nên cứ cố gắng băng một vết thương nghiêm trọng bằng một mẩu băng cầm máu cho một người bị đứt tay. Họ hiểu rằng bạn đang cố gắng giúp họ nhưng nói ra những điều này chỉ càng làm họ cảm thấy tệ hơn. Một cái ôm lặng lẽ sẽ có ích hơn rất nhiều so với việc nói ra những điều tầm thường này.

Thay vào đó, bạn có thể nói:

Tôi ở đây là vì bạn. Tôi tin tưởng vào bạn. Tôi tin rằng bạn mạnh mẽ hơn như thế này và tôi tin rằng bạn có thể vượt qua được chuyện này. Tôi có thể làm gì để giúp bạn? Bạn nghĩ là điều gì sẽ làm bạn cảm thấy dễ chịu hơn?

Hãy tránh việc đưa ra lời khuyên mà thay vào đó hãy cho họ biết rằng bạn ở đó vì họ và hãy hỏi họ những câu hỏi để giúp họ tìm ra điều gì sẽ làm họ cảm thấy khá hơn.

  1. Đôi khi họ sẽ phải đẩy bạn ra xa trước khi họ có thể để bạn lại gần hơn.

Những người trầm cảm thường cảm thấy rất khó chịu với cảm giác rằng họ đang là gánh nặng cho những người khác. Bởi vậy, họ sẽ cô lập bản thân và xua đuổi những người họ cần nhất để thoát khỏi những phiền muộn về việc bệnh trầm cảm của họ đang làm cho những người mà họ yêu quý cảm thấy mệt mỏi. Khi họ trở nên xa cách, chỉ cần cho họ biết rằng bạn vẫn ở đó, nhưng đừng cố ép họ phải gặp gỡ hay nói chuyện về chuyện gì đang xảy ra nếu họ không muốn.

  1. Bạn có quyền cảm thấy bực bội.

Chỉ vì ai đó đang phải chống chọi với trầm cảm không có nghĩa là bạn phải thỏa mãn tất cả các nhu cầu của họ hoặc luôn phải e dè lời ăn tiếng nói và hành động của mình mỗi khi bạn ở bên họ. Những người trầm cảm có nhu cầu được cảm thấy họ được yêu thương và ủng hộ nhưng nếu mọi chuyện bắt đầu tạo ra ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống của bạn thì bạn có quyền thừa nhận điều này và tìm ra những cách để tiếp tục hỗ trợ họ mà không phải hy sinh bản thân mình.

  1. Nói chuyện thẳng thắn và tạo ra những ranh giới là quan trọng.

Trong những giai đoạn khủng hoảng, điều quan trọng là cần phải lùi lại một bước và xem xem bạn có thể giúp người trầm cảm như thế nào trong khi vẫn tiếp tục duy trì những điều tốt đẹp trong cuộc sống của bạn. Hãy kiên nhẫn. Hãy nói chuyện với họ về những lo lắng của bạn và giải thích những ranh giới bạn cần trong mối quan hệ của hai người. Hãy tìm ra những cách thức ổn thỏa cho cả hai người.

  1. Họ có thể dễ dàng bị quá tải.

Thường xuyên kiệt sức là một tác hại phổ biến của trầm cảm. Chỉ riêng việc đi qua được hết một ngày đã có thể là một việc hết sức mệt mỏi và quá tải với người trầm cảm. Họ có thể trông như hoàn toàn bình thường vào một lúc nào đó nhưng ngay sau đó lại cảm thấy rất mệt mỏi và mất hết năng lượng, kể cả khi đêm nào họ cũng ngủ rất nhiều. Điều này có thể dẫn tới việc hủy bỏ các kế hoạch một cách đột ngột, rời các sự kiện sớm, hoặc nói không với tất cả mọi thứ. Hãy nhớ rằng điều này không liên quan gì tới những việc mà bạn đã làm. Đây chỉ là một tác hại thường gặp của việc sống chung với căn bệnh này.

  1. Vấn đề không phải là ở bạn.

Khi bạn có một người thân, bạn bè đang bị trầm cảm, có thể rất khó để hiểu được những gì họ đang phải trải qua và cũng khó để biết được sự buồn rầu của họ bị ảnh hưởng từ mối quan hệ của bạn với họ là như thế nào. Nếu họ cần có không gian riêng hoặc tự dưng trở nên xa cách, đừng tự đổ lỗi cho mình và băn khoăn rằng bạn nên cư xử khác đi để hàn gắn họ. Hãy hiểu rằng, bệnh trầm cảm của họ không phải là vì bạn.

  1. Tránh những đòi hỏi cực đoan.

Nói với một ai đó rằng bạn sẽ chia tay họ hoặc sẽ không nói chuyện với họ nữa nếu họ không khá hơn không phải là một liều thuốc kỳ diệu để giúp họ khỏi bệnh. Họ sẽ không thể đột nhiên trở thành người mà bạn muốn họ trở thành chỉ vì bạn cảm thấy mệt mỏi với những vấn đề của họ. Việc quyết định sẽ rời bỏ ai đó nếu những vấn đề của họ trở nên quá tải với bạn và với mối quan hệ của hai người là quyết định của mỗi cá nhân, nhưng nếu bạn nghĩ rằng đặt ra tình huống lựa chọn cực đoan sẽ giúp họ thoát khỏi trầm cảm thì điều đó là không thực tế và cũng không công bằng.

  1. Không phải lúc nào họ cũng muốn trải qua điều này một mình.

Nhiều người thường cho rằng những người trầm cảm chỉ muốn ở một mình. Mặc dù có những lúc họ muốn có không gian riêng, điều này cũng không có nghĩa là họ muốn hoàn toàn một mình đối diện với những nỗi bất an của mình. Hãy đề nghị lái xe đưa họ tới một nơi nào đó. Hỏi xem họ có muốn uống cà phê hay ăn một bữa ngon không. Những lúc bạn có thể lôi họ ra khỏi cuộc sống thường nhật của họ và hai người có thể kết nối thường rất có ý nghĩa với họ. Hãy đến với họ mà không cần báo trước. Hãy nhắc cho họ rằng họ không phải trải qua điều này một mình.

  1. Đừng cố gắng so sánh trải nghiệm của bạn với trải nghiệm của họ.

Khi một ai đó đang trải qua một giai đoạn khó khăn, chúng ta thường muốn chia sẻ với họ những câu chuyện của chính bản thân mình để họ biết rằng bạn cũng đã trải qua những điều tương tự và có thể hiểu được sự chống chọi hiện tại của họ. Khi bạn nói kiểu như, “à phải, tôi cũng một lần bị trầm cảm…” nó sẽ chỉ làm họ cảm thấy bạn đang thu nhỏ nỗi đau của họ qua lăng kính của mình. Hãy bày tỏ sự cảm thông nhưng đừng làm họ cảm thấy không muốn bộc lộ cảm xúc của mình nữa. Điều tốt nhất mà bạn có thể dành cho người bạn của mình là khả năng lắng nghe của bạn. Đó là tất cả những gì họ thực sự cần.

  1. Hỏi bạn của mình là bạn ấy đang cảm thấy như thế nào thì được.

Họ đang thực sự cảm thấy như thế nào và họ đang chống chọi với bệnh trầm cảm của họ ra làm sao? Người trầm cảm thường hay suy nghĩ đến việc tự sát và việc hỏi thẳng họ về việc họ đang tự chăm sóc mình ra sao là hoàn toàn ổn thỏa. Tương tự như vậy là cùng bàn với họ về những biện pháp an toàn cho những trường hợp tình trạng trầm cảm của họ trở nên quá sức chịu đựng.

  1. Lên lịch để dành thời gian cho họ.

Hãy đề nghị mỗi tuần một hoặc hai lần cùng họ tập thể dục, đi chợ, hoặc đi chơi đâu đó. Hãy hỏi họ xem bạn có thể nấu nướng cùng họ được không. Một trong những việc khó khăn nhất trong những đợt trầm cảm là cảm thấy quá mệt mỏi để có thể nấu được những bữa ăn tử tế, bởi vậy nếu bạn có thể nấu cho họ một thứ gì đó mà họ có thể để trong tủ lạnh ăn dần thì điều đó thực sự hữu ích.

  1. Chỉ vì ai đó bị trầm cảm không có nghĩa là họ yếu đuối.

Trong cuốn sách Against Happiness: In Praise Of Melancholia (tạm dịch, Chống lại Hạnh phúc: Ngợi ca bệnh U sầu), tác giả Eric G. Wilson khám phá những tầng sâu của nỗi buồn và việc trải nghiệm đau đớn về tinh thần có thể khiến chúng ta trở nên biết cảm thông và sáng tạo hơn. Mặc dù tác giả giải thích rằng có sự khác biệt giữa trầm cảm (depression) và bệnh u sầu (melancholia), anh phản đối việc xã hội và nền văn hóa [Mỹ] cứ bị ám ảnh với ý tưởng về hạnh phúc được thổi phồng lên, và thay vào đó giải thích tại sao chúng ta có thể rút ra những điều có ích từ những khoảnh khắc đen tối trong cuộc đời. Wilson viết:

“Tôi là một người e ngại rằng sự nhấn mạnh thái quá của nền văn hóa Mỹ vào hạnh phúc mà bỏ qua đau buồn có thể là một điều nguy hiểm, một sự cố tình lãng quên rất ngớ ngẩn về một phần thiết yếu của một cuộc sống tròn đầy. Hơn thế nữa, tôi còn thấy phải cảnh giác về khả năng này: khao khát chỉ có hạnh phúc trong một thế giới mà không phải nghi ngờ gì là khá bi thảm cũng đồng nghĩa với việc trở nên không thành thật, theo đuổi những điều mơ hồ không thực tế mà bỏ qua những tình huống thực trong cuộc sống. Và cuối cùng, tôi cảm thấy sợ trước những nỗ lực của xã hội chúng ta để tẩy bỏ đi bệnh u sầu ra khỏi hệ thống. Không có những bấn loạn của linh hồn, liệu tất cả những tòa tháp ham muốn tuyệt đẹp của chúng ta có đổ nhào hết không? Liệu những bản giao hưởng xé lòng của chúng ta có ngừng lại hết không?” 

Tương tự, Tiến sĩ Neel Burton, một nhà tâm thần học và một triết gia, nói chuyện trên Tedx vì sao một số người quan trọng và có ảnh hưởng bậc nhất trong lịch sử nhân loại đã trải qua căn bệnh trầm cảm. Anh giải thích cách thức mà nền văn hóa của chúng ta nhìn vào và ứng xử với bệnh trầm cảm và các xã hội truyền thống tiếp cận điều này theo những cách khác như thế nào, nhìn nhận những buồn khổ của nhân loại như một chỉ số về nhu cầu chú ý tới những vấn đề quan trọng trong cuộc sống chứ không phải như một dạng bệnh tâm thần.

Điều quan trọng cần nhớ là trầm cảm không phải là một điều đáng xấu hổ và trải qua trầm cảm không làm cho một người trở thành yếu đuối hay thiếu năng lực.

Nguyễn Hồng Anh dịch từ bài gốc tiếng Anh của Koty Neelis. Tác giả có anh trai đã tự tử vì trầm cảm. Sau cái chết của anh mình, Koty đã dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu nghiêm túc và cẩn thận hơn về căn bệnh này. Câu chuyện về người anh trai được chia sẻ tại đây

Bài liên quan trên blog: Một con mèo đã làm bạn trai tôi bớt trầm cảm như nào  (Bài dịch)

Nỗi đau nào cho ai

Ngày tôi bị trầm cảm nhiều người xung quanh biết vì tôi không cảm thấy chuyện ấy có gì đáng giấu. Tôi loay hoay muốn cứu lấy chính mình nên rất hay nói chuyện với bạn bè (dĩ nhiên ở các mức độ khác nhau), đến mức thấy phát chán vì mình cứ nói đi nói lại một câu chuyện mà không biết đường ra ở đâu. Sau khi biết chuyện của tôi, khá nhiều người (bằng tuổi và lớn tuổi hơn tôi rất nhiều, tầm tuổi cha mẹ tôi nữa) tiết lộ cho tôi biết họ đã từng trầm cảm, đã từng nghĩ đến tự sát, và thậm chí có những người tiết lộ họ cũng đang đi điều trị trầm cảm giống tôi. Ở ngoài nhìn vào, họ hoàn toàn bình thường. Họ cố gắng gồng mình lên để làm một người bình thường. Ngày ấy một cô bạn của tôi cũng rối loạn cảm xúc, nhiều cái giống tôi, mà tôi khuyên cô ấy thử đi điều trị tâm lý nhưng cô ấy nhất quyết không chịu vì cho rằng cô ấy nhất định phải mạnh mẽ, phải tự mình vượt qua chuyện đó chứ không yếu đuối dựa dẫm vào ai cả (nhờ Trời, sau ấy cô ấy tự vượt qua được thật).

Bản thân tôi cuối cùng cũng vượt qua được những ngày tháng đó, một phần nhờ việc quyết định buông bỏ những gì đã khiến tôi suy nghĩ quá nhiều, quá rối, và quá bế tắc. Giữa những ngày sau khi đã vượt qua được khó khăn lớn nhất – thi tốt nghiệp (sau khi đã bỏ dở đề tài nghiên cứu) – tôi đang thu xếp mọi thứ để về nước thì nhận được điện thoại của một cô bé, tạm gọi là A. A. xin tôi một lời khuyên vì cô bé ấy cũng rất bế tắc với cuộc đời mình. Tôi khuyên cô bé ấy nếu không chịu đựng được thì nên buông bỏ mọi thứ và trở về với gia đình, bởi vì không có gì quan trọng với bố mẹ cô ấy hơn chính bản thân cô ấy – bản thân cô ấy chứ không phải là những gì cô ấy khoác lên người.

Chúng tôi đã nói chuyện khá lâu và kết thúc thì cô bé ấy vẫn khá rối vì A. không buông bỏ được mọi thứ dễ dàng như tôi. Cũng rất dễ hiểu, tôi khi ấy đang học thạc sỹ và A. thì đang học đại học. Người ta có thể sống mà không cần cái bằng thạc sỹ nhưng ra đời thiếu một cái bằng đại học là khá khó khăn. Thực ra chúng tôi cũng đã nói về khả năng A. trở về Việt Nam để lấy một tấm bằng ở nhà, nhưng sau khi gia đình A. cũng khá vất vả để cô ấy được sang Mỹ học, bản thân cô bé cũng trải qua – đúng hơn là vượt qua – những ngày tháng rất lận đận khi mới sang Mỹ để đến được cái ngày mà cô bé nói chuyện với tôi, thì việc buông bỏ lại càng khó khăn.

Sau cuộc điện thoại ấy, tôi lại loay hoay thu xếp lại cuộc đời mình, bẵng đi một thời gian sau mới nhớ ra đi hỏi thăm bạn bè về cô bé ấy. Khi ấy, A. đã về Việt Nam sau một đợt phải vào viện cấp cứu vì suy nhược nghiêm trọng. Tôi không biết chính xác “suy nhược nghiêm trọng” ấy là gì, và tôi cũng mất liên lạc với A. nên không biết được sau này cô bé ấy sống như thế nào. Nhưng tôi mong là em được sống an lành hơn, nhiều may mắn hơn. Ở tuổi của em mà phải gánh chịu nhiều thứ phức tạp như những gì em đã trải qua (mà tôi biết) thì quả thực rất quá sức chịu đựng của một con người. Tôi đến bây giờ vẫn nhớ nụ cười của em. Ngày ấy em vẫn như một đứa trẻ trước cuộc đời. Ngày em mới đến, chúng tôi đã ngỡ cuộc đời em sau những sóng gió cuối cùng đã cập bến an bình. Vậy mà cuộc đời vẫn rất nhẫn tâm.

A. hay vẽ. Một lần tôi bảo với em là biết vẽ thì thích thật, tiếc là tôi không biết vẽ. A. bảo, chẳng thích đâu chị ơi. Những lúc “tự kỷ” nhất là những lúc em vẽ. Vẽ ra những nỗi buồn của mình. Lần đầu tiên tôi biết nhìn thấy mặt bên kia của nghệ thuật, mặc dù chính tôi ngày ấy (và nhiều lúc khác trong cuộc đời) cũng viết ra không biết bao nhiêu là thơ cho vợi bớt đau buồn. Khác với những dòng văn xuôi viết ở đây, thơ tôi giữ cho riêng mình nhiều hơn vì đa phần là rất buồn. Một số bài còn nhắc đến cái chết, đã từng đưa lên mạng, nay lại xóa đi để đỡ góp phần nhấn chìm người khác vào nỗi tuyệt vọng.

Cách đây mấy ngày, tôi tự dưng muốn nghe Starry Starry Night do Nana Mouskouri hát (Don McLean sáng tác năm 1971, tên chính thức của bài hát là Vincent). Bài hát ấy rất tha thiết, nhưng buồn. Sau khi nghe nhiều lần, tôi bắt đầu lục tìm lyrics để đọc (khi nghe nhạc, tôi chủ yếu là nghe nhạc – melody – chứ lời câu nào lọt vào tai thì vào). Từ cái lyrics ấy tôi đi lần mò giải nghĩa và được biết rằng đó là một bài hát viết về những năm sáng tác tranh của Vincent Van Gogh. Từ ấy tôi lại lần mò đọc về cuộc đời của Van Gogh. Một cuộc đời rất buồn. Đáng buồn nhất là Van Gogh đã để lại cho nhân loại những kiệt tác như thể được rút ra từ từng tế bào của mình trong nỗi cô đơn cùng cực.

Van Gogh bị nghi là tự sát năm 37 tuổi (đến giờ vẫn không đủ bằng chứng). Trong cuộc đời ngắn ngủi ấy ông vẽ tranh được chừng mười năm. Một số tác phẩm nổi tiếng nhất của ông được vẽ ra vào những năm cuối đời, khi ông đang ở trong một bệnh viện tâm thần với khá nhiều chẩn đoán – nghĩa là có thể mắc khá nhiều chứng bệnh (trong đó có tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực). Việc ông thường xuyên nghe thấy những tiếng nói ảo giác được nhiều trang web ghi chép lại. Van Gogh đã sống một cuộc đời rất cô đơn, dù có một người em trai rất gần gũi và hết lòng với ông. Theo Van Gogh là người đã hỗ trợ chính về tài chính cũng như động viên tinh thần cho Vincent Van Gogh trong suốt cuộc đời của người họa sĩ. Sáu tháng sau cái chết của Vincent, Theo cũng ra đi, ở tuổi 33, và họ được chôn cạnh nhau.

Hai ngày nữa là đến ngày mất của Vincent Van Gogh (29/7). Ban đầu tôi đã định đến đúng ngày ấy sẽ viết riêng một hoặc vài bài cho cuộc đời buồn thảm của ông, nhưng tôi sợ viết ra tôi sẽ trầm cảm mất, vì mới mấy ngày hôm trước tôi đã viết một bài về Amy Winehouse. Bài ấy tôi cố gắng viết cho tích cực, nhưng đọc lại tôi lại cảm thấy mình như đang bơi trong tuyệt vọng để thoát ra khỏi những xót thương cho cuộc đời của cô ca sĩ đã viết ra và hát lên những giai điệu, những lời ca buồn thảm nhất mà tôi đã từng được nghe trong cuộc đời mình.

Tôi cảm thấy cuộc đời có những nỗi đau rất giống nhau. Tôi tìm thấy chính mình trong những nỗi đau của những người khác. Nửa đêm giật mình thức giấc vì một cơn ác mộng, chẳng biết phải làm gì, tôi bật đèn sáng và viết về những nỗi đau.

Hà Nội, 5h13′ sáng ngày 27 tháng 07 năm 2015.

Vincent do Don McLean hát ở đây.
Vincent do Josh Groban hát ở đây.

(Cập nhật ngày 29/07/2015, 125 năm ngày mất của Vincent Van Gogh)